VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌzC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HUỲNH BẢO KHUYÊN
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HUỲNH BẢO KHUYÊN
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60 38 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
CAND
Công an nhân dân
CSND
Cảnh sát nhân dân
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
HĐND
Hội đồng nhân dân
KSV
Biểu đồ 2.1: Tình trạng nghề nghiệp của người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên
địa bàn Quận Tân Bình giai đoạn 2012- 2016 .......................................................... 39
Biểu đồ 2.2: Trình độ học vấn của người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa
bàn Quận Tân Bình giai đoạn 2012-2016 ................................................................. 41
Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ người chưa thành niên phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa
bàn Quận Tân Bình giai đoạn 2012-2016 ................................................................. 42
Biểu đồ 2.4: Tỉ lệ người phạm tội là học sinh cấp 2, cấp 3 trong tổng số người phạm
tội là người chưa thành niên ...................................................................................... 43
Biểu đồ 2.5: Tỉ lệ người nghiện ma túy trong tổng số người phạm các tội xâm phạm
sở hữu trên địa bàn Quận Tân Bình giai đoạn 2012-2016 ........................................ 44
Biểu đồ 2.6 : Tỉ lệ bị cáo phạm tội tái phạm, tái phạm nguy hiểm do TAND Quận
Tân Bình thụ lý, xét xử giai đoạn 2012-2016 ........................................................... 47
Biểu đồ 2.7: Tỉ lệ bị cáo phạm tội cướp giật tài sản trong trường hợp tái phạm, tái
phạm nguy hiểm ........................................................................................................ 47
Biểu đồ 2.8: Cơ cấu các tội cụ thể trong nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn
Quận Tân Bình giai đoạn 2012-2016 ........................................................................ 51
Biểu đồ 2.9: Diễn biến một số tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận Tân Bình
giai đoạn 2012- 2016 ................................................................................................. 52
Biểu đồ 2.10 : Tỉ lệ bị cáo là phụ nữ bị xét xử các tội xâm phạm sở hữu tại TAND
Quận Tân Bình giai đoạn 2012-2016 ........................................................................ 54
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm về sở hữu trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh đang có xu hướng tăng về số vụ phạm tội, số người
phạm tội cũng như về tính chất nguy hiểm. Thực tế này xảy ra phổ biến tại 24
quận, huyện, trong đó có Quận Tân Bình. Là một quận có nền kinh tế phát triển
mạnh với những ưu thế về địa lý (có hai cửa ngõ giao thông quan trọng của cả
nước là cụm cảng hàng không sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và quốc lộ 22
Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức, 2013. Các giáo trình này sẽ cung
cấp cho học viên những kiến thức cơ sở, nền tảng nhất về tình hình tội phạm,
phòng ngừa tội phạm.
- Các sách chuyên khảo, bao gồm: Nguyễn Xuân Yêm (2001), Tội phạm
học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; - Nguyễn
Ngọc Điệp (2000), Tìm hiểu và bình luận các tội xâm phạm sở hữu, Nxb Mũi Cà
Mau; Nguyễn Mai Bộ (2010), Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự
năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tài sản, Trần Văn Độ, Cao Thị
Oanh, Nxb Tư pháp, 2015. Từ các công trình này, học viên sẽ kế thừa những nội
dung liên quan đến dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu, các quan
điểm tiến bộ về phòng ngừa tình hình tội phạm, tình hình tội xâm phạm sở hữu
tại Việt Nam hiện nay, từ đó tham khảo cho việc nghiên cứu các tội xâm phạm
sở hữu trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các bài tạp chí khoa học như : Nguyễn Ngọc Chí (1997), Một số vấn đề
đồng phạm trong các tội phạm sở hữu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 110);
Võ Khánh Vinh (2004), Về những xu hướng và nội dung cơ bản của chiến lược
đấu tranh với tình hình tội phạm, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 10)
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Tội phạm trộm cắp xe gắn máy có
tổ chức tại các tỉnh, thành phố phía Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa,
đấu tranh”, Vũ Anh Sơn
- Phạm Hồng Cử (2004), Tội phạm trộm cắp tài sản và công tác phòng
ngừa, đấu tranh tại Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng, nguyên nhân và giải
pháp, Trường đại học Cảnh sát nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Luận án tiến sĩ: Nguyễn Ngọc Chí (2000), Trách nhiệm hình sự đối với
các tội xâm phạm sở hữu, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội;
Nguyễn Văn Thanh (2016), Các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật Hình sự
2
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng các biện pháp nhằm tăng
cường phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận Tân Bình,
Thành phố Hồ Chí Minh.
3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ
cụ thể:
- Tổng hợp những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm nói
chung và những vấn đề lý luận về phòng ngừa nhóm tội phạm, cụ thể là nhóm
các tội phạm về sở hữu như khái niệm, cơ sở của phòng ngừa, các nguyên tắc
phòng ngừa, các biện pháp phòng ngừa và chủ thể phòng ngừa các tội phạm về
sở hữu.
- Đánh giá thực trạng phòng ngừa tình hình các tội về sở hữu trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là thực trạng tổ chức lực lượng phòng ngừa và
thực trạng áp dụng các biện pháp phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở
hữu. Xác định những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế của hoạt động
phòng ngừa tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận Tân Bình.
- Dự báo hoạt động phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu trên
địa bàn Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường phòng ngừa tình hình các tội
xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phòng ngừa tình hình các tội xâm
phạm sở hữu trên địa bàn quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Xét về nội dung, luận văn nghiên cứu hoạt động phòng ngừa tình hình
Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thống
kê số vụ phạm tội, số người phạm tội, thống kê một số đặc điểm về nhân thân
người phạm tội, thống kê các loại hình phạt được Tòa án áp dụng, thống kê thiệt
hại do các tội phạm này gây ra tại chương 2 của luận văn.
Phương pháp nghiên cứu điển hình: Phương pháp nghiên cứu điển hình
được sử dụng khi nghiên cứu điển hình một số địa bàn tập trung nhiều các tội
phạm xâm phạm sở hữu, nghiên cứu điển hình các đặc điểm nhân thân một số
người phạm tội tại chương 2.
Phương pháp nghiên cứu so sánh: Phương pháp nghiên cứu so sánh được
sử dụng khi tác giả sso sánh mức độ, cơ cấu của tình hình tội phạm trong những
giai đoạn khác nhau tại chương 2.
Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp điều tra xã hội học được
sử dụng khi đánh giá cấp độ, tỉ lệ ẩn của tội phạm, dự báo một số vấn đề của tình
hình tội phạm tại chương 2.
5
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp chuyên gia được sử dụng khi
đánh giá tội phạm ẩn, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, dự báo tình hình
tội phạm trong thời gian tới, các biện pháp phòng ngừa tội phạm tại chương 2.
Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác
của Tội phạm học như phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp mô tả,
phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án trong nội dung chương những vấn đề lý
luận về phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu; trong việc mô tả bức
tranh về tình hình tội phạm, mô tả các đặc điểm nhân thân người phạm tội tại
chương 2 cũng như nghiên cứu hồ sơ khi nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện
của nhóm tội phạm này tại Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm
sỡ hữu
1.1.1. Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu
Các tội xâm phạm sở hữu quy định trong chương XIV Bộ luật hình sự
năm 1999 là các tội được sát nhập từ các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa
quy định tại chương IV và các tội xâm phạm sở hữu của công dân quy định tại
chương VI Bộ luật hình sự năm 1985.
Về tội phạm, chương XIV quy định 13 tội danh phản ảnh đúng bản chất
của tên chương là các tội xâm phạm sở hữu, một số tội tuy có xâm phạm sở hữu
nhưng xuất phát từ bản chất của hành vi nên được nhà làm luật quy định ở các
chương khác như: Tội tham ô; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài
sản được quy định tại Mục A Chương XXI các tội phạm về tham nhũng.
Với cách hiểu tội phạm được quy định trong điều 8 BLHS 1999, có thể
hiểu các tội xâm phạm sở hữu được hiểu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và
của cá nhân. Các tội phạm này được quy đinh tại Chương XIV, từ Điều 133 đến
Điều 145, cụ thể: Tội cướp tài sản (Điều 133), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản (Điều 134), Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135), Tội cướp giật tài sản (Điều
136), Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137), Tội trộm cắp tài sản (Điều
138), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản (Điều 140), Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141), Tội sử dụng
trái phép tài sản (Điều 142), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều
143), Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hai nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145).
Đặc điểm nổi bật của các tội xâm phạm sở hữu là có tính chất chiếm đoạt,
nhưng không phải tội phạm nào có tính chất chiếm đoạt đều là tội xâm phạm sở
8
giá trị tài sản.
Dấu hiệu hậu quả tác hại trong yếu tố khách quan của các tội phạm xâm
phạm tài sản là mức độ thiệt hại nguy hại quy ra tiền. Để định tội cần chú ý coi
trọng những quy định về giá trị tài sản bị gây thiệt hại, bị chiếm đoạt.
9
- Mặt chủ quan các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu: phần lớn các tội
phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản được thực hiện do hình thức lỗi cố ý, có
một số tội được thực hiện do vô ý, như: tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản và tội cố ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.
- Chủ thể của các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản là bất kỳ người nào
có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định chung.
Đa số các tội xâm phạm sở hữu là các tội được thực hiện do cố ý. Trong
số 13 tội quy định trong chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999, thì có tới 11 tội
được thực hiện do cố ý, đó là các tội: Cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản; cưỡng đoạt tài sản; cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm
cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;
chiếm giữ trái phép tài sản; sử dụng trái phép tài sản và huỷ hoại hoặc cố ý làm
hư hỏng tài sản. Chỉ có hai tội được thực hiện do vô ý, đó là các tội: thiếu trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng
đến tài sản.
Về hình phạt: các tội này có hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù từ
sáu tháng đến tù chung thân, riêng tội Cướp tài sản có hình phạt cao nhất là tử
hình (Điều 133 BLHS 1999).
1.1.2. Định nghĩa và ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội xâm
phạm sở hữu
Liên quan đến định nghĩa phòng ngừa tội phạm, các nhà khoa học hiện
nay tại Việt Nam nhìn chung đều thống nhất về định nghĩa phòng ngừa tình hình
tội phạm, đó là việc sử dụng những biện pháp nhà nước và xã hội tác động vào
Thứ hai, phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu còn là việc áp
dụng các biện pháp mang tính nhà nước (còn được gọi là biện pháp mang tính
cưỡng chế nhà nước, các biện pháp mang tính bắt buộc) nhằm kịp thời phát hiện,
xử lý sau khi tội phạm xảy ra nhằm tiếp tục phòng ngừa tội phạm. Các biện pháp
này thực chất là các biện pháp được thực hiện trong quá trình phát hiện, khởi tố,
truy tố, xét xử tội phạm từ các chủ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng.
Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu mang ý nghĩa quan trọng:
Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có ý nghĩa quan trọng
trong việc bảo vệ con người và mang tính nhân đạo sâu sắc. Con người được bảo
11
vệ ở đây bao gồm người có nguy cơ phạm tội, người là nạn nhân của tội phạm
và cả cộng đồng xã hội. Phòng ngừa tội phạm tốt, có hiệu quả tức là ngăn ngừa
trước không cho một người thực hiện hành vi phạm tội, không để họ phải bị
những hạn chế về quyền con người khi chấp hành hình phạt (thậm chí bị mất
quyền sống khi bị áp dụng hình phạt tử hình). Nói cách khác, khi phòng ngừa
các tội xâm phạm sở hữu đạt hiệu quả thì mọi người trong xã hội có điều kiện
được hưởng các quyền tự do, có điều kiện hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh
thần vì những thiệt hại do các tội phạm này gây ra cho xã hội đã bị hạn chế tối
đa.
+ Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có ý nghĩa quan trọng
về mặt kinh tế. Phòng ngừa tội phạm không để cho tội phạm xảy ra sẽ hạn chế
thấp nhất những thiệt hại do tội phạm gây ra cho nạn nhân trực tiếp của tội phạm
và những thiệt hại khác về kinh tế. Điều này thể hiện ở những chi phí mà Nhà
nước phải bỏ ra cho hoạt động phát hiện, xử lý tội phạm, những chi phí trong
quá trình thi hành án. Số tiền dùng phục vụ cho công tác tố tụng sẽ có ý nghĩa
tích cực nếu được đầu tư vào các hoạt động an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề
về cơ sở vật chất hạ tầng, tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống vật chất tinh
thần của người dân.
nhất là các loại tội phạm nghiêm trọng, tội phạm mới, tạo môi trường lành mạnh
phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ cuộc sống hạnh
phúc và bình yên của nhân dân”. Để tác động, xóa bỏ nguyên nhân và điều kiện
của tình hình các tội xâm phạm sở hữu, vấn đề quan trọng là xác định nguyên
nhân và điều kiện của tình hình các tội xâm phạm sở hữu và sử dụng các biện
pháp tác động triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện đó. Về mặt lý luận, nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là sự tương tác giữa các hiện tượng và
quá trình xã hội, trong đó tình hình tội phạm được xem là kết quả của sự tương
tác của những hiện tượng và quá trình xã hội, cụ thể như các quan hệ kinh tế xã
hội, văn hóa xã hội, tâm lý xã hội, quản lý xã hội, giáo dục, pháp luật… Để tác
động, triệt tiêu các mâu thuẫn về xã hội này cần sự phát hiện, thừa nhận những
mặt trái, những mâu thuẫn của các hiện tượng xã hội nói trên, đồng thời xây
dựng các chiến lược, phương án đấu tranh ngắn hạn và dài hạn nhằm xóa bỏ các
nguyên nhân và điều kiện này nhằm hướng tới mục tiêu ngăn ngừa tội phạm.
13
Các biện pháp tác động vào các mâu thuẫn xã hội này chủ yếu là những biện
pháp cũng mang tính xã hội, tức là những biện pháp nhằm nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của con người, để họ không đi vào con đường phạm tội do các
nhu cầu cần thiết không được bảo đảm.
Tuy nhiên, mục đích của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu
là triệt tiêu nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội xâm phạm sở hữu, do đó
ngoài việc xóa bỏ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, mục đích
của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu còn là hạn chế, xóa bỏ
nguyên nhân và điều kiện đặc trưng của nhóm tội phạm sở hữu.Vấn đề đặt ra là
nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội phạm sở hữu là gì? Trên tinh thần kế
thừa các vấn đề lý luận về nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội phạm, chúng
tôi cho rằng tác động vào nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội xâm phạm sở
hữu ngoài việc tác động vào các hiện tượng và quá trình xã hội thì còn phải tác
người đã thực hiện hành vi phạm tội để họ tiếp tục không phạm tội mới và răn
đe những người khác trong xã hội không thực hiện hành vi phạm tội về sở hữu.
Các biện pháp được áp dụng nhằm đạt được mục đích này là các biện pháp
mang tính cưỡng chế bắt buộc được áp dụng bởi các chủ thể là các cơ quan tiến
hành tố tụng hoặc một số chủ thể khác (trong trường hợp bắt tội phạm quả tang).
1.2.2. Các nguyên tắc của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở
hữu
Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu là hoạt động khó khăn và
phức tạp và có khả năng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của nhiều người nên cần
tuân thủ những nguyên tắc nhất định nhằm bảo đảm cho hoạt động phòng ngừa
nhóm tội này không vi phạm quyền con người và đạt hiệu quả cao. Theo chúng
tôi, phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu cần tuân thủ các nguyên tắc: nguyên
tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc cụ thể hóa.
- Nguyên tắc pháp chế trong hoạt động phòng ngừa tình hình các tội
xâm phạm sở hữu được hiểu là hoạt động phòng ngừa các tội phạm này phải
tuân thủ các quy định của pháp luật. Các quy định của pháp luật ở đây được hiểu
là các quy định của Hiến pháp, các văn bản luật và các văn bản quy phạm pháp
luật khác có liên quan đến hoạt động phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu. Xuất
15
phát từ tính nguy hiểm của tình hình các tội xâm phạm sở hữu, có thể thấy là
hiện đang có tâm lý từ phía các chủ thể là muốn nhanh chóng hạn chế, loại trừ
các tội xâm phạm sở hữu ra khỏi xã hội. Tâm lý này của các chủ thể phòng ngừa
tội phạm sẽ có thể dẫn đến những nguy cơ vi phạm pháp luật trong việc triển
khai, áp dụng các biện pháp phòng ngừa; do đó, tuân thủ nguyên tắc pháp chế là
yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất khi phòng ngừa tội phạm nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của những người có liên quan. Để nguyên tắc pháp chế
được tuân thủ trong hoạt động phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu
thì yêu cầu các quy định của pháp luật về phòng ngừa tội phạm được hoàn thiện;
quả cần phải có sự tham gia của toàn xã hội. Các tội xâm phạm sở hữu có liên
quan mật thiết đến vấn đề về đặc điểm dân cư, văn hóa của từng khu vực dân cư,
chính vì vậy phòng ngừa các tội phạm này phải được sự hưởng ứng, tham gia
rộng rãi từ phía người dân thì mới có thể đạt hiệu quả như mong muốn. Do đó,
để nguyên tắc này được áp dụng trong thực tế thì cần thiết phải có sự ghi nhận
nội dung này trong các quy định của pháp luật về phòng ngừa các tội xâm phạm
sở hữu, bên cạnh đó, cần phải nhận thức rằng các chủ thể phòng ngừa tội phạm
là quần chúng nhân dân là lực lượng đông đảo nhất nhưng không có công cụ,
phương tiện nhằm đấu tranh trực tiếp với tội phạm cho nên quần chúng nhân dân
cần được sự hướng dẫn, tạo điều kiện từ các chủ thể chuyên trách là cơ quan nhà
nước trực tiếp áp dụng các biện pháp phòng ngừa hay phát hiện, xử lý tội phạm.
Việc thực hiện, tuân thủ nguyên tắc dân chủ trong hoạt động phòng ngừa các tội
xâm phạm sở hữu nhằm phát huy được hết sức mạnh của các tầng lớp nhân dân
trong xã hội trong hoạt động phòng ngừa trước không để cho tội phạm xảy ra và
kịp thời phát hiện tội phạm, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa
tội phạm.
- Nguyên tắc cụ thể hóa trong hoạt động phòng ngừa các tội xâm phạm sở
hữu được hiểu là phòng ngừa các tội phạm này phải được tiến hành cụ thể phù
hợp với những đặc điểm nhân thân của người chịu sự tác động bởi các biện pháp
phòng ngừa, đặc biệt là phải tùy thuộc vào khu vực địa lý, đặc điểm lịch sử, tự
nhiên, xã hội, dân cư người đó đang sinh sống. Nói cách khác, nguyên tắc này
thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, phòng ngừa các tội phạm này phải được tiến
hành cụ thể đối với các đối tượng có nhân thân khác nhau. Tùy thuộc vào độ
tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, đặc biệt là đối với các đối tượng có nguy cơ
17
phạm tội cao như người chưa thành niên, người không có nghề nghiệp, người có
nhân thân xấu, người có tiền án, tiền sự, người nghiện ma túy… thì cần được áp
dụng những biện pháp phòng ngừa riêng biệt, khác với những người bình
phòng chống tội phạm, thông qua các Nghị quyết của Đảng. Bên cạnh đó, vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong hoạt động phòng ngừa nhóm tội phạm này
còn thể hiện ở sự tiên phong, giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động phòng ngừa
tội phạm của các Đảng viên.
- Chủ thể thực hiện hoạt động phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu:
Quá trình phòng ngừa tội phạm bao gồm khâu ban hành các quy định của
pháp luật đến khâu triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, do đó chủ
thể phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu bao gồm các chủ thể ban hành pháp
luật phòng ngừa tội phạm và chủ thể triển khai thi hành các quy định pháp luật
phòng ngừa tội phạm.
Chủ thể ban hành pháp luật phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu:
Chủ thể ban hành pháp luật phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu bao
gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.
(1) Quốc hội:
Là cơ quan quyền lực nhà nước duy nhất có quyền lập Hiến và lập pháp,
Quốc hội là chủ thể phòng ngừa tội phạm có vai trò trong việc ban hành các luật
điều chỉnh hoạt động phòng ngừa các tội phạm như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố
tụng hình sự… Ngoài ra, Quốc hội còn có vai trò trong việc kiểm tra giám sát
hoạt động của các cơ quan nhà nước, của cán bộ nhằm phòng ngừa các hành vi
phạm tội, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nói chung, trong đó có pháp
luật về phòng chống các tội xâm phạm sở hữu (Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội
2014).
(2) Hội đồng nhân dân các cấp:
Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân các cấp
có vai trò phòng ngừa các tội phạm về các tội xâm phạm sở hữu thể hiện trong
việc quyết định những chủ trương, biện pháp kinh tế xã hội quan trọng để cải
thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân nhằm phòng ngừa tội phạm
(Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003). Bên cạnh đó, thông qua
Nghị quyết trong các kỳ họp, Hội đồng nhân dân quyết định ban hành các văn
về các tội xâm phạm sở hữu ở địa phương. Các cơ quan hành chính nhà nước
chuyên môn:
20