Thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn quận bình tân, thành phố hồ chí minh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_____________

ĐỖ THỊ THU CÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_____________

ĐỖ THỊ THU CÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ................................................................. 5
7. Kết cấu của luận văn .......................................................................................................... 7
1.1. Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới .......................................... 8
1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới ............................................................................................ 8
1.1.2. Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới..................................................... 11
1.4. Các công cụ thực hiện chính sách bình đẳng giới......................................................... 16
1.5.1. Năng lực thực hiện chính sách ............................................................................... 17
1.5.2. Đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách...................................................... 18
Chương 2 ............................................................................................................................. 20
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI ................................... 20
TẠI BÌNH TÂN ................................................................................................................... 20
2.1. Tình hình các bước thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân, Thành phố
Hồ Chí Minh ........................................................................................................................ 20
Như đã trình bày ở Mục 1.3, thực hiện chính sách bình đẳng giới nói chung gồm 4 bước cơ
bản: (1) hình thành kế hoạch thực hiện chính sách; (2) tổ chức thực hiện; (3) đánh giá quá
trình tổ chức thực hiện; (4) kiến nghị điều chỉnh chính sách bình đẳng giới. Ở nội dung
này, tác giả luận văn tập trung phân tích tình hình các bước thực hiện chính sách bình đẳng
giới ở Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. ................................................................ 20
2.3.2. Thực trạng đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách .................................... 43
2.4. Đánh giá chung về thực hiện chính sách bình đẳng giới tại quận Bình Tân ................ 45
2.4.1. Mặt được ................................................................................................................ 45


4.4.2. Mặt hạn chế ............................................................................................................ 47
2.5. Nguyên nhân của những hạn chế .................................................................................. 49
Tiểu kết chương 2. ............................................................................................................... 51
Chương 3 ............................................................................................................................. 52
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THỰC HIỆN ............................................ 52


BIểu đồ 2 1. Số vụ bạo lực gia đình của Quận Bình ................................................. 29


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Từ góc độ nguồn nhân lực xã hội, thực hiện bình đẳng giới là góp phần
giải phóng và cải thiện chất lượng của gần một nửa lao động của xã hội. Về
mặt phát triển bền vững kinh tế - xã hội, thực hiện bình đẳng giới là một trong
những yếu tố, điều kiện thể hiện sự tiến bộ của xã hội. Nhận thấy được vai trò
quan trọng của bình đẳng giới trong sự nghiệp xây dựng đất nước, ngày
27/4/2007, Bộ Chính trị (khoá X) đã ban hành Nghị quyết 11-NQ/TW về
công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nghị quyết này một lần nữa thể hiện sự quan tâm thường xuyên, xuyên suốt
và sâu sắc của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bình đẳng giới.
Thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW, Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ
Chí Minh ban hành Chương trình hành động số 31-CTr/TU về thực hiện Nghị
quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm đảm bảo tính thống nhất trong công
tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bình đẳng từ Trung ương tới địa phương.
Với phạm vi của Quận Bình Tân, Ban Chấp hành Đảng bộ Quận đã xác
định “Phát huy vai trò, tiềm năng của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hóa, xây dựng, bảo vệ và phát triển Quận, nâng cao địa vị phụ
nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của Đảng bộ, chính
quyền và nhân dân Quận trong thời kỳ mới”, qua đó đã quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo về công tác phụ nữ; đề ra các chủ trương, giải pháp cụ thể nâng cao
trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và công tác quy hoạch, đào tạo cán
bộ nữ nhằm tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện việc bình đẳng giới [23].




Việc thực hiện chính sách Bình đẳng giới là một chủ đề quan trọng, và
nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, phần lớn các
nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu bình đẳng giới hơn là thực hiện chính
sách bình đẳng giới.
Về bình đẳng giới, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu. Tác giả Lê
Thị Quý [24] với nghiên cứu “Bình Đẳng giới ở Việt Nam hiện nay”. Nghiên
cứu tập trung làm rõ khái niệm về bình đẳng giới, đồng thời tác giả phân tích
những thành tựu và thách thức về bình đẳng giới ở Việt Nam. Tác giả Phạm Thị
Tuyết [32] có nghiên cứu “Bình đẳng giới trong giáo dục ở Trà Vinh, Thực trạng
và giải pháp”. Nghiên cứu này tập trung phân tích bình đẳng giới trong một lĩnh
vực cụ thể gắn với một địa bàn cụ thể là giáo dục ở tỉnh Trà Vinh.Tương tự với
đề tài này, tác giả Mạc Thị Cẩm Tú [31] có nghiên cứu “Bình đẳng giới trong
giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp”.
Tác giả Nguyễn Lệ Thu [30] có nghiên cứu “Bình đẳng giới trong lao
động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía bắc Việt Nam hiện nay”. Tác giả
đã đưa ra cơ sở lý thuyết khá toàn diện về bình đẳng giới và áp dụng vào thực
tiễn để tìm hiểu, đánh giá vấn đề bình đẳng giới ở một số tỉnh miền núi phía
Bắc Việt Nam hiện nay, nhưng trong lĩnh vực lao động gia đình. Nghiên cứu
có giá trị tham khảo rất lớn cho luận văn này.
Ngoài ra còn có thể kể ra một số nghiên cứu khác. Các tác giả Đỗ Thị
Bình, Lê Ngọc Van và Nguyễn Linh Khiếu [4] có nghiên cứu Gia đình Viẹt
Nam và nguời phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiẹp hóa, hiẹn đại hóa đất
nuớc. Trần Thị Minh Đức [9] có nghiên cứu “Định kiến và phân biẹt đối xử
theo giới: l thuyết và thực tiễn”. Phạm Thị Ngọc Anh [2] có nghiên cứu “Vai
trò giới và luợng hóa giá trị lao đọng gia đình”. Tác giả Nguyễn Thị Ngân, có
nghiên cứu “Thực hiẹn quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nuớc về
3


hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân để từ đó đề xuất một số giải
pháp thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Quận Bình Tân, Thành
phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tổ chức thực hiện chính
sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân.
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Hoạt động tổ chức thực hiện chính
sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân.
Phạm vi về thời gian:
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2015 đến 2017.
- Thời gian thực hiện khảo sát bảng câu hỏi và phỏng vấn sâu: Từ tháng
12/2017 đến tháng 1/2018.
Phạm vi về không gian: Ở Quận Bình Tân thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả tập trung sử dụng 03 phương pháp chính:
Thứ nhất là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp. Ở phương pháp này,
tác giả thu thập số liệu sẵn có từ các bài báo, sách chuyên khảo, nghiên cứu,
và báo cáo có liên quan đến đề tài. Trong những tài liệu thứ cấp này, tác giả
sử dụng 03 Báo cáo chính để thu thập nhiều số liệu quan trọng về thực hiện
chính sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân, bao gồm: Báo cáo số 562/BCUBND của Ủy ban nhân dân Quận Bình Tân ngày 21 tháng 12 năm 2015 về
tổng kết 05 năm triển khai thực hiện Chiến lược, Chương trình quốc gia về
bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2011-2015 và Kế hoạch giai
đoạn 2016-2020 trên địa bàn quận Bình Tân; Báo cáo về tổng kết thực hiện
Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh

5


công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Báo cáo về tổng kết 10 năm thực
hiện Nghị quyết 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị khoá X về

sách bình đẳng giới ở Quận Bình Tân và giúp Quận hoàn thiện hơn quá trình
thực hiện chính sách bình đẳng giới của Quận.
Bên cạnh đó, luận văn còn là tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy và
nghiên cứu về chính sách công và quàn lý công.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm ba chương:
- Chương 1. Những vấn đề l luận về thực hiện chính sách bình đẳng giới.
- Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Quận
Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3. Định hướng và giải pháp thúc thực hiện chính sách bình
đẳng giới từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

7


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1. Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới
1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới
Khái niệm bình đẳng giới lần đầu tiên xuất hiện trong ông u ớc về Xóa
b tất cả các hình thức phân bi

t đối x chống lại phụ nữ năm 1981 (The

Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women
- CEDAW) [30] và từ đó đến nay, khái niệm này trở thành một khái niệm cốt
lõi trong các chính sách và chương trình nghị sự về bình đẳng giới. Ở Việt
Nam, thuật ngữ bình đẳng giới cũng được nhà nước ghi nhận từ rất sớm. Hai
tháng kể từ sau ngày ông u ớc về Xóa b tất cả các hình thức phân bi

định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng
dẫn của các Bộ, ngành. Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới,
Chính phủ đã có nhiều giải pháp như ban hành các chính sách đặc thù; lồng
ghép vào các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia như: Chiến lược
toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS), Chương trình mục tiêu
quốc gia về giảm nghèo, về việc làm, về bảo hộ lao động, về giáo dục, về dạy
nghề, về y tế cộng đồng; nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình đã có những quy định riêng
cho phụ nữ, tạo điều kiện đảm bảo cho viêc thực hiện bình đẳng giới một cách
thực chất; thành lập Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, ....
Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội
khoá XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 [22].
Luật Bình đẳng giới tiếp tục thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng,
Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của nam và nữ; đồng thời tiếp tục khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam
9


trong việc cụ thể hoá và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người
và bình đẳng giới mà Việt Nam là thành viên. Với hệ thống pháp luật ngày
càng được hoàn thiện phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước, nhận
thức xã hội về bình đẳng giới ngày càng được nâng cao, góp phần đảm bảo sự
bình đẳng trong đời sống xã hội cũng như của cộng đồng dân cư. Theo đánh
giá của Ngân hàng Thế giới thì: “Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu
thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những
nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới… là quốc gia đạt được sự thay đổi
nhanh chóng nhất về xoá b khoảng cách giới trong hai mươi năm qua ở
khu vực Đông Á” [15].
Về mặt nghiên cứu khoa học, là khái niệm trung tâm trong phong trào

phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả
của sự phát triển đó”.
1.1.2. Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới
Theo các tác giả Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hoà [11, tr.334], sau khi
một vấn đề chính sách công được đưa vào chương trình nghị sự, các phương
án giải quyết vấn đề chính sách được đề xuất, nhà nước lựa chọn phương án.
Kết thúc quá trình này là đưa phương án đó vào thực tiễn. Theo hai tác giả
này, “thực thi chính sách công bao gồm các hoạt động có tổ chức được chính
phủ thực hiện hướng tới đạt được các mục đích và mục tiêu được tuyên bố
trong chính sách”.
Nói cách khác, đây là quá trình biến

đồ của chính sách thành hiện thực,

là giai đoạn được các nhà nghiên cứu gọi là hiện thực hoá các mục tiêu của
chính sách. Thực thi còn là quá trình khẳng định, kiểm chứng lại xem một
chính sách công do nhà nước đề ra có đúng đắn hay không hoặc đúng đắn ở
mức nào. Quá trình thực hiện chính sách là giai đoạn phản biện chính sách, là
giai đoạn giúp cho chính sách công ngày càng hoàn thiện hơn [11, tr.334-337].
Một khi chính sách được hình thành, cơ quan ban hành tiếp tục tìm cách
thức để tổ chức và triển khai nó vào thực tế để tạo ra các kết quả thực sự

11


nhằm mang lại lợi ích cho kinh tế - xã hội. Đối với chính sách bình đẳng giới,
việc thực hiện chính sách này chính là hướng tới mình đích giảm bớt tình
trạng bất bình đẳng, hình thành nên một bức tranh bình đẳng về giới một cách
thật sự và đúng bản chất.
Nói cách khác, thực thi chính sách bình đẳng giới là quá trình triển khai

chương trình, chính sách, kế hoạch hành động của tất cả các cơ quan nhà
nước bởi không có ngành nào, lĩnh vực nào thiếu vắng vai trò của nữ giới.
Không những vậy, bản chất của bình đẳng giới là tạo cơ hội như nhau trên tất
cả các lĩnh vực nên không thể thiếu sự tham gia, lồng ghép của toàn bộ hệ
thống cơ quan nhà nước.
Thứ ba, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo sự phối
hợp chặt chẽ, thường xuyên và liên tục của toàn bộ hệ thống chính trị. Sự phối
hợp thể hiện ở nhiều khía cạnh. Phối hợp trong việc lồng ghép vấn đề bình
đẳng giới trong xây dựng vào thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội. Phối hợp trong việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
trong xây dựng các văn bản của nhà nước. Phối hợp trong việc thống kê, thu
thập, cung cấp thông tin, số liệu về giới và bình đẳng giới. Phối hợp trong
việc xây dựng các báo cáo quốc gia về bình đẳng giới.Phối hợp trong việc bảo
đảm điều kiện về nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới. Tuy nhiên
việc phối hợp này cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Theo Tài
liệu tập huấn thực hiện Luật Bình đẳng giới của Ban Quản lý dự án Ô [3,
tr.58-59], các nguyên tắc phối hợp thực hiện bao gồm: nội dung phối hợp phải
liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan phối họp; bảo
đảm tính khách quan trọng quá trình phối hợp; bảo đảm yêu cầu chuyên môn,
chất lượng và thời hạn phối hợp; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động

13


phối hợp; và nguyên tắc đề cao trách nhiệm của thủ trường cơ quan chủ trì, cơ
quan phối hợp.
Thứ tư, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo việc sử
dụng linh hoạt và hiệu quả các biện pháp, trong đó, nhấn mạnh đến biện pháp
tuyên truyền, giáo dục và thuyết phục. Về thực hiện chính sách bình đẳng
giới, có nhiều biện pháp như biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, và biện

như huy động các chủ thể trong hệ thống chính trị và xã hội tham gia vào việc
đưa các phương án chính sách vào thực tế nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Giai đoạn tổ chức thực hiện là một lộ trình, quá trình tương tác và điều phối
lẫn nhau giữa các bên.
Thứ ba, giai đoạn đánh giá quá trình tổ chức thực hiện chính sách bình
đẳng giới. Đây là giai đoạn nhìn nhận lại quá trình thực hiện chính sách bình
đẳng giới. Giai đoạn này thường đánh dấu bằng các hoạt động tổng kết và các
báo cáo tổng kết. Giai đoạn đánh giá thực hiện chính sách bình đẳng giới
được tiến hành định kỳ xuyên suốt quá trình thực hiện. Giai đoạn này gắn liền
với việc thu thập, xử lý số liệu và viết báo cáo. Cho nên chất lượng của giai
đoạn đánh giá quá trình thực hiện chính sách phụ thuộc phần lớn vào chất
lượng thu thập và xử lý số liệu. Về mặt quản l nhà nước, giai đoạn đánh giá
quá trình thực hiện còn gắn với tuyên dương, khen thưởng những chủ thể có
thành tích tốt trong quá trình này.
Thứ tư là giai đoạn điều chỉnh chính sách bình đẳng giới. Kết quả của
quá trình thực hiện chính sách không những giúp cho chủ thể ban hành và
thực hiện chính sách nhìn thấy được đã đạt được những gì trên thực tế về bình
đẳng giới, mà còn là cơ hội để nhìn nhận lại những hạn chế và lỗ hổng của
chính sách bình đẳng giới, từ đó có những kiến nghị giúp cơ quan ban hành
15


điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn bình đẳng giới, văn hoá, phong tục tập
quán và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam.
1.4. Các công cụ thực hiện chính sách bình đẳng giới
Công cụ chính sách là những hành động cụ thể để đưa các giải pháp
chính sách vào thực tế. Nó là cầu nối trung gian giữa giải pháp và kết quả đạt
được, là những yếu tố vật chất giúp các giải pháp chính sách đưa ra đạt được
những tác động trên thực tế. Công cụ chính sách được thể hiện ở nhiều dạng
như luật, chương trình, dự án và công cụ tài chính.

hiện chính sách bao gồm một số yếu tố cấu thành: (1) năng lực xây dựng kế
hoạch triển khai thực hiện chính sách; (2) năng lực phổ biến, tuyên truyền
chính sách; (3) năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách; (4) năng
lực duy trì chính sách; và (5) năng lực điều chỉnh chính sách [27].
Năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách là những kỹ
năng và hiểu biết của chủ thể chính sách để tạo ra một kế hoạch hành động
thiết thực, phụ hợp với đối tượng, chủ thể và nguồn lực thực hiện chính sách.
Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách được thể hiện qua khả năng
chuẩn bị và tổ chức các hoạt động phổ biến, tuyên truyền các nội dung chính
sách đến đối tượng thụ hưởng chính sách và các bên có liên quan khác nhằm
làm cho việc thực hiện chính sách tốt hơn.
Năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách là khả năng tổ chức
điều hành thực hiện chính sách một cách chặt chẽ, khoa học và hợp lý. Đối
với chính sách bình đẳng giới, ngoài chủ thể thực hiện chính là cơ quan nhà
nước, còn cá cả sự tham gia thường xuyên và liên tục của các đoàn thể, trong

17


đó vai trò quan trọng thuộc về Hội liên hiệp phụ nữ. Cho nên sự phối hợp của
các chủ thể này và năng lực của họ là yếu tố không thể thiếu có ảnh hưởng
đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới.
Năng lực duy trì chính sách là toàn bộ khả năng, kiến thức, kỹ năng của
cơ quan thực hiện chính sách để có thể đưa ra những giải pháp làm sao cho
chính sách được có thể ảnh hưởng tốt đến đối tượng thụ hưởng trong một thời
gian dài mà không tốn nhiều chi phí hoặc bị gián đoạn giữa chừng.
Năng lực điều chỉnh chính sách là khả năng (hay kiến thức, kỹ năng, thái
độ) của cơ quan thực hiện chính sách. Nó bao gồm năng lực nhận diện vấn đề
xuất hiện trong quá trình thực hiện, để từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp
nhằm khắc phục những sai lệch trong quá trình thực hiện này.

gồm tập hợp những hành động để đưa chính sách vào thực tế nhằm tạo ra kết
quả trên thực tế. Thực hiện chính sách bình đẳng giới cần đảm bảo các yêu
cầu như (1) việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo yêu cầu có
sự tham gia rộng rãi của mọi đối tượng và thành phần trong xã hội; (2) việc
thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo yêu cầu lồng ghép trong
các chương trình chính sách và hoạt động của các ngành các cấp; (3) việc
thực hiện chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ,
thường xuyên và liên tục của toàn bộ hệ thống chính trị; (4) việc thực hiện
chính sách bình đẳng giới phải đảm bảo việc sử dụng linh hoạt và hiệu quả
các biện pháp, trong đó, nhấn mạnh đến biện pháp tuyên truyền, giáo dục và
thuyết phục. Không những vậy, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới còn
diễn ra theo bốn bước cơ bản: (1) hình thành kế hoạch thực hiện chính sách;
(2) tổ chức thực hiện; (3) đánh giá quá trình tổ chức thực hiện; (4) kiến nghị
điều chỉnh chính sách bình đẳng giới. Quá trình thực hiện chính sách bình

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status