VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NHO TUẤN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NHO TUẤN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
sách xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Nam........................................................35
2.2. Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Nam ...........................40
2.3. Đánh giá chính sách xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn Quảng Nam ...............47
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI.................................................................................................56
3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước có tác động đến chính sách xây dựng nông
thôn mới ....................................................................................................................56
3.2. Quan điểm, định hướng về chính sách xây dựng nông thôn mới ......................58
3.3. Giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn mới ................................58
3.4. Kiến nghị ............................................................................................................61
KẾT LUẬN ..............................................................................................................65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KT-XH
: Kinh tế - xã hội
MTQG
: Mục tiêu Quốc gia
NTM
nay, nhất là 20 năm đổi mới.
- Cuốn sách "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng
kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020" của tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên đã phân tích
một số điểm nổi bật về nông nghiệp, nông thôn, nông dân từ năm 2000 đến nay và
cơ hội, thách thức của nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trước các mô
hình tăng trưởng kinh tế. .
- Cuốn sách "Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của tác giả Đặng Kim Sơn. Trên cơ sở
3
nghiên cứu một số nước trên thế giới, tác giả có sự liên hệ vào điều kiện cụ thể của
Việt Nam như: vai trò của nông nghiệp trong công nghiệp hóa, vấn đề cơ cấu sản
xuất, giải quyết những vấn đề lao động, đất đai, môi trường... trong công nghiệp hóa
đất nước.
- Cuốn sách "Xây dựng NTM, những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Vũ Văn
Phúc là tập hợp nhiều bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan trung
ương, các địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng NTM.
- Bài viết “Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân
dân ta” của tác giả Hồ Xuân Hùng đã nêu rõ nội dung nông thôn và NTM Việt
Nam, nhấn mạnh một số biện pháp, điều kiện thực hiện 19 tiêu chí Quốc gia về xây
dựng NTM trong giai đoạn hiện nay.
Bài viết: “Xây dựng mô hình NTM ở nước ta hiện nay” của tác giả Phan Xuân
Sơn và Nguyễn Cảnh với phân tích về nông thôn Việt Nam trước yêu cầu mới;
những hình dung ban đầu về các tiêu chí của mô hình NTM; những nhân tố chính
của mô hình NTM và đề xuất Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá
trình hoạch định và thực thi chính sách, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật,
nguồn lực, và động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong
thực thi và hoạch định chính sách.
- Bài viết "Chương trình NTM ở Việt Nam: một số vấn đề đặt ra và kiến nghị"
Kiến nghị, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách xây dựng nông
thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cũng như của cả nước.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách xây dựng NTM của Nhà nước và kết quả triển khai thực hiện
chính sách xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu, phân tích, đánh giá chính sách xây dựng NTM.
- Về không gian: thực tiễn triển khai chính sách xây dựng NTM trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam và hệ thống các văn bản quy định về chính sách xây dựng NTM.
- Về thời gian: nghiên cứu chính sách và kết quả thực hiện NTM giai đoạn từ
5
năm 2010 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu, thông tin: Số liệu, thông tin phục vụ nghiên
cứu luận văn được lấy từ các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Đại hội Đảng bộ
Tỉnh Quảng Nam, các Nghị quyết của Đảng; các văn bản, đặc biệt là các báo cáo
của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành trung ương và các cấp chính quyền tỉnh
Quảng Nam; báo cáo giám sát của một số Đoàn ĐBQH; một số công trình, bài viết
nghiên cứu về chính sách xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng
NTM; lắng nghe ý kiến, kiến nghị của một số chuyên gia, lãnh đạo các cấp chính
quyền địa phương và người dân.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: hệ thống hóa, phân tích, đánh giá
các số liệu, thông tin thu thập được để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ
CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Khái niệm, mục tiêu và vai trò của nông thôn mới
1.1.1. Các khái niệm
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở: "Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ
những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng
nông nghiệp".
Trong quản lý hành chính nhà nước, theo Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT
ngày 21/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nông thôn
là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được
quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Như vậy, nông thôn, trước hết đó không phải là đô thị (về không gian sống, về
cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con người và sinh kế), là môi trường sống
của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét
đặc thù của khu vực nông thôn. Nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ
yếu bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu; về cơ cấu kinh tế, nông
nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu; bên cạnh nông dân sống bằng nghề nông nghiệp,
khu vực nông thôn vẫn có một số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp, chủ yếu
là kinh doanh nhỏ, làm nghề truyền thống với phân công lao động giản đơn, trình độ
sản xuất không cao. Một trong những đặc điểm lớn của cư dân nông thôn là có mối
quan hệ họ tộc và gia đình khá chặc chẽ, khắn khít, tính cộng đồng cao, các thiết
chế xã hội như gia đình, dòng họ, làng xóm... chi phối lớn đến hành vi của mỗi
người.
Về NTM: hiện nay có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau về NTM,
tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng nhà nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau
như: văn hóa, xã hội học, kinh tế, quản lý nhà nước... Theo Nghị quyết 26-NQ/TW
ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về Nông nghiệp, nông dân, nông
Giai đoạn 2010-2020: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH từng bước
hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp
với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo
9
quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi
trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và
tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Đến năm 2016, sau khi kết thúc giai đoạn 2010-2015, một số nội dung mục
tiêu tổng quát được điều chỉnh, bổ sung. Theo đó, khẳng định xây dựng NTM để
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng KT-XH
phù hợp (trước đây là hiện đại). Các nội dung còn lại cơ bản giữ như mục tiêu
chung đưa ra năm 2010 cho giai đoạn 2010-2020.
- Mục tiêu cụ thể:
Đối với cả nước: đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM; đến năm
2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn NTM.
Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đưa ra mục tiêu cụ thể hơn cho giai đoạn
2016-2020. Mục tiêu phấn đấu số xã đạt NTM của từng vùng, miền là: Miền núi
phía Bắc: 28,0%; Đồng bằng sông Hồng: 80%; Bắc Trung Bộ: 59%; Duyên hải
Nam Trung Bộ: 60%; Tây Nguyên 43%; Đông Nam Bộ: 80%; Đồng bằng sông Cửu
Long: 51%); Khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có
ít nhất 01 huyện đạt chuẩn NTM. Bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã (trong đó,
mục tiêu phấn đấu của từng vùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 13,8; Đồng bằng
sông Hồng: 18,0; Bắc Trung Bộ: 16,5; Duyên hải Nam Trung Bộ: 16,5; Tây
Nguyên: 15,2; Đông Nam Bộ: 17,5; Đồng bằng sông Cửu Long: 16,6); cả nước
không còn xã dưới 5 tiêu chí. Cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng
yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn: giao thông, điện,
nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã; Nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân
hoạch phát triển hạ tầng KT-XH - môi trường, quy hoạch phát triển các khu dân cư.
- Về hạ tầng KT-XH: mô hình NTM với những yêu cầu cụ thể về đường giao
thông, hệ thống kênh mương thủy lợi, hạ tầng trường lớp học, điện, chợ, cơ sở vật
chất văn hóa và đặt biệt là nhà ở dân cư, là tiền đề trọng để thay đổi bộ mặt nông
thôn, đáp ứng các nhu cầu phát triển KT-XH. Thực trạng chung của hạ tầng khu vực
nông thôn Việt Nam hiện nay là vừa yếu, vừa thiếu đồng bộ, trong khi nguồn lực
đầu tư hết sức hạn chế. Khi xây dựng NTM, bắt buộc các cấp chính quyền phải huy
động, lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Một trong
11
những thuận lợi là có một số cơ chế đầu tư, huy động và quản lý, sử dụng vốn đặc
thù khi phát triển kết cấu hạ tầng trong xây dựng NTM, nên tiến độ đầu tư nhanh
hơn, hiệu quả sử dụng cao hơn và nguồn lực được huy động nhiều hơn so với trước
đây.
- Về kinh tế: xây dựng mô hình NTM sẽ tạo điều kiện để khu vực nông thôn
phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá, hướng đến thị trường, giảm nhanh tỷ lệ hộ
nghèo, nâng cao mức sống và thu nhập trong dân cư. Để giải quyết tốt vấn đề này,
nhà nước phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ các mô hình sản xuất hiệu quả, phù hợp
với đặc điểm của từng địa phương, định hướng tổ chức sản xuất theo quy hoạch,
tính toàn hài hòa đầu vào - đầu ra, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng
đất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất; từng bước chấm dứt
tình trạng sản xuất manh mún, tự cung tự cấp, tự phát.
- Về con người, văn hóa, xã hội, môi trường:
+ Xây dựng NTM đòi hỏi cần phải có con người nông dân "mới", có trình độ
trong sản xuất, văn hóa trong ứng xử, sống hài hòa với môi trường tự nhiên, xã hội.
Để làm được điều này phải có quá trình lâu dài, từng bước thay đổi nhận thức, xóa
bỏ những tập quán lạc hậu, phản khoa học, hình thành những thói quen mới văn
minh.
+ Sự phát triển kinh tế thường kéo theo nhiều hệ lụy cho xã hội, cũng như áp
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991): Đại hội đã thông qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn
định và phát triển KT-XH đến năm 2000. Đại hội xác định phát triển nông, lâm, ngư
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây
dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình KT-XH.
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996): Đại hội xác định phải đặc
biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; đồng thời chỉ
rõ nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Cụ thể hóa nội
dung Nghị quyết Đại hội Đảng, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng
khóa VIII đã ra Nghị quyết về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại hóa,
phấn đấu hoàn thành các mục tiêu KT-XH đến năm 2000”, trong đó, chủ trương:
13
đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông
thôn; giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh các hình thức
kinh tế hợp tác, đổi mới các hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp
và nông thôn, phát triển các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa. Ngày 10 tháng
11 năm 1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ra Nghị quyết số 06 – NQ/TW về một số
vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn, với một số quan điểm như: coi trọng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa
nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản
xuất với thị trường để hình thành sự liên kết công – nông nghiệp – dịch vụ và thị
trường; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng NTM; gắn công nghiệp hóa với
dân chủ hóa và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn; phát huy lợi thế của
từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển
nông nghiệp hàng hóa; phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế,
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành
vệ môi trường sinh thái của đất nước; các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước... Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ
của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa
thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động
lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM, nâng cao đời sống nhân dân.
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011): Đại hội đã thông qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát
triển năm 2011), trong đó đã xác định những định hướng lớn về phát triển kinh tế văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là: phát triển nông, lâm, ngư nghiệp
ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến
và xây dựng NTM [46, tr.75]. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020
cũng xác định rõ định hướng trong xây dựng NTM.
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (năm 2016): Quan điểm Đảng ta xác định
một trong những định hướng lớn để sớm đạt được mục tiêu nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại là phát triển nông nghiệp và kinh tế nông
15
thôn gắn với xây dựng NTM. Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đến nay, quan điểm, chủ trương, biện
pháp về xây dựng NTM của Đảng ta ngày càng rõ và đến Đại hội X thì thống nhất
chỉ đạo trên phạm vi toàn quốc.
Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều
quyết định và triển khai thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM hết sức thận
trọng và bài bản với việc chọn tổ chức thí điểm tại 11 xã trong cả nước, tổ chức sơ
kết trước khi triển khai đồng loạt trên cả nước.
1.3. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng nông thôn mới
Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, sau hơn 2 năm triển khai thực
NTM và quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây
dựng NTM.
+ Quyết định số 1730/QĐ-TTg ngày 05/9/2016 về việc ban hành kế hoạch tổ
chức thực hiện phong trào thi đua “cả nước chung sức xây dựng NTM“ giai đoạn
2016-2020.
+ Quyết định 695/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn
thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020.
+ Quyết định 498/QĐ-TTg ngày 21/3/2013 bổ sung cơ chế đầu tư Chương
trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020.
+ Quyết định 372/QĐ-TTg ngày 14/3/2014 về việc xét công nhận và công bố
địa phương đạt chuẩn NTM.
+ Quyết định 1996/QĐ-TTg ngày 04/11/2014 về quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn tổ chức và biên chế của Văn phòng điều phối giúp Ban chỉ đạo thực
hiện chương trình MTQG xây dựng NTM các cấp.
+ Quyết định 1610/QĐ-TTg ngày 16/9/2011 phê duyệt Chương trình thực hiện
Phong trào thi đua "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" giai đoạn 20112015, định hướng đến năm 2020.
- Văn bản do các bộ, ngành trung ương ban hành: Để triển khai thực hiện
chương trình MTQG xây dựng NTM, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ,
17
ngành trung ương đã ban hành nhiều thông tư và thông tư liên bộ hướng dẫn triển
khai thực hiện, cụ thể:
+ Thông tư 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 Bộ Nông nghiệp và
PTNT về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM;
+ Thông tư 40/2014/TT-BNNPTNT ngày 13/11/2014 Bộ Nông nghiệp và
PTNT về hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện,
tỉnh đạt chuẩn NTM;
+ Thông tư 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của liên
Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Kế hoạch và Đầu tư – Tài chính về
2020” ban hanh theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng
Chính phủ;
+ Thông tư 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn
quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết sử dụng đất bố trí dân cư và hạ tầng công cộng;
quy hoạch chi tiết sản xuất công nghiệp - dịch vụ (và hạ tầng kèm theo);
+ Thông tư 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 08/3/2011 của Bộ Văn hóa thể thao
và Du lịch quy định mẫu về tổ chức hoạt động và tiêu chí của Nhà Văn hóa - Khu
thể thao thôn;
+ Thông tư liên tịch 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNN-BTN&MT ngày
28/10/2011 của liên Bộ: Xây dựng, NN&PTNT, Tài nguyên và Môi trường quy
định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã NTM;
+ Thông tư 17/2011/TT-BVHTTDL ngày 02/12/2011 của Bộ Văn hóa thể thao
và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Xã đạt
chuẩn văn hóa NTM”;
+ Thông tư 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 của Bộ Văn hóa thể thao
và Du lịch quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm Văn hóa Thể thao xã;
+ Thông tư 23/TT-BCA ngày 27/4/2012 của Bộ Công an quy định về khu dân
cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường đạt tiêu chuẩn an toàn
về an ninh, trật tự;
+ Thông tư 03/2013/TT-BKHĐT ngày 13/8/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 21/3/2013 của Thủ tướng
19
Chính phủ bổ sung cơ chế đầu tư Chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn
2010-2020.
+ Thông tư liên tịch 01/VBHN-BNNPTNT ngày 14/01/2014 của liên Bộ: NNBKHĐT-BTC về hợp nhất Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNTBKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 và Thông tư liên tịch số 51/2013/TTLT-BNNPTNTBKHĐT-BTC ngày 02/12/2013
+ Thông tư 05/2014/TT-BVHTTDL ngày 30/5/2014 của Bộ Văn hóa thể thao
và Du lịch về sửa đổi, bổ sung Điều 6 của Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL
ngày 22 tháng 12 năm 2010 quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của