Thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi (Lv thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ LÊ DUNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ LÊ DUNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

: 60 34 04 02




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực
tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Hữu Minh. Các số
liệu, tư liệu nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn

Phạm Thị Lê Dung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ....................................................... 8
1.1. Các khái niệm công cụ cơ bản và ý nghĩa của việc thực hiện chính sách BĐG .. 8
1.2. Nội dung các bước thực hiện chính sách bình đẳng giới ................................... 11
1.3. Các phương pháp thực hiện chính sách bình đẳng giới ..................................... 14
1.4. Các chủ thể thực hiện chính sách bình đẳng giới ............................................... 15
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới .............. 18
1.6. Chính sách bình đẳng giới hiện hành ................................................................. 21
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG
GIỚI TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI ........................................................................... 30
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới tại tỉnh
Quảng Ngãi ............................................................................................................... 30
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách BĐG tại tỉnh Quảng Ngãi ................. 35
2.3. Kết quả thực hiện chính sách bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi .................... 48
2.4. Đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới tại tỉnh

: Liên hiệp phụ nữ

NK:

: Nhiệm kỳ

UBND

: Ủy ban nhân dân

UNESCO

: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

1.

Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp


gia trên thế giới quan tâm, nó là một mục tiêu phát triển đồng thời là yếu tố nâng
cao khả năng tăng trưởng của mỗi quốc gia. Nam nữ bình đẳng là một trong những
quyền cơ bản của con người, trong xã hội dân chủ, quyền này luôn được coi trọng.
Ở Việt Nam, chủ trương bình đẳng giới được đề ra ngay từ khi Đảng Cộng sản ra
đời. Chính sách BĐG thật sự là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của chính sách phụ vận qua
các thời kỳ phát triển của nhà nước ta. Vị trí, vai trò của nữ giới dần được xã hội tôn
trọng và tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ từng bước đóng góp nhiều hơn vào sự
phát triển chung của xã hội.
Hiện nay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều Luật để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của phụ nữ: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật
phòng chống bạo lực gia đình, một số luật và các văn bản khác dưới luật có liên
quan. Ngoài ra, còn có những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành với mục
đích nhằm tạo điều kiện, cơ hội cho tất cả mọi người đảm bảo sự công bằng trên
nhiều lĩnh vực như lao động, việc làm, giáo dục, y tế, tham gia chính trị ...
Qua nhiều năm tổ chức thực hiện các chính sách về BĐG, địa vị của người
phụ nữ (vốn được cho là nhóm người yếu thế, chịu nhiều bất lợi) trong xã hội đã
được cải thiện và đạt được những tiến bộ đáng kể. Tỷ lệ bé gái theo học tiểu học đã
tăng cao. Tuổi thọ bình quân của phụ nữ tiếp tục tăng và cao hơn nam giới, phụ nữ
tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động sản xuất, đội ngũ trí thức nữ đang phát
triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, số lượng nữ tham gia quản lý nhà nước
tăng dần, Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản lý
hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Theo báo cáo điều tra lao động việc làm
Quý I/2017 của Tổng cục thống kê, phụ nữ chiếm 48,1% lực lượng lao động cả
nước và 31,4% các chủ doanh nghiệp...
Tuy nhiên, kết quả đó chỉ là bước đầu, nó chưa thực sự mang tính bền vững.
Qua thực tế cho thấy tại tỉnh Quảng Ngãi, tuy số lượng phụ nữ tham gia quản lý nhà

1




2


chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ)… Một số công trình, đề tài nghiên cứu tiêu
biểu của các chuyên gia dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau như: Trần Thị
Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh “Bình đẳng giới ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội,
năm 2008; Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh “Nghiên cứu gia đình và giới
thời kỳ đổi mới”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2009; Trần Thị Báo “Quyền bình đẳng
của phụ nữ trong sự nghiệp và cuộc sống gia đình”, Nxb Lý luân chính trị, năm
2013; Nguyễn Đăng Dung, Lã Khánh Tùng – Đại học Quốc gia Hà Nội, “Quyền
kinh tế, xã hội, văn hóa trong pháp luật và thực tiễn Việt Nam”, Nxb Lao động xã
hội, năm 2011; Lê Thị Quý, “Giáo trình xã hội học giới”, Nxb Giáo dục Việt Nam
2010; TS Nguyễn Thị Hồi về “Vấn đề bình đẳng giới trên thế giới”, Lương Phan
Cừ về “Bình đẳng giới- hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới”,
Nguyễn Thị Báo (2003) về “Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và cuộc
sống gia đình”, Phạm Thị Mộng Hoa; trưởng nhóm công tác Ngân hàng Thế giới
“Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam”, Lê Thị Vinh Thi về “Chính sách xã hội đối
với phụ nữ nông thôn”, Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý về cuốn sách “Gia đình
học”, luận án TS Chu Thị Thoa “Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn
đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Viện nghiên cứu Phát triển xã hội với nghiên cứu
“Các yếu tố xã hội quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam”, Cơ quan Liên Hợp
Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ “Hướng tới bình đẳng giới ở
Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ”, năm 2016; bên cạnh đó còn
rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, bài báo...viết về các chính sách
bình đẳng giới đăng trên nhiều tạp chí Cộng sản như: khoa học về phụ nữ, Nghiên
cứu lý luận, Xã hội học...
Những công trình nêu trên có ý nghĩa hết sức quan trọng, đã đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến chính sách bình đẳng giới như lĩnh vực
kinh tế, chính trị, lao động việc làm, y tế, giáo dục...và pháp luật về quyền của

Trình bày nội dung các chính sách bình đẳng giới đang thực hiện tại tỉnh
Quảng Ngãi.
Phân tích thực trạng, đánh giá việc thực hiện chính sách bình đẳng giới tại tỉnh
Quảng Ngãi. Qua đó chỉ rõ ưu điểm, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện
chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện chính
sách bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi.

4


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về các chính sách bình đẳng giới, nghiên
cứu thực trạng thực hiện và giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách bình
đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về những chính sách đang tồn tại liên quan đến
việc thúc đẩy bình đẳng giới, thực tiễn thực hiện chính sách BĐG; trong đó tập
trung nghiên cứu chủ yếu một số lĩnh vực cơ bản như BĐG trong lĩnh vực chính trị,
kinh tế-việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe tại tỉnh Quảng Ngãi và trên cơ sở đó
đề xuất những giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách BĐG.
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi không gian tỉnh Quảng Ngãi là chủ yếu và
trong khoảng thời gian 05 năm; từ năm 2010 đến năm 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học MácLênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các Công
ước quốc tế Việt Nam tham gia, ký kết về quyền bình đẳng nam, nữ; bình đẳng giới;
vì sự tiến bộ của phụ nữ. Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã
hội học và phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm

đạt được trong quá trình thực hiện chính sách ở tỉnh.
- Phương pháp thống kê:
Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng
của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra
các quyết định.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu về chính sách BĐG không phải là vấn đề mới ở Việt Nam
nhưng lại rất mới mẻ tại tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt là lĩnh vực nghiên cứu về vấn
đề thực hiện chính sách. Vì vậy, kết quả phân tích việc thực hiện chính sách
BĐG ở Quảng Ngãi sẽ góp phần bổ sung, làm phong phú hệ thống lý luận về quá
trình thực hiện chính sách cũng như các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính
sách BĐG.

6


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo, vận dụng trong quá trình
xây dựng, hoàn thiện và quá trình thực hiện các chính sách về BĐG ở tỉnh Quảng
Ngãi hiện nay. Kết quả của đề tài có thể là cơ sở để hoàn thiện và phát triển thành
chiến lược phát triển BĐG giai đoạn 2020-2030 của tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở đề
tài này có thể xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể, có hạng mục ngân sách riêng để
tổ chức các nội dung nhằm góp phần thúc đẩy BĐG tại tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài ra,
những kết quả của luận văn có thể được vận dụng làm tài liệu nghiên cứu về tổ chức
thực hiện các chính sách BĐG tại Việt Nam nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu làm ba chương.
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bình đẳng giới.

để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát
triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả
bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội.
BĐG không chỉ đơn giản là nam giới và phụ nữ hay trẻ em trai và trẻ em gái
có số lượng tham gia như nhau trong mọi hoạt động mà BĐG có nghĩa là nam giới

8


và nữ giới được hưởng các vị thế xã hội ngang nhau. BĐG không có nghĩa nam giới
và nữ giới là giống nhau mà có nghĩa là sự tương đồng và sự khác biệt của họ được
thừa nhận, được coi trọng như nhau; có nghĩa là nam giới và nữ giới được tạo những
điều kiện ngang nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của bản thân và có cơ hội để
tham gia đóng góp và hưởng lợi như nhau từ các hoạt động phát triển của cộng đồng
trên mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội; điều quan trọng, BĐG có nghĩa là
nam giới và nữ giới được thụ hưởng các thành quả một cách bình đẳng.
Tổ chức thực hiện chính sách BĐG là toàn bộ quá trình chuyển hoá cách ứng
xử của chủ thể thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định
hướng và phát triển về BĐG.
Tổ chức thực hiện chính sách BĐG là bước hiện thực hoá chính sách BĐG vào
đời sống xã hội, tác động đến mọi tầng lớp nhân dân với mục tiêu thay đổi nhận
thức, các hành vi ứng xử với phụ nữ theo chiều hướng tích cực.
Tổ chức thực hiện chính sách BĐG là một quá trình hành động gồm nhiều
bước khác nhau với nhiều phương pháp và nội dung khác nhau nhằm làm giảm sự
chênh lệch giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và
thụ hưởng thành quả của sự phát triển và nâng cao vị thế của phụ nữ trong những
lĩnh vực còn bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng cao.
1.1.2. Ý nghĩa của việc thực hiện chính sách bình đẳng giới
Thực hiện chính sách BĐG là một khâu hợp thành chu trình chính sách về
bình đẳng giới. Đây là một quá trình có thể nói là trung tâm kết nối các bước trong

ngược lại.
Chính sách BĐG được hoạch định bởi nhiều chủ thể và trong những điều kiện
nhất định. Đặc biệt chính sách BĐG khi triển khai bị tác động rất lớn bởi yếu tố môi
trường, do đó khi thực hiện nó có thể sai lệch với mục tiêu đã đặt ra. Đồng thời khi
hoạch định chính sách BĐG còn bị tác động bởi rất nhiều yếu tố như lợi ích của các
chủ thể hoạch định, ý chí chủ quan của chủ thể đứng đầu, cơ chế của hệ thống cơ
quan hoạch định, thể chế chính trị của quốc gia, tác động của các nhóm lợi ích…
những yếu tố này không phải chỉ ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách
BĐG, mà còn tác động qua nhiều quá trình như: phân tích, dự báo, lựa chọn để có
được mục tiêu, biện pháp chính sách BĐG. Đồng thời, các quá trình kinh tế, xã hội
lại thường xuyên vận động, phát triển, trong khi chính sách được hoạch định lại dựa
chủ yếu vào thực trạng của môi trường sống và có khoảng cách khá lớn về thời gian
kể từ khi hoạch định đến lúc tổ chức thực thi. Do bị ảnh hưởng bởi yếu tố, điều kiện

10


trên nên giữa chính sách BĐG và thực tế xã hội trong giai đoạn tổ chức thực hiện
chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng những điều chỉnh về chính sách
BĐG hay các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách về BĐG.
1.2. Nội dung các bƣớc thực hiện chính sách bình đẳng giới
1.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bình đẳng giới
Các cơ quan từ TW đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện
chính sách BĐG bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Kế hoạch về tổ chức, điều hành
Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực
Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện
Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách
Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức điều hành, về trách nhiệm, quyền
hạn, nhiệm vụ của các cá nhân, tổ chức tham gia, điều hành chính sách BĐG; về các

Phân công từng vai trò cụ thể cho các đơn vị, các cấp, các ngành để tự họ chủ
động tổ chức thực hiện chính sách BĐG và có cơ chế phối hợp liên ngành một cách
cụ thể, chặt chẽ để tránh tình trạng bỏ sót không ai chịu trách nhiệm hay sự chồng
chéo một việc lại do quá nhiều đơn vị quản lý.
1.2.4. Duy trì chính sách bình đẳng giới
Là làm cho chính sách BĐG sống được trong môi trường thực tế và phát huy
tác dụng. Phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính
sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực hiện và giám sát chính sách về BĐG.
Nếu gặp phải khó khăn do môi trường biến động các cơ quan Nhà nước cần sử
dụng các công cụ quản lý tác động tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện
chính sách BĐG. Chủ động điều chỉnh chính sách BĐG cho phù hợp với hoàn cảnh
mới và tình hình thực tế của mỗi địa phương, mỗi ngành. Các cơ quan Nhà nước có
thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để duy trì chính sách BĐG.
Tăng cường thực hiện dân chủ để tất cả mọi người dân mạnh dạn tham gia
quản lý xã hội, trong đó tự giác chấp hành chính sách BĐG và tham gia tìm kiếm,
đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hiện mục tiêu của chính sách BĐG.
1.2.5. Điều chỉnh chính sách bình đẳng giới
Đây là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức
thực hiện chính sách bình đẳng giới nhằm giúp chính sách ngày càng phù hợp với
yêu cầu quản lý và tình hình thực tế. Các cơ quan nhà nước các ngành, các cấp chủ

12


động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách
BĐG, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chung của chính sách BĐG. Cơ quan
nào ban hành chính sách cơ quan đó có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách.
Cơ quan ban hành (Chính phủ hay Quốc hội) hoàn thiện mục tiêu và điều
chỉnh chính sách BĐG dựa trên nguyên tắc: chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ
chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế.

hoạch được giao và những nội qui, qui chế.
Đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách BĐG
bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách BĐG,
nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách chung là một công dân.
1.3. Các phƣơng pháp thực hiện chính sách bình đẳng giới
1.3.1. Phương pháp kinh tế
Là cách thức tác động lên các đối tượng tham gia thực hiện chính sách BĐG
bằng các lợi ích vật chất. Đây là phương pháp có tác động nhanh và mạnh, hiệu quả
có thể nhìn thấy rõ ràng và nhanh chóng, có số liệu chứng minh hiệu quả, tác động.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, phương pháp kinh tế cũng được thường
sử dụng rộng rãi không chỉ cho các chính sách phát triển kinh tế mà còn cả cho
những chính sách xã hội và chính sách BĐG cũng đã dùng phương pháp này trong
quá trình tổ chức thực hiện.
Trong đời sống xã hội hiện nay, tổ chức thực hiện chính sách BĐG có tác
động đến nhiều đối tượng chính sách khác nhau, diễn ra trên diện rộng, đòi hỏi việc
áp dụng phương pháp kinh tế càng được sử dụng rộng rãi thì mới đem lại hiệu quả
cao được. Đặc biệt phù hợp với các chính sách BĐG trong lĩnh vực đào tạo và giáo
dục, lao động việc làm vv..
1.3.2. Phương pháp giáo dục, thuyết phục
Đây là phương pháp cũng thường được dùng trong tổ chức thực hiện chính
sách BĐG. Dùng phương pháp này hiệu quả đem lại khá chậm nhưng có phần chắc
chắn. Phương pháp này luôn coi trọng con người, lấy con người làm trung tâm cho
các hoạt động và mục tiêu hướng đến. Do đó đòi hỏi tính tự giác tham gia rất cao
của người được giáo dục, thuyết phục.
Phương pháp giáo dục, thuyết phục đòi hỏi người thực hiện cần phải có kỹ
năng tuyên truyền vận động tốt. Thời gian dành cho việc này cần phải lâu dài, bền
bỉ, thường xuyên và liên tục. Khi sử dụng phương pháp này cần sử dụng sức mạnh

14


luật. Đồng thời tham gia đánh giá việc thực hiện lồng ghép vấn đề BĐG trong xây

15


dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tổng kết, báo cáo Chính phủ việc thực hiện mục
tiêu quốc gia về BĐG. Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết
khiếu nại, tố cáo về thực hiện chính sách BĐG.
1.4.3. Các bộ và cơ quan ngang bộ
Các Bộ và cơ quan ngang Bộ tiến hành rà soát văn bản quy phạm pháp luật
hiện hành để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ
quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản quy phạm
pháp luật nhằm thực hiện chính sách BĐG trong lĩnh vực mà mình quản lý. Nghiên
cứu, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành biện pháp thúc đẩy BĐG.
Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước đánh giá thực trạng việc thực hiện chính
sách BĐG trong lĩnh vực mà mình quản lý; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp
luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thực hiện chính sách BĐG.
1.4.4. Uỷ ban nhân dân các cấp
UBND các cấp xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các chính sách về BĐG
tại địa phương. Trình Hội đồng nhân dân ban hành hoặc ban hành văn bản quy
phạm pháp luật về thực hiện BĐG theo thẩm quyền. Tổ chức thực hiện pháp luật về
BĐG ở địa phương. Thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải
quyết khiếu nại, tố cáo về thực hiện chính sách BĐG. Tổ chức, chỉ đạo việc tuyên
truyền, giáo dục về chính sách và pháp luật về BĐG cho nhân dân địa phương.
1.4.5. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên tham gia xây dựng
kế hoạch thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà nước về BĐG
theo quy định của pháp luật. Tham gia giám sát việc thực hiện chính sách BĐG.
Tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên, đoàn viên thực hiện chính sách BĐG .
1.4.6. Hội liên hiệp phụ nữ các cấp

giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác.
1.4.8. Tất cả mọi công dân
Tất cả mọi người cần học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và BĐG.
Thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về BĐG. Phê
phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới. Giám sát việc thực hiện chính
sách BĐG của cộng đồng, của các cơ quan, tổ chức và của tất cả mọi người.
Đối với tỉnh Quảng Ngãi các chủ thể thực hiện chính sách bình đẳng giới bao
gồm: UBND tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và xã hội, một số Sở, ngành liên
quan, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, UBND các cấp trong tỉnh, gia

17


đình và nhân dân trong tỉnh; trong đó Sở Lao động – Thương binh và xã hội là cơ
quan Thường trực thực hiện chính sách BĐG.
1.5. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới
1.5.1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức trực tiếp (Đảng, Nhà nước, các
Bộ, ngành liên quan)
Đảm bảo bình đẳng giới là một trong những mục tiêu cơ bản của việc đảm bảo
công bằng xã hội. Ở nước ta, bình đẳng giới luôn được sự quan tâm nhất quán của
Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện chính sách bình đẳng
giới luôn có ý kiến chỉ đạo của Đảng, của các cấp đoàn thể, tạo nên tiếng nói thống
nhất trong việc thực hiện bình đẳng giới, vấn đề bình đẳng giới đã được cụ thể hóa
trong các văn bản pháp luật nhiều chính sách. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy
định pháp luật về đảm bảo bình đẳng giới trong thực tế còn bất cập, hạn chế, do đó
chưa tạo ra sự đồng bộ để thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới.
Việc thực hiện chính sách BĐG có nhiều vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm.
Ngay cả quan niệm, cách hiểu và nhìn nhận, đánh giá cũng không mang tính thống
nhất cao không những đối với mọi người dân mà ngay cả đối với những cán bộ tổ
chức thực hiện chính sách.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status