Sách lược hòa hoãn với Tưởng và Pháp trong thời kì 1945-1946
Kết cấu:
I/Đặt vấn đề
II/Giải quyết vấn đề
1.Hoàn cảnh lịch sử nước ta sau Cách mạng Tháng Tám
2.Chủ trương kháng chiến cứu quốc của Đảng
3.Thực hiện sách lược hòa hoãn với Tưởng và Pháp
III/Kết thúc vấn đề
Bài làm:
I/Đặt vấn đề
Sau CMT8 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng trước bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản,
vừa gặp phải nhiều khó khăn to lớn,hiểm nghèo. Quân địch bủa vây tứ phía, chính quyền
non trẻ trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình thế đó, Đảng ta đã khéo léo
thực hiện thành công sách lược hòa hoãn với Tưởng và Pháp, “chèo lái”con thuyền cách
mạng vượt qua sóng gió.
II/ Giải quyết vấn đề:
1.Hoàn cảnh lịch sử nước ta sau Cách mạng Tháng Tám
1.1.Thuận lợi
-Trên thế giới, hệ thống XHCN do Liên Xô dứng đầu được hình thành
→ Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc có điều kiện phát triển
Phong trào dân chủ và hòa bình cũng vươn lên mạnh mẽ
-Trong nước
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng chế
độ dân chủ nhân dân (1946 – 1954)
Kết cấu
1. Hoàn cảnh lịch sử
2. Quá trình hình thành và nội dung đường lối chỉ đạo
3. Kết quả, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm
BÀI LÀM
1. Hoàn cảnh lịch sử
lược. Trong quá trình chỉ đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, trung ương Đảng
và Hồ Chí Minh đã chỉ đạo kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại
giao để làm thất bại âm mưu của Pháp định tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam.
- Ngày 19/10/1946 thường vụ trung ương Đảng mở Hội nghị Quân sự toàn
quốc lần thứ nhất, do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì. Xuất phát từ nhận
định "không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải
đánh Pháp". Hội nghị đã đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể cả về tư
tưởng và tổ chức để quân dân cả nước sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu
mới. Trong chỉ thị Công việc khẩn cấp bây giờ ra ngày 5/11/1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nêu lên những việc có tầm chiến lược, toàn cục khi bước
vào cuộc kháng chiến và khẳng định lòng tin vào thắng lợi cuối cùng.
- Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng được thể hiện qua 3 văn kiện
chính là: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (20/12/1946),
Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của trung ương Đảng (22/12/1946) và tác
phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của đồng chí Trường Chinh
(9/1947).
• Nội dung đường lối:
+ Mục đích kháng chiến: là để tiếp tục sự nghiệp cách mạng tháng Tám,
đánh thực dân Pháp xâm lược, hoàn thành giải phóng dân tộc, giành độc lập
và thống nhất thật sự cho Tổ quốc.
+ Tính chất kháng chiến: Cuộc kháng chiến của ta là chiến tranh nhân dân,
chiến tranh chính nghĩa. Vì vậy, cuộc kháng chiến của ta có tính chất dân tộc
giải phóng và dân chủ mới.
+ Chính sách kháng chiến: "Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động
thực dân Pháp. Đoàn kết với Miên - Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do,
hoà bình. Đoàn kết chặt chẽ toàn dân, thực hiện toàn dân kháng chiến ...phải
tự cấp, tự túc về mọi mặt".
+ Nhiệm vụ kháng chiến:
1. Đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược để giành độc lập và thống nhất thật sự
cho dân tộc.
đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập.
• Kháng chiến lâu dài: Là để chống âm mưu đánh nhanh, thắng
nhanh của Pháp, để có thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng,
nhằm chuyển hoá tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến
chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch.
• Kháng chiến dựa sức mình là chính, trước hết phải độc lập về
đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển thực lực của
cuộc kháng chiến, đồng thời coi trọng viện trợ quốc tế.
• Triển vọng kháng chiến: Mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn,
song nhất định thắng lợi.
Đường lối kháng chiến của Đảng với những nội dung cơ bản như trên là
đúng đắn và sáng tạo, vừa kế thừa được kinh nghiệm của tổ tiên, đúng với
các nguyên lý về chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa phù
hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ. Đường lối kháng chiến của Đảng
được công bố sớm đã có tác dụng đưa cuộc kháng chiến từng bước đi tới
thắng lợi vẻ vang.
Thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, từ năm 1947 đến năm 1950,
Đảng ta chỉ đạo cuộc chiến đấu giam chân địch trong các đô thị, củng cố các
vùng tự do lớn, đánh bại cuộc hành quân lớn của địch lên Việt Bắc; lãnh đạo
đẩy mạnh xây dựng hậu phương, tìm cách chống phá thủ đoạn "lấy chiến
tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân
Pháp. Thắng lợi của chiến dịch Biên giới cuối năm 1950 đã giáng một đòn
nặng nề vào ý chí xâm lược của địch, quân ta giành được quyền chủ động
chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
- Đầu năm 1951, trước tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương có
nhiều chuyển biến mới. Nước ta đã được các nước xã hội chủ nghĩa công
nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước
Đông Dương đã giành được những thắng lợi quan trọng. Song lợi dụng tình
thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc
chiến tranh Đông Dương. Điều kiện lịch sử đó đã đặt ra yêu cầu bổ sung và