VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÚY HÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÚY HÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành
: Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
Trần Thị Thúy Hà
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Võ Khánh Vinh
Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép của
người khác. Các kết luận nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở lý luận đến thực
tiễn của vấn đề luận văn cần giải quyết.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
Tác giả luận văn
Trần Thị Thúy Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI ............................................................................. 7
1.1. Chính sách bình đẳng giới hiện hành ......................................................... 7
1.2. Khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách bình
đẳng giới .......................................................................................................... 15
1.3. Nội dung các bước thực hiện chính sách bình đẳng giới ......................... 18
1.4.Các phương pháp thực hiện chính sách bình đẳng giới ............................ 21
1.5. Các chủ thể thực hiện chính sách bình đẳng giới .................................... 23
1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới .... 25
Kết luận Chương 1 .......................................................................................... 28
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG
GIỚI TẠI TỈNH QUẢNG NAM.................................................................. 29
Luật Bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình, một số luật khác và các
văn bản dưới luật có liên quan. Ngoài ra, còn có cả những quy phạm pháp luật được
ban hành với mục đích nhằm tạo điều kiện, cơ hội cho tất cả mọi người được đảm
bảo sự công bằng trên nhiều lĩnh vực như lao động, việc làm, giáo dục, y tế, tham
gia chính trị ...
Qua nhiều năm tổ chức thực hiện các chính sách về bình đẳng giới, địa vị của
người phụ nữ (được cho là nhóm người yếu thế, chịu nhiều bất lợi) trong xã hội và
vấn đề bình đẳng giới đã được cải thiện và đạt được những tiến bộ đáng kể. Tỷ lệ bé
gái theo học tiểu học đã tăng gần gấp đôi. Tuổi thọ bình quân của phụ nữ tăng từ
10-15 năm và cao hơn nam giới, phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động
sản xuất, đội ngũ trí thức nữ đang phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, số
lượng nữ tham gia quản lý nhà nước tăng, Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam đang có
mặt ở hầu hết cơ quan quản lý hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Phụ nữ
chiếm 50,3% số người làm công ăn lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp....
1
Tuy nhiên, kết quả đó chỉ là bước đầu, nó chưa thực sự mang tính bền vững và
đang đặt ra nhiều vấn đề cần lời giải đáp. Qua thực tế cho thấy tại tỉnh Quảng Nam,
tuy số lượng phụ nữ tham gia quản lý nhà nước tăng lên về con số tuyệt đối, song tỷ
trọng lại có xu hướng giảm, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng, chính quyền, đại biểu
dân cử vẫn còn thấp, chưa ổn định. Tình trạng phổ biến hiện nay là nữ cán bộ khoa
học là lực lượng tham gia (đôi khi là lực lượng chính) vào các công trình khoa học
công nghệ cấp tỉnh, cấp nhà nước, còn người chủ trì các công trình này chủ yếu lại
là cán bộ nam, tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh khá cao, việc tiếp cận với giáo
dục của trẻ em gái và phụ nữ vùng dân tộc thiểu số còn gặp nhiều trở ngại, tồn tại
một lực lượng lớn cả nam và nữ đều coi nam giới là trụ cột gia đình, xem công việc
chăm sóc gia đình hiển nhiên là trách nhiệm và vai trò dành riêng cho người phụ
nữ...Thực trạng bất bình đẳng giới tỉnh Quảng Nam vẫn còn tồn tại khá phổ biến
triển”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2012; Võ Khánh Vinh (chủ biên) - Viện Khoa
học xã hội Việt Nam:“Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”, Nxb Khoa học
xã hội, năm 2011; GS. Võ Khánh Vinh (chủ biên) - Viện khoa học xã hội Việt Nam:
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự, chính trị” - Nxb khoa
học xã hội Việt Nam; GS. Võ Khánh Vinh (chủ biên) - Viện khoa học xã hội Việt
Nam: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã
hội”; TS Nguyễn Thị Hồi về “Vấn đề bình đẳng giới trên thế giới”, Lương Phan Cừ
về “Bình đẳng giới- hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới”, Nguyễn
Thị Báo (2003) về “Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và cuộc sống gia
đình”,Phạm Thị Mộng Hoa; trưởng nhóm công tác Ngân hàng Thế giới “Đánh giá
tình hình giới ở Việt Nam”, TS Lê Thị Vinh Thi về “Chính sách xã hội đối với phụ
nữ nông thôn”, GS. Đặng Cảnh Khanh và PGS. Lê Thị Quý về cuốn sách “Gia đình
học”, luận án TS Chu Thị Thoa “Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn
đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Viện nghiên cứu Phát triển xã hội với nghiên cứu
“Các yếu tố xã hội quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam”, bên cạnh đó còn rất
nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, bài báo...viết về các chính sách
bình đẳng giới đăng trên nhiều tạp chí Cộng sản như: khoa học về phụ nữ, Nghiên
cứu lý luận, Xã hội học...
Những công trình nêu trên có ý nghĩa hết sức quan trọng, đã đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến chính sách bình đẳng giới và pháp luật
3
về quyền của phụ nữ. Nhưng rất hiếm công trình khoa học, báo cáo nghiên cứu
về vấn đề thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Việt Nam. Vì vậy, luận văn sẽ
nghiên cứu về thực trạng thực hiện và đề xuất giải pháp hoàn thiện việc thực thi chính
sách về bình đẳng giới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
ước quốc tế Việt Nam tham gia, ký kết về quyền bình đẳng nam, nữ; bình đẳng giới;
vì sự tiến bộ của phụ nữ. Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã
hội và vận dụng triệt để các phương pháp nghiên cứu chính sách công. Các phương
pháp này giúp cho việc nghiên cứu đề tài được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, từ
đó hoàn thiện hơn nữa việc thực thi chính sách về bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Nam
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đa số các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này cụ thể
như: thu thập thông tin, khảo sát thực địa, tổng hợp, phân tích, đối chiếu, so sánh...
các phương pháp này được sử dụng đan xen, phối hợp nhằm đem lại hiệu quả trong
nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu
thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên
cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ
ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu
thống kê về chính sách bình đẳng giới.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Sử dụng phương pháp điều tra thực địa nhằm mục đích so sánh, với các số liệu
thu thập được; thu thập bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại tỉnh Quảng Nam
nhằm củng cố tính xác thực các số liệu thu thập được.
- Phương pháp phân tích chính sách: Là đánh giá tính toàn vẹn, tính thống
nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh cho phù hợp với mục
tiêu và thực tế.
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu,
tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân
tích, dự đoán và đề ra các quyết định.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1. Chính sách bình đẳng giới hiện hành
Hơn 70 năm đã trôi qua kể từ khi bản Tuyên ngôn Độc lập vang lên giữa
quảng trường Ba Đình lịch sử, song tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về quyền con người vẫn có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Tư tưởng đó đã được kế thừa,
phát triển trong nhiều bản Hiến pháp của Việt Nam. Đặc biệt, trong Hiến pháp mới
nhất năm 2013, tư tưởng này đã thể hiện một cách rõ nét và đang đi vào cuộc sống
thông qua các đạo luật. Hiến pháp 2013 đã dành hẳn một chương riêng quy định về
Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Với việc tích cực triển
khai xây dựng và ban hành các văn bản Luật nhằm cụ thể hóa Hiến pháp 2013 về
quyền con người đã cho thấy những nỗ lực của Việt Nam trong việc tôn trọng và
bảo đảm quyền con người. Bởi, tôn trọng quyền con người, đấu tranh vì quyền con
người chính là khát vọng của dân tộc ta, là mục tiêu phấn đấu của Đảng ta trong
suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng. Song song với tiến trình đảm bảo quyền con
người thì vấn đề bình đẳng giới cũng luôn được nhấn mạnh một cách rõ nét. Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định:“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng
như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Quyền bình đẳng giới được xác
lập trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946 khi nước nhà giành được chính quyền, tiếp
tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp tiếp đó và được thể hiện ở nhiều
chính sách khác nhau. Vị trí, vai trò của phụ nữ được xã hội tôn trọng và pháp luật
bảo vệ trên cơ sở quyền con người, làm cơ sở, điều kiện cho phụ nữ phát triển tài
năng và tham gia hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày càng
nhiều phụ nữ tiêu biểu trên các lĩnh vực và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý
xã hội. Chính vì vậy, bình đẳng giới của Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là
điểm sáng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Nhận thức về vai trò, vị trí
quan trọng của phụ nữ, ngay khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, chủ trương
nước cam kết thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm xoá bỏ sự phân biệt đối với phụ nữ
dưới tất cả các hình thức. CEDAW là công cụ quan trọng góp phần cải thiện địa vị
8
pháp lý của phụ nữ ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội ở 186 quốc
gia đã phê chuẩn. CEDAW là công cụ pháp lý duy nhất về quyền của phụ nữ, trở
thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống Điều ước quốc tế về quyền con người
của Liên hợp quốc.
Quyền bình đẳng của nam và nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền con
người; là một trong những nguyên tắc cơ bản được luật pháp quốc tế thừa nhận và
được nêu ở các văn kiện quốc tế chủ yếu về nhân quyền. Công ước quốc tế về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; bảo vệ những quyền có ý nghĩa căn bản đối với
nhân phẩm của mỗi người. Cụ thể là Điều 3 của Công ước đã nêu ra quyền bình
đẳng giữa nam và nữ trong việc hưởng thụ các quyền mà Công ước quy định. Điều
khoản này được xây dựng dựa trên Điều 1, khoản 3, Hiến chương Liên hợp quốc và
Điều 2 của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người. Ngoài ra quy định này
cũng rất giống với quy định ở Điều 3 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị.
Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn
hóa thì những quyền giống nhau phải được thừa nhận rộng rãi cho cả nam và nữ
trên cơ sở bình đẳng và cần phải có các biện pháp hợp lý để bảo đảm rằng phụ nữ
có cơ hội để thực hiện quyền của họ. Việc thụ hưởng các quyền con người một cách
bình đẳng giữa nam và nữ cần phải được hiểu toàn diện. Sự bảo đảm không phân
biệt đối xử và bình đẳng trong các điều ước quốc tế về nhân quyền khẳng định sự
bình đẳng cả trong pháp luật và trên thực tế. Sự bình đẳng trong pháp luật và sự
bình đẳng trên thực tế là những khái niệm khác nhau nhưng liên quan với nhau.
Sự bình đẳng hình thức có nghĩa là luật pháp và chính sách đối xử với nam và nữ
phải công bằng như nhau. Sự bình đẳng thực chất cũng có nghĩa đó nhưng bổ
- Hội nghị Thế giới lần thứ IV về phụ nữ thông qua Tuyên bố Bắc Kinh và
chương trình hành động năm 1995.
- Giới và quyền bình đẳng của phụ nữ được thảo luận trong Hội nghị Liên
hiệp quốc về môi trường và phát triển ở Riode Zanero năm 1992.
- LHQ thông qua Công ước về kết hôn tự nguyện, tuổi tối thiểu khi kết hôn và
việc đăng ký kết hôn năm 1962.
- Hiến chương LHQ khẳng định vị thế bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ năm
1945.
10
- Các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế về bình đẳng giới: Các Công ước
của Tổ chức Lao động Quốc tế tập trung chủ yếu vào lĩnh vực lao động, bao gồm:
Công ước số 100 về trả công như nhau cho lao động làm công việc có giá trị
ngang nhau. Công ước này thúc đẩy sự trả công công bằng cho lao động nam và lao
động nữ khi họ làm không chỉ những công việc giống nhau mà cả những công việc
có giá trị như nhau.
Công ước số 183 về Bảo vệ thai sản, khuyến khích các quốc gia thành viên
tăng cường hơn nữa vấn đề bảo vệ thai sản trong hệ thống pháp luật và thông lệ của
quốc gia mình với các quy định cụ thể như bảo vệ sức khỏe, chế độ nghỉ thai sản,
nghỉ ốm, bảo trợ việc làm và không phân biệt đối xử với lao động nữ trong thời gian
mang thai và cho con bú.
1.1.2. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hiến pháp năm 1946: Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa khẳng định, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được công nhận.“Đàn bà ngang
quyền đàn ông về mọi phương diện”[22]. Có thể nói, quy định này có ý nghĩa rất
lớn trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới được thành lập, góp
phần phá tan xiềng xích tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến, chế
độ thuộc địa nửa phong kiến.
khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng
thành quả của sự phát triển”[31].
Điều 11. BĐG trong lĩnh vực chính trị: “Nam, nữ bình đẳng trong tham gia
quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội. Nam,nữ bình đẳng trong tham gia
xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế
của cơ quan, tổ chức. Nam,nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu
ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;tự ứng cử và được giới thiệu
ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị
trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức”[31].
Điều 12. BĐG trong lĩnh vực kinh tế: “Nam, nữ bình đẳng trong việc thành
lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp,
12
bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao
động”[31].
Điều 13. BĐG trong lĩnh vực lao động: “Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ
tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công,
tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.
Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức
danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh”[31].
Điều 14. BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: “Nam, nữ bình đẳng về độ
tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng, bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập,
đào tạo. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về
giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Nữ cán bộ, công chức, viên
chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi
được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ” [31].
- Chiến lược quốc gia về BĐG giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu tổng quát
“Đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về
cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã
hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”[12, Tr.8]. Mục
tiêu cụ thể là: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo,
nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị; Giảm khoảng
cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; Tăng cường sự tiếp cận của phụ
nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế,
thị trường lao động; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự
tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; Bảo đảm
BĐG trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; Bảo đảm BĐG
trong lĩnh vực văn hóa và thông tin; Bảo đảm BĐG trong đời sống gia đình, từng
bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới; Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về BĐG.
- Chương trình quốc gia về BĐG giai đoạn 2011 - 2015 với mục tiêu
Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức nhằm thúc đẩy toàn xã hội thay
đổi hành vi thực hiện BĐG; từng bước thu hẹp khoảng cách giới và nâng vị thế của
phụ nữ trong một số lĩnh vực còn bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất BĐG cao, góp
phần thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về BĐG giai đoạn
2011 - 2020.
14
1.2. Khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách
bình đẳng giới
1.2.1. Khái niệm Giới, bình đẳng giới:
Khái niệm Giới: Giới là những quan niệm, những mong đợi của xã hội về đặc
điểm, vai trò, vị trí của nam hoặc nữ. Những quan niệm này do dạy và học mà có,
không thống nhất theo không gian và thời gian, có thể thay đổi.
Khái niệm bình đẳng giới: Theo Điều 3 Luật bình đẳng giới khẳng
đời sống xã hội, tác động đến mọi tầng lớp nhân dân với mục tiêu thay đổi nhận
thức, các hành vi ứng xử với phụ nữ theo chiều hướng tích cực.
Tổ chức thực thi chính sách BĐG là một quá trình hành động gồm nhiều bước
khác nhau với nhiều phương pháp và nội dung khác nhau nhằm làm giảm sự chênh
lệch giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ
hưởng thành quả của sự phát triển và nâng cao vị thế của phụ nữ trong những lĩnh
vực còn bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng cao.
1.2.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực thi chính sách bình đẳng giới
Thực hiện chính sách BĐG là một khâu hợp thành chu trình chính sách về
bình đẳng giới. Đây là một quá trình có thể nói là trung tâm kết nối các bước trong
chu trình chính sách. Thực hiện là giai đoạn có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là
bước hiện thực hoá các chính sách BĐG trong đời sống xã hội. Chính sách BĐG sẽ
trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào tổ chức thực hiện. Mục tiêu của
chính sách sẽ không thực hiện được nếu chính sách không được thực thi.
Thực thi chính sách BĐG là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực.
Tổ chức thực thi chính sách BĐG để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách
về BĐG và mục tiêu chung. Từng bước thực hiện mục tiêu của chính sách BĐG
trong mục tiêu chung của quốc gia. Mục tiêu chính sách BĐG có liên quan đến
nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không
thể cùng một lúc giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan và cũng không thể đốt
cháy giai đoạn của mỗi quá trình. Thực thi chính sách BĐG để giải quyết các vấn đề
trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu cơ bản nhất để thúc đẩy quá trình vận
động của cả hệ thống đến mục tiêu chung.
Thực thi chính sách là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách về BĐG.
Một khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tính
16
đúng đắn của chính sách được khẳng định ở mức cao hơn, được cả xã hội thừa
khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của
chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước). Chính sách bình
đẳng giới được thực hiện đúng sẽ tăng độ tin tưởng của nhân dân đối với nhà nước.
Qua thực hiện mới biết được chính sách bình đẳng giới có đúng, phù hợp và đi vào
cuộc sống hay không. Thực hiện chính sách bình đẳng giới sẽ góp phần điều chỉnh,
bổ sung và hoàn thiện chính sách bình đẳng giới cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng
yêu cầu của cuộc sống. Đồng thời, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới làm cơ
sở để phân tích, đánh giá một chính sách binhf đẳng giới (mức độ tốt, xấu). Kết quả
thực hiện chính sách bình đẳng giới là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính
xác, khách quan và khoa học về chất lượng và hiệu quả của chính sách bình đẳng
giới.
1.3. Nội dung các bước thực hiện chính sách bình đẳng giới
Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bình đẳng giới:
Các cơ quan từ TW đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện
chính sách BĐG bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Kế hoạch về tổ chức, điều hành
Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực
Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện
Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách
Dự kiến những nội qui, qui chế về tổ chức điều hành, về trách nhiệm, quyền
hạn, nhiệm vụ của các cá nhân, tổ chức tham gia, điều hành chính sáchBĐG; về các
biện pháp khen thưởng, kỷ luật
Kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch thực thi chính sách BĐG do lãnh đạo có
thẩm quyền các cấp xem xét thông qua.
Phổ biến, tuyên truyền chính sách bình đẳng giới:
Trước hết cần tổ chức phổ biến cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ
chức thực thi, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, để họ nắm vững về mục đích, yêu cầu
chính sách BĐG, phục vụ tốt trong quá trình thực thi chính sách BĐG và thực hiện
Là làm cho chính sách BĐG sống được trong môi trường thực tế và phát huy
tác dụng. Phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính
sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi và giám sát chính sách về BĐG.
19
Nếu gặp phải khó khăn do môi trường biến động các cơ quan Nhà nước cần sử
dụng các công cụ quản lý tác động tạo môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính
sách BĐG. Chủ động điều chỉnh chính sách BĐG cho phù hợp với hoàn cảnh mới
và tình hình thực tế của mỗi địa phương, mỗi ngành.
Các cơ quan Nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để
duy trì chính sách BĐG.
Tăng cường thực hiện dân chủ để tất cả mọi người dân mạnh dạn tham gia
quản lý xã hội, trong đó tự giác chấp hành chính sách BĐG và tham gia tìm kiếm,
đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hiện mục tiêu của chính sách BĐG.
Điều chỉnh chính sách bình đẳng giới:
Đây là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức
thực thi chính sách bình đẳng giới nhằm giúp chính sách ngày càng phù hợp với yêu
cầu quản lý và tình hình thực tế.
Các cơ quan nhà nước các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ
chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách BĐG, miễn là không làm thay
đổi mục tiêu chung của chính sách BĐG. Cơ quan nào ban hành chính sách cơ quan
đó có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách.
Cơ quan ban hành (Chính phủ hay Quốc hội) hoàn thiện mục tiêu và điều
chỉnh chính sách BĐG dựa trên nguyên tắc: chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ
chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế.
Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách về BĐG, thì
coi như chính sách đó không tồn tại.
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bình đẳng giới: