BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
MỘT SỐ NÔNG DƯỢC ĐẾN ONG Cotesia sp. (Braconidae Hymenoptera) KÝ SINH SÂU NON SÂU XANH HAI SỌC
TRẮNG Diaphania indica TRÊN CÂY DƯA LEO
Họ và tên sinh viên: PHAN HỮU DOÃN
Ngành: NÔNG HỌC
Niên khóa: 2003 - 2007
Tháng 9/2007
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
NÔNG DƯỢC ĐẾN ONG Cotesia sp. (Braconidae - Hymenoptera)
KÝ SINH SÂU NON SÂU XANH HAI SỌC TRẮNG
Diaphania indica TRÊN CÂY DƯA LEO
Tác giả
PHAN HỮU DOÃN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng
yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành
Nông Học
Giáo viên hướng dẫn
Th.S TRẦN THỊ THIÊN AN
nông dược đến ong Cotesia sp. (Braconidae – Hymenoptera) ký sinh sâu non sâu xanh
hai sọc trắng Diaphania indica trên cây dưa leo” được tiến hành tại Bộ môn Bảo Vệ
Thực Vật – Trường Đại Học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh, thời gian từ tháng 4/2007
đến tháng 9/2007. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên.
Kết quả thu được
1- Trưởng thành Cotesia sp. có màu đen, kích trước cơ thể dài trung bình của
con cái là 2,85 mm và đực là 2,62 mm. Trứng hình ôvan, màu trong suốt, pha trứng
kéo dài khoảng 2 ngày. Sâu non hình bầu dục, cơ thể phân thành từng đốt, pha sâu non
dài khoảng 6,63 ngày. Nhộng thuộc dạng nhộng trần, màu trắng, dài khoảng trung bình
3,13 mm, pha nhộng kéo dài 4,96 ngày. Vòng đời ong Cotesia sp. kéo dài khoảng
13,89 ngày.
2- Tuổi thọ ong cái cao hơn ong đực và phụ thuộc vào thức ăn thêm. Tuổi thọ
ong Cotesia sp. cao nhất là 17,10 ngày (ong cái) và 13,00 ngày (ong đực) khi cho ăn
bằng dung dịch mật ong 30 %. Tuổi thọ ong giảm dần khi cho ong ăn mật 70 %, cho
ăn nước lã và không cho ăn. Khi không cho ăn thì tuổi thọ ong thấp nhất. Tuổi thọ ong
cái luôn cao hơn ong đực.
3- Tất cả các loại thuốc thí nghiệm đều gây chết đối với ong Cotesia sp. nhưng
ở các mức độ khác nhau. Nhóm thuốc trừ bệnh là thuốc không độc, chỉ ảnh hưởng ít
đến ong Cotesia sp.. Nhóm thuốc trừ cỏ có ảnh hưởng khác nhau, Onecide 15EC thuốc
độc ít (cấp 2) với tỷ lệ ong chết là 50,00 % trong khi Visimaz 800BTN có cấp độc 1
với tỷ lệ ong chết 43,33 %. Ảnh hưởng mạnh nhất là nhóm thuốc trừ sâu trong đó
Regent 800WG và Secure 10EC là thuốc độc (cấp 4) đã gây chết 100 % số ong thí
nghiệm. Kế đến là Success 25SC và Confidor 100SL là hai loại thuốc độc ít (cấp 2),
ảnh hưởng đến ong Cotesia sp. ở mức trung bình. Hai loại thuốc trừ sâu còn lại là
Vertimec 1.8EC và Dipel 6.4DF đều là thuốc không độc. Tác dụng gây chết của các
loại thuốc đều tăng lên sau 24 giờ xử lý.
iii
1
1.1. Đặt vấn đề
1
1.2. Mục đích và yêu cầu
2
1.3. Phạm vi nghiêm cứu
2
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
2
1.3.2. Thời gian và địa điểm
2
1.3.3. Giới hạn đề tài
3
Chương 2 TỔNG QUAN
4
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
14
3.1. Nội dung nghiên cứu
14
3.2. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
14
3.3. Phương pháp nghiên cứu
14
3.3.1. Đặc điểm hình thái và vòng đời ong Cotesia sp.
iv
(Braconidae – Hymenoptera)
14
3.3.2. Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của thức ăn thêm tới tuổi thọ
ong Cotesia sp. (Braconidae – Hymenoptera)
15
5.1. Kết luận
31
5.2. Đề nghị
32
TÀI LIỆU THAM KHẢO
33
PHỤ LỤC
36
v
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 2.1 Sâu xanh hai sọc trắng ở tuổi 1 đến tuổi 5
13
Hình 2.2 Trưởng thành đực Diaphania indica
13
21
Hình 4.2 Trưởng thành đực Cotesia sp.
21
Hình 4.3 Ong Cotesia sp. đang giao phối
21
Hình 4.4 Vòng đời ong Cotesia sp.
22
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ ong chết được hiệu đính bằng công thức Abbott ở 13 GSPT
31
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ ong chết được hiệu đính bằng công thức Abbott ở 24 GSPT
32
vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Các loại thuốc dùng trong thí nghiệm
Bảng 4.7 Tỷ lệ chết của ong Cotesia sp. sau xử lý thuốc trừ sâu
thí nghiệm so với đối chứng không phun thuốc
vii
28
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta và thế giới, rau được trồng rất phổ biến
với diện tích lớn. Rau là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn của mỗi người dân,
mỗi gia đình. Trong đó dưa leo (Cucumis sativus L.) là loại rau ăn quả có thành phần
dinh dưỡng và giá trị kinh tế. Ngoài việc được sử dụng làm thực phẩm, dưa leo còn
được dùng làm nguyên liệu chế biến mỹ phẩm, nước giải khát, đồ hộp…Với các đặc
tính tốt như là cây ngắn ngày, không kén đất, dễ trồng, cho năng suất cao lại thích hợp
với điều kiện khí hậu nhiệt đới nên dưa leo đã được trồng rộng rãi trong cả nước với
diện tích ngày càng được mở rộng hơn với sự đầu tư ngày càng cao hơn.
Tuy nhiên việc sản xuất dưa leo của nông dân vẫn còn gặp không ít khó khăn.
Ngoài những khó khăn về thời tiết, kỹ thuật còn có một phần quan trọng là do sự tấn
công của sâu bệnh hại. Các loài sâu hại như bọ trĩ, rệp mềm, ruồi đục lá, sâu xanh, sâu
khoang… đặc biệt là sâu xanh hai sọc trắng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng
suất và phẩm chất của cây dưa leo. Để chống lại loài sâu hại này, bà con nông dân đã
tiến hành phun thuốc hóa học để phòng trừ. Và thực tế hiện nay người nông dân đã
lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây dưa leo cũng như các cây trồng khác. Việc
phun thuốc với cường độ và liều lượng cao không những không tiêu diệt được sâu hại
mà còn làm bùng phát các loài dịch hại và giết chết thiên địch, gây mất cân bằng sinh
thái đồng thời ảnh hưởng đến sức khoẻ của chính người nông dân, người tiêu dùng và
- Ong đen kén trắng Cotesia sp.
1.3.2. Thời gian và địa điểm
Đề tài được thực hiện từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2007 tại Bộ môn Bảo Vệ
Thực Vật – Trường Đại Học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh.
2
1.3.3. Giới hạn đề tài
- Đề tài được thực hiện từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2007.
- Đề tài chỉ mới tập trung nghiên cứu về thời gian các pha phát dục, vòng đời và
ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong trưởng thành và ảnh hưởng của 10 loại nông
dược đến ong Cotesia sp.
3
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. Một số kết quả nghiên cứu về sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica
(Pyralidae – Lepidoptera)
2.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về sâu xanh hai sọc trắng.
Các đặc điểm về hình thái, sinh học cũng như biện pháp phòng trừ… đã được khái
quát với một số kết quả như sau
Trưởng thành Diaphania indica là một loài bướm nhỏ chiều dài thân từ 10 – 12
mm, sải cánh khoảng 20 – 25 mm. Cánh có màu trắng bạc với một đường viền màu
nâu đậm dọc theo mép cánh. Cuối bụng trưởng thành có chùm lông màu vàng (ở con
cái) và màu nâu (ở con đực). Trứng hình ôvan, có màu trắng kem, dài khoảng 0,7 – 0,8
mm. Sâu non mới nở có màu vàng trong suốt, khi sang tuổi 2 trên lưng xuất hiện hai
Việc phòng trừ D.indica cần tiến hành trực tiếp, nhanh chóng trên sâu non còn
nhỏ vì chúng dễ bị chết hơn sâu lớn. Để phòng trừ hiệu quả cần phun thuốc toàn bộ lá
của cây, chú ý phun mặt dưới của lá.
Nếu mật số sâu không nhiều thì có thể áp dụng biện pháp là bắt bằng tay, khi
mật số sâu nhiều thì tiến hành phun thuốc. Thuốc trừ sâu khuyến cáo là Bacillus
thuringensis hoặc Trichlorfon (H. Brow, 2003), ngoài ra các loại thuốc hóa học có
chứa hoạt chất Cypermethrin có hiệu quả đối với Diaphania indica và nên phun khi
chúng chưa cuốn lá lại (Peter và David, 1989).
2.1.2. Ở trong nước
Trưởng thành sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica là một loại bướm nhỏ
với cánh màu trắng bạc có đường viền nâu xung quanh. Khi đậu trên cánh có hình tam
giác màu trắng ở giữa. Đầu và hai đốt ngực có màu nâu, cuối đốt bụng cũng có màu
nâu và chùm lông cơ quan sinh sản có màu vàng nâu. Chiều dài thân từ 10 – 12 mm,
sải cánh rộng 20 – 25 mm. Một đặc điểm khác biệt giữa trưởng thành đực và trưởng
thành cái là sau đuôi trưởng thành đực có túm lông màu đen cùng bộ phận sinh dục lồi
ra ngoài, còn con cái thường lớn hơn con đực và túm lông phía đuôi có nhiều sợi vàng.
Trứng hình ôvan, hơi nhọn, khi mới đẻ có màu trắng đục, trước khi nở ngã vàng. Sâu
5
non mới nở có màu vàng trong suốt, khi sâu lớn chuyển sang màu xanh lá cây, trên
lưng có hai sọc trắng chạy dọc theo chiều dài cơ thể (Phạm Văn Biên, 2003). Sâu non
có 5 tuổi với các đặc điểm cụ thể là
Sâu tuổi 1: Khi mới nở cơ thể có màu vàng trong suốt. Kích thước cơ thể dài
2,00 ± 0,15 mm và rộng 0,34 ± 0,03 mm.
Sâu tuổi 2: Cơ thể bắt đầu chuyển sang màu vàng xanh. Kích thước cơ thể dài
5,6 ± 1,0 mm và rộng 0,82 ± 0,01 mm.
Sâu tuổi 3: Cơ thể sâu to dần, có màu xanh nhạt, hai sọc trắng trên lưng xuất
hiện nhưng còn nhỏ. Kích thước cơ thể dài 10,30 ± 1,43 mm và rộng 1,28 ± 0,15 mm.
Sâu tuổi 4: Cơ thể có màu xanh đậm, hai vạch trắng trên lưng rất rõ. Kích thước
-
Tuổi 3: Từ 2,0 ± 0,4 ngày đến 2,3 ± 0,6 ngày.
-
Tuổi 4: Từ 3,6 ± 0,5 ngày đến 3,8 ± 0,4 ngày.
Thời gian pha nhộng kéo dài khoảng 7,0 ± 0,2 ngày.
Thời gian pha trưởng thành:
-
Thời gian dinh dưỡng thêm từ 2,2 ± 1,9 ngày đến 2,4 ± 1,8 ngày.
-
Thời gian đẻ trứng từ 3,6 ± 0,5 ngày đến 3,7 ± 0,5 ngày.
-
Tuổi thọ thành trùng khoảng 2,9 ± 0,7 ngày.
Theo Lê Thị Sen và Nguyễn Văn Huỳnh (2001) sau khi vũ hoá được một ngày
thì trưởng thành sâu xanh hai sọc trắng bắt đầu giao phối, quá trình này thường xảy ra
ban đêm. Thành trùng đực sau khi giao phối khoảng 2 – 3 ngày thì chết, một bướm cái
có thể đẻ từ 150 – 200 trứng. Trứng được đẻ riêng lẻ ở cả hai mặt lá, nhất là đọt và lá
non. Số lượng trứng đẻ trung bình khoảng 0,2 – 4,8 trứng/lá. Số lượng trứng đẻ bị ảnh
hưởng bởi điều kiện sinh thái như thời vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây, thời tiết…
Nguyễn Thị Điệp (2005) cho biết sâu xanh hai sọc trắng gây hại suốt thời gian
sinh trưởng và phát triển của cây dưa leo. Sâu bắt đầu xuất hiện 7 ngày sau khi gieo,
khỏi ký chủ và kết tơ trắng tạo kén (Genty, 1984).
Trong giống Cotesia có rất nhiều loài ký sinh trên nhiều loài ký chủ khác nhau.
Trong đó một số loài ký sinh sâu non của những côn trùng thuộc bộ cánh vảy
(Lepidoptera) gây hại phổ biến trên cây rau là
Cotesia plutellae Kurdjunov ký sinh sâu non của sâu tơ Plutella xylostella gây
hại trên cây bắp cải. Kết quả nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy rằng loài ong ký
sinh này đã chặn đứng dịch hại sâu tơ trên ruộng (Lim, 1982; Fung và Wang, 1984).
Cotesia vestalis (Haliday) ký sinh sâu non của sâu tơ Plutella xylostella, một
trong những dịch hại gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng trên cây rau họ thập tự trên
toàn thế giới (Talekar, 1996). Chính vì vậy, ong ký sinh Cotesia vestalis đã được
nghiên cứu rộng rãi nhằm phát huy tối đa hiệu quả của chúng (Chilcutt và Tabashnik,
1997).
Theo Andrei Sourakov (2000) Cotesia marginiventris là loài ký sinh phổ biến
trên sâu non thuộc họ ngài đêm. Chúng tấn công vào sâu non ký chủ ở tuổi sâu rất nhỏ (sâu tuổi
1 và tuổi 2). Những ký chủ phổ biến của Cotesia marginiventris là Agrotis ipsilon (Hufn.),
Anagrapha falcifera (Kirby), Autographa precationis (Gn.), Autoplusia egena (Guen.),
Helicoverpa zea (Boddie), Heliothis virescens (F.), Hymenia perspectalis (Hbn.), H. recurvalis
(F.), Peridroma saucia (Hbn.), Plathypena scabra (F.) Pseudaletia unipuncta (Haw.),
8
Pseudoplusia includens (Wlkr.), Scotorythra caryopsis Meyr., Spodoptera eridania (Cram.), S.
exigua (Hbn), S. frugiperda (Smith), S. ornithogalli (Guen.) và Trichoplusia ni (Hbn)
Cũng theo Andrei Sourakov (2000) ở 25oC thời gian vòng đời của ong Cotesia
marginiventris kéo dài khoảng 13 ngày. Tác giả này đã cho biết một số đặc điểm về
ong Cotesia marginiventris như sau
- Trứng dạng hình ôvan, chiều dài gấp 3 lần chiều rộng, màu trong suốt. Sau khi
đẻ khoảng 2 ngày thì trứng bắt đầu nở.
- Ấu trùng của Cotesia marginiventris được bao bọc một lớp da mềm. Ấu trùng
phải được sống trong môi trường có chứa nước, nếu không có nước cơ thể sâu non sẽ
ký sinh của của ong kén nhỏ tương tự ong cự nhưng khác với ong cự là nhóm này
thường kéo kén hóa nhộng bên ngoài cơ thể ký chủ (Trần Thị Thiên An, 2003).
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003) cho biết Cotesia (Apanteles) là giống ong
ký sinh của họ Braconidae có thành phần loài rất phong phú. Trong đó gồm một số
loài có ích, chúng ký sinh trên các loài sâu hại cây rau như Cotesia glomerata và
Cotesia rubecula ký sinh trên sâu xanh bướm trắng hại su hào, bắp cải; Cotesia
plutellae ký sinh trên sâu tơ; Cotesia marginiventris ký sinh trên sâu đo hại bắp cải. Ở
Việt Nam chủ yếu là loài Cotesia glomerata và Cotesia plutellae, hai loài ong ký sinh
này có kích thước nhỏ và màu đen.
Theo Khuất Đăng Long (2004) thì loài Cotesia glomerata (L.) rất hiếm gặp ở
vùng trung du và đồng bằng phía Bắc. Mặc dù Cotesia glomerata có phân bố toàn cầu
nhưng ở Việt Nam loài này được xem như là hiếm gặp. Loài ong ký sinh này đã được
phát hiện trên rau vụ đông trồng ở khu vực Hà Nội từ năm 1993, nhưng hiện nay với
sự sử dụng thường xuyên nhiều loại thuốc trừ sâu trên rau loài này có nguy cơ biến
mất trong hệ sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng.
Cotesia plutellae là loài ký sinh quan trọng nhất trên sâu tơ Plutella xylostella.
Tỉ lệ ký sinh tự nhiên của loài ong này trên sâu tơ khá cao. Nghiên cứu của Kumar và
cộng sự (1987) cho biết những ruộng bắp cải không xử lý thuốc hoá học trên đảo Fiji,
tỉ lệ sâu tơ bị ký sinh lên tới 70 %. Ở Việt Nam, mặc dù số lần phun thuốc bảo vệ thực
vật của bà con nông dân khá cao, 14 – 15 lần/vụ tỉ lệ ký sinh của loài ong này trên sâu
tơ vẫn đạt từ 7,17 – 57,01 % (Vũ Thị Chỉ và cộng sự, 2002).
Theo Phạm Văn Lầm (2002) thời gian phát dục của pha trứng và ong non của
Cotesia plutellae trong vật chủ kéo dài trung bình từ 7,5 – 9,2 ngày. Thời gian pha
nhộng (ở ngoài vật chủ) kéo dài từ 5,3 – 8,2 ngày, ong trưởng thành vũ hoá xong có
thể giao phối và đẻ trứng ngay. Vòng đời của ong Cotesia plutellae kéo dài 17,3 ngày
ở nhiệt độ 18 – 19,5 oC và ẩm độ 75,4 % đã giảm xuống còn 12,8 ngày ở nhiệt độ 20 –
10
26 oC và ẩm độ 83 – 98 %. Tỉ lệ giới tính của ong Cotesia plutellae nuôi trong phòng
Các thuốc hoá học thuộc các nhóm imidacloprid, lufenuron và pymetrozine
được khuyến cáo sử dụng trong chương trình IPM vì chúng có tính chọn lọc cao.
Những hợp chất hoá học khác, tuy không trực tiếp giết thiên địch nhưng cũng có thể
gây những ảnh hưởng thứ cấp như thay đổi tập tính, giảm khả năng sinh sản, giảm sức
sống… (Jacob và ctv, 1984; Elzen, 1989; Croft, 1990; Longley và Jepson, 1996).
Hill và Foster (2000) đã khảo sát ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học đến
ong Diadegma insulare (Ichneumonidae: Hymenoptera) ký sinh trên sâu tơ Plutella
xylostella. Kết quả cho thấy tỉ lệ ong chết lên đến 100% sau 8 giờ tiếp xúc với chất spinosad.
Kao và Tzeng (1992) đã đánh giá độ độc của 17 loại thuốc trừ sâu thường dùng
đối với ong Cotesia plutellae (Braconidae - Hymenoptera). Trong số đó có 7 loại được
đánh giá là độc (tỷ lệ chết ở con trưởng thành > 99 %). Và 10 loại còn lại chỉ ở mức
không độc (tỷ lệ chết < 50 %).
M. Hasseeb, T – X Liu và W.A. Jone (2004) cũng đã tiến hành khảo sát ảnh
hưởng của một số loại thuốc trừ sâu đối với ong ký sinh Cotesia plutellae. Kết quả là
các loại thuốc có nguồn gốc vi sinh Bacillus thuringiensis (1,2 mg a.i/l) như Mattch và
Dipel ít ảnh hưởng đến Cotesia plutellae với tỷ lệ ong chết lần lượt là 5,6 % và 11,1 %.
Các loại thuốc có chứa hoạt chất spinosad (53 mg a.i/l) gây chết với tỷ lệ ong chết là 50 %.
Những loại thuốc hóa học có ảnh hưởng không nhỏ đến quần thể thiên địch
trong tự nhiên. Vì vậy trong biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM), điều quan
trọng là phải nghiên cứu hiệu quả tác động của các loại thuốc hoá học và xác định mối
tương thích giữa chúng với các nhân tố khác (Stapel và ctv, 2000). Kết quả là tạo nên
những tác động tích cực đến quần thể sinh vật trong tự nhiên, tạo nên sự đa dạng của
các loài có ích (Hiroshi Amano & Muhammad Haseeb, 2000).
Sử dụng chọn lọc thuốc trừ sâu là một chiến lược hợp lý trong các biện pháp
kiểm soát dịch hại bởi vì điều đó góp phần quan trọng trong việc bảo tồn quần thể
thiên địch sẵn có trong hệ sinh thái nông nghiệp (Carvalho và ctv, 1999).
12
Vật liệu nghiên cứu:
-
Xốp cắm hoa, giấy film và giấy mica.
-
Hạt giống dưa leo.
-
Mật ong nguyên chất.
-
Nước cất và 10 loại nông dược.
Dụng cụ nghiên cứu:
-
Cốc nhựa, hộp nhựa
-
Lồng lưới kích thước 30 x 30 x 30 cm
-
Lưới, kéo, pen, đĩa petri, cọ lông, ống nghiệm
Đo kích thước chiều dài và chiều rộng các pha cơ thể của ong bằng thước vi
trắc kế. Tiến hành mổ ong và sâu non sau khi bị ký sinh và quan sát dưới kính lúp soi
nổi để mô tả đặc điểm của trứng, sâu non, nhộng và ong trưởng thành.
Tiến hành mổ sâu non sâu xanh hai sọc trắng sau khi bị ký sinh ở các thời
điểm 1, 2 và 3 ngày để xác định thời gian trứng nở.
Xác định tuổi sâu non bằng cách dựa vào sự thay đổi kích thước cơ thể và
đặc điểm của miệng sâu non.
Vòng đời của ong ký sinh Cotesia sp.
Kết hợp với thí nghiệm nuôi sinh học cá thể ong khi quan sát đặc điểm hình thái để
ghi nhận thời gian phát triển từng pha cơ thể và vòng đời của ong Cotesia sp.
3.3.2. Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của thức ăn thêm tới tuổi thọ ong Cotesia sp.
(Braconidae – Hymenoptera)
Chuẩn bị vật liệu thí nghiệm
Thu thập kén ong ở ngoài đồng về (trên ruộng dưa leo hoặc khổ qua), cần thu thập
nhiều kén vì khi làm thí nghiệm cần nhiều ong ở cùng tuổi. Sau khi ong vũ hóa được
một ngày thì tiến hành làm thí nghiệm.
Các dung dịch thức ăn dùng trong thí nghiệm là nước lã, mật ong pha loãng 30 %
và mật ong pha loãng 70 %
15
Phương pháp thực hiện
Bắt riêng ong đực và ong cái cho vào đĩa petri (1 đĩa 1con). Cho ong ăn bằng cách
cắt bông gòn thành từng miếng nhỏ hình vuông. Nhúng bông vào dung dịch thức ăn,
dùng pen đưa vào đĩa petri, thay thức ăn cho ong hàng ngày.
Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm
thức gồm 15 ong đực và 15 ong cái
-
- Phần ruột gồm xốp cắm hoa cắt hình chữ nhật, có kích thước như trên nhưng nhỏ
hơn để có thể đặt lọt vào phần vỏ hộp, ở giữa đục hai lỗ nhỏ có đường kính 2 cm.
Dùng dao rọc giấy xén vào giữa một đường cách mặt trên 2mm, sau đó lồng miếng
giấy film mỏng có cùng kích thước vào miếng xốp. Dùng súng keo dán lại.
Ong trưởng thành Cotesia sp.: thu thập kén ong ở ngoài đồng (trên các ruộng
dưa ở Hóc Môn, Củ Chi) đem về phòng thí nghiệm chờ ong vũ hóa, sau khi
ong vũ hóa được một ngày thì tiến hành làm thí nghiệm.
Lá dưa leo (hái trên cây không phun thuốc đã được trồng từ trước) cắt hình tròn
có đường kính 2,5 cm.
Dung dịch thuốc phun được pha với nước cất theo liều lượng ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Các loại thuốc dùng trong thí nghiệm.
STT
Loại thuốc
Tên hoạt chất
Liều sử dụng
1
Aliette 800WG
Fosetyl aluminium (800g/kg)
2,5 g/l
2
Confidor 100SL
Imidacloprid (100g/l)
0,875 ml/l
7
Secure 10EC
Chlofenapyr (100g/l)
1,25 ml/l
8
Vertimec 1.8EC
Abamectin (18g/l)
1,25 ml/l
9
Success 25SC
Spinosad (27.8g/l)
3,125 ml/l