Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2009 đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 46

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ NHƢ TÙNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 –

9Đ N

CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm

15


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ NHƢ TÙNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 –

9Đ N


5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................ 4
6. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu ........................................................... 4
7. Tổng quan tài liệu ................................................................................... 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUY T VỀ CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN
VÀ ĐO LƢỜNG CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN....................................... 10
1.1. KIỂM TOÁN......................................................................................................... 10
1.2 . CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN............................................................................ 10
1.2.1. Định nghĩa chất lƣợng kiểm toán .................................................... 10
1.2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán ........................... 12
1.2.3. Mối quan hệ giữa chất lƣợng kiểm toán và chất lƣợng báo cáo tài
chính ....................................................................................................... 16
1.2.4. Đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán ...................................................... 18
1.3. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 –2009…. . 32
1.3.1. Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 ................ 32
1.3.2. Ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới Việt Nam ...... 34
CHƢƠNG . GIẢ THU

T VÀ PHƢƠNG PH P NGHI N CỨU ....... 38

2.1. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ........................................................................... 38
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................................................... 39
2.2.1. Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu .................................. 39
2.2.2. Đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán .................................................... 41
2.2.3. Mô hình nghiên cứu ...................................................................... 45


CHƢƠNG 3. PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY K T QUẢ ......................... 51
3.1. PHÂN TÍCH .......................................................................................................... 51
3.1.1. Tính toán các biến ......................................................................... 51
3.1.2. Kết quả phân tích .......................................................................... 56


DA

Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh

GFC

Khủng hoảng tài chính toàn cầu
Nhóm các công ty kiểm toán không thuộc nhóm BIG 4:

Non BIG 4

KPMG, PricewaterhouseCoopers (PWC), Deloitte Touche
Tohmatsu (D&T), Ernst and Young (E&Y)


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Bảng tổng hợp các biến trong mô hình

48



Bảng 3.6

Bảng tổng hợp kết quả hồi quy

61

Bảng 3.7

Bảng tổng hợp kết quả hồi quy sau khi loại trừ các biến
không phù hợp trong mô hình

63


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán là một chủ đề nghiên cứu rộng và đƣợc nhiều đối tƣợng quan
tâm vì tính chất vô cùng quan trọng của vấn đề này đối với nhiều đối tƣợng,
bao gồm: nhà đầu tƣ, các tổ chức tài ch nh, ngân hàng, các cơ quan ch nh
phủ… Kiểm toán quan trọng vì nó là cách thức hiệu quả nhất để giải quyết
vấn đề đại diện giữa quyền sở hữu và quản lý doanh nghiệp, phát sinh từ sự
bất đối xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa hai đối tƣợng trên. Trong các
nội dung rộng lớn của kiểm toán thì chất lƣợng kiểm toán là một vấn đề phức
tạp, khó khăn để xác định và đo lƣờng một cách chính xác và hiệu quả.
Nghiên cứu chất lƣợng kiểm toán có ý nghĩa quan trọng không chỉ đánh giá
xem các ý kiến kiểm toán ch nh xác có đƣợc ban hành hay không mà còn xem
xét xem liệu hoạt động kiểm toán đƣợc tiến hành có nhằm hƣớng tới mục đ ch

2007, Việt Nam luôn đƣợc coi là một trong những đầu tàu tăng trƣởng của
nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trƣởng bình quân cả giai đoạn đạt 7.8%,
đã suy giảm xuống mức 6.18% vào năm 2008 và 5.32 % vào năm 2009. Xuất
khẩu vốn là động lực của nền kinh tế Việt Nam chịu thiệt hại nghiêm trọng
trong bối cảnh khó khăn, suy giảm chi tiêu của thị trƣờng toàn cầu trong
khủng hoảng tài chính. Đi kèm với khủng hoảng là lạm phát bùng nổ trong
nƣớc vào đầu năm 2008, sức mua yếu kém của thị trƣởng nội địa trong nƣớc
càng đẩy nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009 chìm sâu vào những
khó khăn. Thị trƣờng chứng khoán Việt Nam suy giảm nghiêm trọng với chỉ
số VN – Index giảm 65.95%, chỉ số HASTC – Index (HNX – Index hiện nay)
suy giảm 67.1% trong năm 2008 và tiếp tục suy giảm và chạm đáy vào quý 1
năm 2009. Điều này cho thấy tác động to lớn của GFC đối với các doanh
nghiệp tại Việt Nam; đồng thời GFC cũng đặt ra những áp lực to lớn tƣơng tự
đối với kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong việc duy trì chất lƣợng kiểm
toán trong bối cảnh khó khăn tác động chung tới các doanh nghiệp tại Việt
Nam. Câu hỏi đƣợc đặt ra rằng liệu các công ty kiểm toán, các kiểm toán viên
tại Việt Nam ứng xử nhƣ thế nào trong khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác


3
động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lƣợng kiểm toán tại Việt
Nam.
Từ những vấn đề nêu trên, nhận thấy thực tiễn cần có một nghiên cứu về
ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lƣợng kiểm toán
tại Việt Nam, mà cụ thể hơn là chất lƣợng kiểm toán báo cáo tài chính đối với
các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong khủng
hoảng tài chính, tác giả xin đƣợc thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 –

đến

+ Về thời gian: Nghiên cứu đƣợc thực hiện dựa trên báo cáo tài ch nh đã
đƣợc kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
trong giai đoạn 2005 – 2009.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đi theo hƣớng tiếp cận thực chứng bằng cách sử dụng mô hình
hồi quy tuyến tính đa biến nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu. Nghiên
cứu đầu tiên đƣợc thực hiện bằng việc đƣa ra giả thuyết nghiên cứu, sau đó
tiến hành thu thập số liệu báo cáo tài chính sau kiểm toán, báo cáo kiểm toán
trong phạm vi đối tƣợng và thời gian nghiên cứu. Tiếp theo, tác giả tiến hành
tính toán các dữ liệu thu thập đƣợc và phân tích, mô tả mối quan hệ giữa các
đối tƣợng trong mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu tính toán, thu thập.
Kết quả phân tích, mô tả này sẽ đƣợc sử dụng để đƣa ra kết luận về giả thuyết
nghiên cứu.
6. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp các đối tƣợng sử dụng thông tin trên báo cáo tài
chính tại Việt Nam, bao gồm: Nhà đầu tƣ, cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức tài
ch nh, ngân hàng, … nhận rõ đƣợc tác động của khủng hoảng tài chính toàn
cầu tới chất lƣợng kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp. Qua đó, giúp
nhà đầu tƣ, ngân hàng, các tổ chức tài chính sử dụng thông tin tài ch nh đƣợc
cung cấp từ báo cáo tài chính một cách phù hợp hơn, góp phần tăng hiệu quả


5
phân phối nguồn lực tài chính, kinh tế tới các doanh nghiệp, góp phần hạn chế
ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính tới bản thân nhà đầu tƣ, tổ chức tài
ch nh, ngân hàng; giúp cho các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức nghề nghiệp liên
quan có cơ sở để kiện toàn các ch nh sách, văn bản, quy định nghề nghiệp liên
quan tới kế toán, kiểm toán nhằm hạn chế ảnh hƣởng của khủng hoảng tài
chính tới tính trong sạch, lành mạnh của thông tin trên thị trƣờng, góp phần
giúp nền kinh tế vững mạnh, hạn chế ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính

này và tƣơng tự vậy, còn nhiều khác biệt không thống nhất về cách thức đo
lƣờng chất lƣợng kiểm toán báo cáo tài chính. Nhiều nghiên cứu sử dụng các
phép đo khác nhau để đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán; bao gồm: Sai sót trọng
yếu, ý kiến kiểm toán, đánh giá của ngƣời sử dụng thông tin và phép đo đƣợc
nhiều nghiên cứu chia sẽ, đồng thuận và đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này
đó là phép đo dựa trên đo lƣờng chất lƣợng lợi nhuận theo biến kế toán dồn
t ch. Phép đo này đƣợc ủng hộ bởi Defond và Zhang (2013) khi cho rằng chất
lƣợng lợi nhuận là đại diện phù hợp cho chất lƣợng báo cáo tài chính và mục
tiêu cuối cùng của kiểm toán là ngăn ngừa nhà quản lý đƣa ra các báo cáo lợi
nhuận tốt hơn thực tế [17]. Và chất lƣợng kiểm toán đối với khoản mục chất
lƣợng lợi nhuận thƣờng đƣợc đo lƣờng bằng biến kế toán dồn tích có thể điều
chỉnh (Defond và Zhang, 2013) [17]. Hai nhà nghiên cứu chỉ ra ƣu điểm của
phép đo này mà nhiều phép đo khác không có đƣợc và tác giả cũng đồng ý và
cho rằng phù hợp với nghiên cứu này đó là: Đây là một phép đo liên tục nên
nó biểu diễn đƣợc những thay đổi nhỏ trong chất lƣợng kiểm toán kể cả xảy
ra trong giới hạn chuẩn mực kế toán đƣợc áp dụng [17]. Nhiều nghiên cứu
khác cũng sử dụng chất lƣợng lợi nhuận đƣợc đo lƣờng theo biến kế toán dồn
tích có thể điều chỉnh DA để đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán báo cáo tài chính
đã đƣợc tiến hành, bao gồm: Balsam (2003), Carey và Simnett (2006), Francis
and Yu (2009), Choi (2010), Francis (2011), Gunny và Zhang (2012), Svanstrom


7
(2013) (Jueming Bing, Chu, X.H , Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) ... là một trong
những cơ sở chứng minh rằng phép đo này là phù hợp để đo lƣờng chất lƣợng
kiểm toán báo cáo tài chính [24]. Mặt khác phép đo này phù hợp với cỡ mẫu
nhỏ và một khung thời gian ngắn (Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) nên tác
giả cho rằng phép đo này là hoàn toàn phù hợp để áp dụng trong nghiên cứu
này để đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán [32].
Nhiều mô hình đƣợc nghiên cứu để đo lƣờng biến kế toán dồn tích có thể

đoạn khủng hoảng hay chất lƣợng kiểm toán tăng lên trong giai đoạn khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Sotheara Riel và Carl Tano (2014) cho rằng trong
giai đoạn khủng hoảng chất lƣợng kiểm toán tăng lên bởi sự thận trọng của
các kiểm toán viên khi đối phó với các rủi ro từ khủng hoảng tài chính [32].
Tác giả cho rằng kết quả nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano không
thể áp dụng để đƣa ra kết luận tƣơng tự tại Việt Nam vì nghiên cứu của
Sotheara Riel và Carl Tano dựa vào cơ sở dữ liệu tại Thụy Điển là một nƣớc
phát triển với các doanh nghiệp kiểm toán lâu đời và khuôn khổ chính sách,
chuẩn mực kế toán, kiểm toán của nƣớc này là hoàn thiện hơn so với Việt
Nam là một nền kinh tế đang phát triển và hệ thống chính sách, chuẩn mực kế
toán, kiểm toán còn chƣa hoàn thiện, còn vay mƣợn nhiều các chính sách trên
thế giới. Do đó cách thức ứng xử hay hành vi của các công ty kiểm toán, công
ty niêm yết trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể khác nhau
giữa hai nƣớc. Vì vậy tác giả cho rằng không thể sử dụng kết quả nghiên cứu
của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) để đƣa ra kết luận trong nghiên cứu về
vấn đề tƣơng tự trong bối cảnh tại Việt Nam đƣợc.
Kế thừa và phát huy các nghiên cứu trƣớc đó về chất lƣợng kiểm toán,
tác giả quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hƣởng của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 tới chất lƣợng kiểm toán báo
cáo tài chính các công ty niêm yết tại Việt Nam”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm


9
tìm hiểu xem liệu chất lƣợng kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam chịu
tác động nhƣ thế nào trong khủng hoảng tài chính toàn cầu và tập trung
nghiên cứu chất lƣợng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại
Việt Nam. Những nghiên cứu trên mà tác giả đề cập là cơ sở lý thuyết và thực
tiễn quan trọng để thực hiện đề tài này.



11
không phải dễ dàng để định nghĩa chất lƣợng kiểm toán bởi vì nó là một khái
niệm phức tạp và một định nghĩa đơn giản là không đủ [19].
Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực
Kiểm toán Quốc tế số 220 (IAS 220): “Chất lƣợng kiểm toán là mức độ thỏa
mãn về t nh khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối
tƣợng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thỏa mãn về mong muốn có
những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế
toán của đơn vị đƣợc kiểm toán với thời gian định trƣớc và giá phí thích hợp”.
DeAngelo (1981) xem chất lƣợng kiểm toán nhƣ sự đánh giá của thị trƣờng
về khả năng kiểm toán viên phát hiện các hành vi vi phạm của khách hàng và
báo cáo các vi phạm này [16].
Defond và Zhang (2013) cho rằng những định nghĩa trên xem kiểm toán
nhƣ một quá trình chỉ gồm hai chức năng ch nh là kiểm tra và báo cáo các
hành vi vi phạm chuẩn mực kế toán và để đạt đƣợc chất lƣợng kiểm toán cao
thì kiểm toán viên không chỉ xem xét sự phù hợp giữa báo cáo tài chính với
chuẩn mực kế toán mà còn xem xét xem liệu báo cáo tài chính có phản ánh
thực tế tình hình kinh tế của doanh nghiệp hay không [17]. Do đó, Defond và
Zhang (2013) định nghĩa chất lƣợng kiểm toán là sự phản ánh liên kết giữa
kiểm toán với chất lƣợng báo cáo tài chính, hệ thống kế toán tài chính và các
đặc điểm vốn có của khách hàng và chất lƣợng kiểm toán cao hơn là một sự
đảm bảo cao hơn rằng báo cáo tài chính đã kiểm toán phản ánh thực tế tình
hình hoạt động kinh tế, hệ thống kế toán tài ch nh, đặc điểm vốn có của công
ty [17]. Quan điểm của Defond và Zhang là quan điểm mà tác giả ủng hộ và
là đặt làm cơ sở cho phát triển nghiên cứu này.
Quan điểm pháp lý về chất lƣợng kiểm toán liên quan đến việc phát hành
báo cáo kiểm toán thích hợp cho báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán
Mỹ (GAAP) cho rằng chất lƣợng kiểm toán là một biến nhị phân khi chất



13
dịch vụ phi kiểm toán cho Enron và điều đó có ý nghĩa rằng các kiểm toán
viên có một động cơ tài ch nh to lớn để đứng về phía lợi ích của nhà quản lý
và che dấu các thông tin tài chính trọng yếu liên quan đến trách nhiệm pháp lý
bổ sung và không đề cập chúng trong các báo cáo thƣờng niên [33]. Tuy
nhiên các nghiên cứu của Svanstrom (2013) lại cho thấy sự gia tăng chất
lƣợng kiểm toán khi gia tăng thực hiện các dịch vụ phi kiểm toán cho khách
hàng [31]. Antle (2006) cũng đồng quan điểm với Svanstrom khi tìm thấy tác
động của việc thu thập kiến thức lớn từ việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm
toán cho cùng một khách hàng [7]. Các quan điểm của Svanstrom và Antle
cũng đồng thời đƣợc các công ty kiểm toán lớn ủng hộ. Tác động làm suy
giảm hay gia tăng chất lƣợng kiểm toán khi thực hiện dịch vụ phi kiểm toán
đồng thời với dịch vụ kiểm toán do đó còn nhiều tranh cãi.
c. Khuôn khổ pháp lý
Francis (2011) cho rằng các cơ chế đƣợc thiết lập, trong đó có khuôn khổ
pháp lý mà các hoạt động kiểm toán đƣợc thực hiện có thể ảnh hƣởng đến
chất lƣợng kiểm toán [19]. Theo Francis thì các khuôn khổ pháp lý có ảnh
hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán khi xem xét định nghĩa một thất bại kiểm
toán hay một cuộc kiểm toán kém chất lƣợng là nhƣ thế nào và kết quả của sự
yếu kém này là gì, ai, cơ quan nào phải hành động khi các xảy ra các trƣờng
hợp chất lƣợng kiểm toán kém [19]. Yếu tố khác mà Francis cũng đề cập đó
là thị trƣờng kiểm toán và ngành nghề kiểm toán mà tại đó hoạt động kế toán
và công ty kiểm toán đƣợc thiết lập [19].
d. Văn phòng thực hiện kiểm toán
Sự khác nhau về quốc gia, khu vực, thành phố của các văn phòng kiểm
toán là một cơ sở dẫn đến chất lƣợng kiểm toán khác nhau; bất kể rằng các
văn phòng này cùng thuộc một công ty kiểm toán (Sundgren và Svanstrom,
2012, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [17]. Nghiên cứu đƣợc



15
cuộc kiện tụng [16]. Francis và Wilson (1988) cũng ủng hộ quan điểm của
DeAngelo với lập luận rằng các công ty kiểm toán lớn đã xây dựng đƣợc
thƣơng hiệu trong thời gian dài vì vậy họ có xu hƣớng cung cấp chất lƣợng
kiểm toán cao hơn các công ty nhỏ [20].
h. Quy mô khách hàng
Reynolds và Francis (2001) cho rằng kiểm toán viên có thể thỏa hiệp
t nh độc lập của mình trong quan hệ với các khách hàng lớn mà họ phụ thuộc
kinh tế [29]. Bên cạnh đó, các khách hàng lớn có rủi ro tiềm tàng cao hơn đối
với các kiểm toán viên và công ty kiểm toán (Reynolds & Francis, 2001) [19].
Công ty kiểm có nguy cơ bị mất uy t n và đối mặt với nguy cơ kiện tụng lớn
hơn và kiểm toán viên phải đối mặt với nguy cơ bị xử phạt cao hơn khi không
thực hiện đúng các dịch vụ kiểm toán cho các khách hàng lớn hơn là các công
ty nhỏ (Shafer, 1999, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32].
Điều đó chứng tỏ quy mô khách hàng tác động theo cả hai hƣớng đến chất
lƣợng kiểm toán.
i.Các yếu tố khác
Nghiên cứu của Madhogarhia (2009) cho rằng các công ty tăng trƣởng
cao thì chất lƣợng kiểm toán của các công ty này thƣờng thấp hơn với mức độ
dồn tích kế toán cao hơn bình thƣờng [27]. Tuy nhiên, Manry (2008) trong
nghiên cứu của mình nhận thấy không có mối liên hệ giữa các công ty tăng
trƣởng cao và chất lƣợng kiểm toán [28].
Để có một quá trình kiểm toán đạt chất lƣợng cao thì yêu cầu kiểm toán
viên phải có năng lực và phán đoán nghề nghiệp tốt. Theo Smith và Kida
(1991, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014), kiểm toán viên có
trình độ cao về chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp với xu hƣớng ít sai
lệch hơn [32]. Ngoài ra một nghiên cứu về quỹ thời gian kiểm toán của kiểm


16

Xinyi Zhu, 2014) [24]. Balsam (2003, trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H,
Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại mối quan hệ thuận giữa chất
lƣợng kiểm toán và chất lƣợng báo cáo tài ch nh đƣợc đo lƣờng bằng chất
lƣợng lợi nhuận [24]. Nếu chất lƣợng lợi nhuận là cao, tính thông tin và hữu
dụng của lợi nhuận sẽ mang tính phù hợp cao hơn. Các nghiên cứu gần đây
đồng ý rằng chất lƣợng kiểm toán là chất lƣợng lợi nhuận của báo cáo tài
ch nh đã đƣợc kiểm toán (Francis, 2011) [19]. Nhiều nghiên cứu sử dụng chất
lƣợng báo cáo tài ch nh đo lƣờng bằng chất lƣợng lợi nhuận làm đại diện cho
chất lƣợng kiểm toán bao gồm: Balsam (2003), Carey và Simnett (2006),
Francis and Yu (2009), Choi (2010), Francis (2011), Gunny và Zhang (2012),
Svanstrom (2013) (Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014)
[24]…
b. Chất lượng lợi nhuận
Chất lƣợng lợi nhuận có đƣợc khi báo cáo lợi nhuận đảm bảo cung cấp
thông tin trung thực về chỉ tiêu lợi nhuận cũng nhƣ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Koh (2013; trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li,
Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại hệ thống khen thƣởng cho nhà quản lý dựa
vào việc liệu công ty có đạt đƣợc hay vƣợt qua mục tiêu lợi nhuận đặt ra
không [24]. Do đó có một khả năng rõ ràng rằng các nhà quản lý có động lực
để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận. Francis and Yu (2009, trích dẫn bởi
Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) công bố kết quả nghiên
cứu rằng có một tỷ lệ cao bất thƣờng các công ty vừa đủ mức đạt mục tiêu lợi
nhuận và một tỷ lệ thấp bất thƣờng các công ty gần đạt mức mức chỉ tiêu lợi
nhuận và Francis and Yu (2009) cũng cho rằng đây là bằng chứng cho việc
các công ty đang thực hiện quản trị lợi nhuận, điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt
mục tiêu lợi nhuận đề ra [24]. Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu
(2014) cho rằng chất lƣợng kiểm toán là cao nếu không có việc điều chỉnh lợi


18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status