Quản lý nhà nước đối với các doang nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố ĐÀ NẴNG. - Pdf 46

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN ĐÌNH THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN ĐÌNH THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU
TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI .................................................................... 19
1.2.1. Khái niệm QLNN......................................................................... 19
1.2.2. Vai trò của QLNN đối với DNFDI .............................................. 20
1.2.3. Chức năng chính của QLNN đối với DNFDI .............................. 21
1.2.4. Đối tƣợng, phạm vi của QLNN đối với các DNFDI ................... 22
1.3. NỘI DUNG CỦA QLNN ĐỐI VỚI CÁC DNFDI................................... 25
1.3.1. Xây dựng chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch................................. 25
1.3.2. Ban hành các cơ chế, chính sách và pháp luật............................. 28
1.3.3. Thẩm định, cấp và điều chỉnh giấy phép đầu tƣ .......................... 30


1.3.4. Thanh tra, kiểm tra và giám sát ................................................... 32
1.4. KINH NGHIỆM QLNN ĐỐI VỚI CÁC DNFDI CỦA MỘT SỐ NƢỚC,
CÁC ĐỊA PHƢƠNG........................................................................................ 33
1.4.1. Kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới ................................ 33
1.4.2. Kinh nghiệm của các địa phƣơng ở Việt Nam ............................ 35
1.4.3. Những bài học có thể áp dụng vào thực tiễn của Đà Nẵng ......... 38
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................. 39
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ................................................ 40
2.1. TÌNH HÌNH DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC
NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .................................... 40
2.1.1. Tình hình DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng .................... 40
2.1.2. Đánh giá DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ..................... 49
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................... 57
2.2.1. Tình hình QLNN đối với các DNFDI tại thành phố Đà Nẵng .... 57

3.2.5. Đầu tƣ xây dựng lại đội ngũ CBCC chuyên quản lý nhà nƣớc về
DNFDI .............................................................................................................. 86
3.2.6. Đổi mới công tác quản lý các khu công nghiệp FDI ................... 86
3.3. KIẾN NGHỊ .............................................................................................. 87
3.3.1. Đối với Quốc hội ......................................................................... 87
3.3.2. Đối với Chính phủ ....................................................................... 87


3.3.3. Đối với các cơ quan QLNN theo ngành và lĩnh vực ở Trung ƣơng...... 88
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................. 89
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC

: Cán bộ công chức

CN&XD

: Công nghiệp và Xây dựng

DN

: Doanh nghiệp

DNFDI


OECD

: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

ODA

: Hỗ trợ phát triển chính thức

QLNN

: Quản lý nhà nƣớc

SXKD

: Sản xuất kinh doanh

TW

: Trung ƣơng

UBND

: Ủy ban nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG


44

đầu tƣ (tính đến 31/12/2014)
2.5.

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNFDI

46

2.6.

Giá trị đóng góp cho NSNN của các DNFDI Đà Nẵng

47

2.7.

Đóng góp vào vốn đầu tƣ phát triển toàn thành phố của

48

DNFDI
2.8.

Cơ cấu vốn FDI của Đà Nẵng (tính đến 31/12/2014)

48



hơn, góp phần vào phát triển KT-XH của thành phố là một vấn đề cấp bách
cũng là vấn đề cơ bản lâu dài của thành phố Đà Nẵng. Đây cũng là lý do để
tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ
trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn thạc
sĩ ngành Kinh tế phát triển.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm đƣợc những kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về QLNN
đối với các DNFDI có thể giúp các ngành, các cấp làm công tác QLNN đối
với DNFDI của thành phố Đà Nẵng lấy đó làm cơ sở khoa học cho công việc
của mình, từ việc xem lại những việc đã làm để tìm ra ƣu, khuyết điểm, đến
việc nhìn ra hƣớng và cách đổi mới QLNN hiện nay đối với loại hình doanh
nghiệp này.
- Có đƣợc những nhận định, đánh giá có căn cứ lý luận và thực tế về sự
QLNN của các ngành, các cấp ở Đà Nẵng đối với các DNFDI trên địa bàn.
- Có đƣợc những căn cứ lý luận và thực tiễn để từ đó đƣa ra giải pháp
hoàn thiện QLNN của các ngành, các cấp ở Đà Nẵng đối với các DNFDI trên
địa bàn thành phố.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Công tác QLNN của thành phố Đà Nẵng với các DNFDI.
- Đối tƣợng quản lý: DNFDI đang hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Chủ thể quản lý: Nhà nƣớc địa phƣơng cấp tỉnh (thành phố Đà Nẵng).
b. Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi của của nội dung QLNN đối với các DNFDI, luận văn chỉ
nghiên cứu sự QLNN đối với các DNFDI từ khâu thành lập đến khâu thoái lui của
DNFDI, không nghiên cứu sự QLNN ở khâu thu hút FDI và xúc tiến đầu tƣ FDI.
- Về phạm vi chủ thể và đối tƣợng của QLNN đối với các DNFDI, luận


3

sách QLNN đối với FDI tại tỉnh Thái Nguyên. Hạn chế của bài viết là nội
dung về một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với FDI tại Thái
Nguyên tác giả chỉ nêu lên các biện pháp chứ chƣa đi vào từng biện pháp cụ
thể, do vậy chƣa thấy đƣợc sự cần thiết khi áp dụng những biện pháp này.
- Bài viết “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nƣớc đối với
DNFDI ở Hà Nội” của TS. Phan Trung Chinh, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý nhà nƣớc số 141, đăng tháng 10-2007. Bài viết
nêu bật đƣợc những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong QLNN đối với
DNFDI, đề ra định hƣớng phát triển kinh tế có vốn FDI ở Hà Nội trong bối
cảnh hiện nay. Từ đó có những giải pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ
chế QLNN đối với DNFDI ở Hà Nội.
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế với đề tài “Quản lý nhà nƣớc đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại tỉnh Bắc Ninh” của tác
giả Nguyễn Thị Vui (2013) bảo vệ tại Hội đồng khoa học Đại học Kinh tế,
Đại Học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu của tác giả đã phần nào nêu đƣợc cơ
sở lý luận về QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn cấp tỉnh. Tuy nhiên,
chƣa nêu lên đƣợc cơ sở lý luận về sự cần thiết phải QLNN đối với DNFDI.
Ở phần 2, phần thực trạng QLNN đối với DNFDI tại tỉnh Bắc Ninh lại chỉ nêu
lên tình hình hoạt động của DNFDI, chƣa đánh giá đƣợc thực trạng DNFDI
trên địa bàn, đa phần thiêng về thu hút FDI vào địa bàn, phần hoàn thiện
QLNN đối với DNFDI tại tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 đã nêu lên một số biện
pháp hoàn thiện nhƣng còn chung chung do thiếu các căn cứ để hoàn thiện.
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế với đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Phú Thọ” của tác giả
Nguyễn Thị Hải Yến (2012), bảo vệ tại Hội đồng khoa học Trung tâm đào
tạo, bồi dƣỡng giảng viên lý luận chính trị. Ở luận văn này, tác giả đã trình
bày đầy đủ về cơ sở lý luận về DNFDI, tuy nhiện cơ sở lý luận về QLNN đối


5

trạng QLNN đối với DNFDI tại một số địa phƣơng, từ đó đƣa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện QLNN đối với DNFDI tại địa phƣơng đó. Tuy nhiên, thấy
đƣợc những hạn chế trong các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, bài
viết nêu trên và thực tế chƣa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống,
toàn diện và đầy đủ về hệ thống DNFDI, quản lý nhà nƣớc đối với các
DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Tác giả đã định hƣớng, tập trung
nghiên cứu vấn đề này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong luận văn. Luận
văn sẽ khái quát, hệ thống đƣợc cơ sở lý luận về FDI, DNFDI cũng nhƣ
QLNN đối với DNFDI trên địa bàn cấp tỉnh và có đƣợc những phân tích,
đánh giá thực trạng DNFDI, QLNN đối với DNFDI tại thành phố Đà Nẵng.
Trên cơ sở đó, có những căn cứ để đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN đối
với DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đƣa ra đƣợc những giải pháp
cụ thể, thực tế để hoàn thiện QLNN đối với DNFDI trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng trong thời gian đến.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục các bảng
Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng:
- Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
- Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có
vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.


7
CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP

hình thức đầu tƣ nhất định do pháp luật nƣớc sở tại quy định.
Nói cách khác, trong đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, nhà đầu tƣ nƣớc
ngoài sẽ sử dụng vốn, tài sản, kinh nghiệm, uy tín và nhãn hiệu sản phẩm của
mình để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nƣớc sở tại nhằm thu
lợi nhuận và để đạt đƣợc những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Về thực
chất đây là hình thức xuất khẩu vốn, một hình thức cao hơn của xuất khẩu
hàng hoá.
b. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- FDI là hình thức đầu tƣ chủ yếu bằng vốn của tƣ nhân do các chủ đầu
tƣ tự quyết định đầu tƣ, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về lỗ lãi. Đầu tƣ theo hình thức này không để lại gánh nặng nợ nần về
kinh tế cho nƣớc tiếp nhận vốn đầu tƣ, hơn nữa còn đem lại tính khả thi và
hiệu quả kinh tế cao.
- Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài có quyền điều hành toàn bộ hoạt động đầu tƣ
nếu là doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài hoặc tham gia điều hành doanh
nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình, chính tỷ lệ góp vốn sẽ
quyết định việc phân chia quyền lợi và trách nhiệm cũng nhƣ phân chia lợi
nhuận và rủi ro giữa các chủ đầu tƣ.
Đối với hoạt động FDI ở Việt Nam, luật đầu tƣ nƣớc ngoài cho phép chủ
đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc thành lập doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài trong
một số lĩnh vực nhất định và đƣợc tham gia liên doanh với vốn góp không
thấp hơn 30% vốn pháp định của dự án (trong một số trƣờng hợp, tỷ lệ này có


9
thể xuống đến 20%), không khống chế tỷ lệ góp vốn tối đa (trừ một số ngành
nghề có quy định riêng). Trong khi đó ở một số nƣớc khác trong khu vực, khi
tham gia liên doanh, chủ đầu tƣ nƣớc ngoài chỉ đƣợc góp vốn cổ phần nhỏ
hơn hoặc bằng 49%, 51% cổ phần còn lại do nƣớc chủ nhà nắm giữ.
- Thông qua FDI, nƣớc nhận đầu tƣ có thể tiếp nhận đƣợc công nghệ, kỹ

một số chính sách khuyến khích đầu tƣ nƣớc ngoài nhằm vào mục đích tăng
tiềm năng xuất khẩu của một nƣớc. Mặc khác các công ty nƣớc ngoài đƣợc
lựa chọn ngành và địa điểm đầu tƣ cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên trƣờng quốc tế.
+ FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công
nghệ. Xu hƣớng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó
chặc chẽ với nhau. Đây chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lƣu chuyển
vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế.
1.1.2. Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
a. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
DNFDI là doanh nghiệp đƣợc thành lập theo luật pháp nƣớc sở tại.
Trong doanh nghiệp đó có phần vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài là chủ sở hữu phần vốn họ góp vào doanh nghiệp và chịu trách
nhiệm về rủi ro của doanh nghiệp trên số vốn góp đồng thời có quyền tổ chức,
quản lý doanh nghiệp theo vốn góp.
DNFDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên nƣớc ngoài và
có sự quản lý trực tiếp của bên nƣớc ngoài. Doanh nghiệp này hoạt động theo
luật pháp của nƣớc sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu
đƣợc lợi ích cho tất cả các bên [13].
Tại Điều 3 Luật Đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam: DNFDI gồm doanh
nghiệp do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tƣ tại
Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài mua cổ phần,
sáp nhập, mua lại [16].


11
Tuy có rất nhiều cách hiểu, cách quan niệm khác nhau nhƣng có thể hiểu
một cách chung nhất là: DNFDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước
ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ hoặc một phần; trực tiếp quản lý hoặc tham gia
quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu sinh lời

Nam. Phần vốn góp của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài càng cao, thì hoạt động của
DNFDI có thể càng chịu nhiều sự ảnh hƣởng của bên nƣớc ngoài. Mặt khác,
xu hƣớng tự nhiên của DNFDI bao giờ cũng coi lợi nhuận là mục tiêu duy
nhất hàng đầu, trong khi đó, nƣớc chủ nhà lại quan tâm nhiều đến hiệu quả
kinh tế - xã hội, đến sự phát triển tổng thể nền kinh tế. Do vậy, quản lý nhà
nƣớc đối với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phải dung hòa đƣợc hai
lợi ích này, phải cho DNFDI trong khi phục vụ lợi ích của họ cũng đồng thời
phải mang lại lợi ích cho bên Việt Nam nói riêng và Nhà nƣớc Việt Nam nói
chung;
- DNFDI nằm trên lãnh thổ Việt Nam, chịu sự quản lý vĩ mô, chịu ảnh
hƣởng của tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc Việt Nam trên
các phƣơng diện môi trƣờng sinh thái, môi trƣờng chính trị, kinh tế - xã hội...,
đồng thời cũng có tác động trở lại đối với đất nƣớc Việt Nam, có thể tích cực
hoặc tiêu cực, tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động đúng hay chệch hƣớng, hiệu
quả, hay thua lỗ của DN.
- DNFDI hoạt động trong một thời hạn nhất định do Chính phủ nƣớc
Cộng hoà XHCN Việt Nam quyết định đối với từng dự án, thƣờng không quá
50 năm, trƣờng hợp đặc biệt có thể dài hơn nhƣng tối đa không quá 70 năm.
Hết thời hạn qui định, DNFDI phải giải thể hoặc chuyển cho phía Việt Nam
(theo hình thức bồi hoàn hoặc không bồi hoàn). Nhƣ vậy, chế độ sở hữu đối
với bên nƣớc ngoài chỉ giới hạn trong thời gian hoạt động của doanh nghiệp,
trừ số doanh nghiệp phải giải thể, khi hết thời hạn hoạt động những DNFDI
đó dù tốt, xấu đều trở thành đơn vị kinh doanh và sở hữu của phía Việt Nam.


13
- DNFDI là nơi gặp gỡ và cọ xát giữa các nền văn hoá khác nhau, phản
ánh sự pha trộn các yếu tố văn hoá của nhiều nƣớc, thể hiện qua triết lý kinh
doanh, tập quán, sự hiểu biết pháp luật, ngôn ngữ, lối sống, thói quen, lòng
tin, thái độ, phong cách ứng xử của các bên tham gia. Văn hoá kinh doanh của

- Tạo việc làm, góp phần bồi dưỡng đội ngũ lao động có kỹ năng và
tay nghề cao cho địa bàn tiếp nhận đầu tư
Chính hoạt động của các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài và sự tăng
trƣởng kinh tế mà nó mang lại đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm, làm giảm
thất nghiệp. Bài toán khó về việc làm đƣợc giải quyết một phần đáng kể
nhờ vào doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và những ảnh hƣởng dây
chuyền của nó đối với các ngành cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản
phẩm. Mặt khác, thông qua quá trình lao động trong các doanh nghiệp đầu
tƣ nƣớc ngoài mà ngƣời lao động của địa bàn nhận đầu tƣ trực tiếp sẽ tiếp
thu đƣợc những kỹ năng sản xuất mới, tiên tiến góp phần nâng cao tay
nghề và tạo đƣợc thu nhập ổn định, đảm bảo đời sống.
- Tạo điều kiện tiếp nhận công nghệ hiện đại
Hoạt động của FDI tác động rất lớn đối với quá trình phát triển khoa
học, công nghệ. Bởi vì, các DNFDI khi đƣợc thành lập luôn gắn liền với công
nghệ, máy móc thiết bị, kỹ năng quản lý, đảm bảo năng lực sản xuất và năng
suất lao động nhằm thu đƣợc lợi nhuận tối đa. Đối với những địa bàn kinh tế
lạc hậu, chủ yếu dựa vào khu vực nông nghiệp thì việc chuyển giao công nghệ
thông qua các doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là một giải pháp khá
tiết kiệm và an toàn. Việc tiếp thu đƣợc các công nghệ tiên tiến của nƣớc
ngoài tạo điều kiện cho địa bàn nhận đầu tƣ có những bƣớc đột phá sâu vào
những ngành nghề sản xuất kinh doanh quan trọng nhƣ điện tử, ô tô, công
nghệ luyện kim, công nghệ hóa chất, khai thác dầu khí...
- DNFDI tạo nguồn hàng nhập tại chỗ với giá hạ, đáp ứng sát nhu cầu
của người tiêu dùng


15
Nhập khẩu hàng hóa là nhu cầu phổ biến của các quốc gia. Quốc gia
nào cũng muốn có hàng nhập khẩu nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Nhƣng nhập khẩu từ
xa không dễ đáp ứng cả bốn yêu cầu trên: Có thể nhiều nhƣng không nhanh,

Khi các đơn vị sản xuất công nghiệp thuộc ngành khai thác và chế biến
tài nguyên, nhƣ khai thác và chế biến quặng, khai thác và chế biến xelluloz...
thì ngoài việc xâm hại môi trƣờng, nó còn trực tiếp làm mất dần nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Thật ra, các thiệt hại trên là điều tất yếu của bất cứ cơ sở
sản xuất nào chứ không phải riêng của các DNFDI. Nhƣng nếu đó là DNFDI,
chủ đầu tƣ sẽ không lƣu tâm quá nhiều đến những tác hại xấu cho môi trƣờng
tại nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, họ chỉ quan tâm sao cho lợi nhuận cao nhƣng chi
phí thấp do bởi đây không phải là đất nƣớc của họ, ngƣời dân cũng không
phải là ngƣời của nƣớc nhà, vì thế họ không nghĩ đến lợi ích của ngƣời dân
nƣớc sở tại. Ngoài ra, một khi các chủ DNFDI đã không chỉ thiếu ý thức này,
mà bên cạnh đó còn có thể là một sự cố tình phá hoại, thì vấn đề đã không còn
là vấn đề kinh tế, vấn đề xã hội mà là vấn đề an ninh và an sinh quốc gia.
- Bóc lột người lao động
Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, DNFDI có thể bất chấp những đòi
hỏi tôn trọng và bình đẳng đối với ngƣời lao động, họ bóc lột ngƣời lao động
bằng các hình thức tăng cƣờng độ lao động đối với công nhân, kéo dài thời
gian làm việc, cắt xén điều kiện bảo hộ lao động, làm phân hoá đội ngũ cán
bộ, chảy máu chất xám. Điều đó có thể gây nên mâu thuẫn và làm nảy sinh
nhiều vấn đề mới trong xã hội.
- Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài thường lợi dụng, khai thác
những mặt yếu kém của Chính phủ và các doanh nghiệp sở tại, đặc biệt họ
thƣờng chú ý khai thác những sơ hở, yếu kém về luật lệ, thủ tục và cán bộ
trong khâu quản lý, sự nắm bắt không kịp thời các thông tin thị trƣờng về
công nghệ, giá cả của nƣớc chủ nhà để khai khống giá trị máy móc thiết bị



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status