MÔN: PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á
ĐỀ TÀI: LÀNG XÃ, CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ
PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á
LỜI DẪN
Phương thức sản xuất Châu Á là một vấn đề khoa học đã được nhiều nhà
khoa học thế giới và Việt Nam nghiên cứu. Đây không phải là vấn đề mới, thậm
chí đã được nói đến rất nhiều lần từ hơn nửa thế kỷ nay. Tuy nhiên, lúc nào nó
cũng là một vấn đề mới, lúc nào cũng thấy cần phải đặt ra các vấn đề để bàn lại.
Và càng bàn luận, thì càng có nhiều vấn đề được hé lộ cũng như có nhiều vấn đề
mới được tìm thấy, vì vậy mà càng có những nhận định những ý kiến, quan điểm
khác nhau. Và cho đến nay, trong giới học giả mácxit trên thế giới vấn chưa có
một kiến giải nhất trí nào và thỏa đáng nào cho vấn đề này. Như vậy, vấn đề
“Phương thức sản xuất Châu Á” rõ ràng có một tầm quan trọng nhất định trong
công tác nghiên cứu lịch sử của chúng ta. Việc nhận thức những đặc điểm của
Phương thức sản xuất Châu Á sẽ góp phần làm rõ hơn trong hoạt động nhận
thức của các xã hội Châu Á trước khi bị thực dân phương Tây xâm chiếm – nên
nó có một ý nghĩa chính trị và khoa học rất lớn. Trong phạm vi bài tiểu luận này,
nhóm sẽ tập trung nghiên cứu về chế độ sở hữu ruộng đất và công xã nông thôn
Việt Nam đối chiếu với Phương thức sản xuất Châu Á và những di sản để lại của
nó.
Chương I : Tổng quan về phương thức sản xuất Châu Á.
1. Khái niệm phương thức sản xuất.
Con người và xã hội loài người được hình thành và phát triển trong quá
trình sản xuất vật chất. Để nói đến lịch sử xã hội, do vậy trước hết là phải đi từ
lịch sử của sản xuất vật chất. Vì vậy, khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội, sản
xuất của cải vật chất (sản xuất vật chất) là điểm xuất phát để tìm ra các quy luật
vận động, phát triển khách quan của xã hội.
được chuyển sang một chất mới. Và sự thay thế hợp quy luật khách quan của các
phương thức sản xuất tạo nên quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã
hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Như vậy, phương thức sản xuất là cách thức mà con người làm ra của
cải vật chất cho xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Theo cách đó, con
người có những quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau trong sản xuất; hay
nói cách khác, phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng
sản xuất ở một trình độ nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng. Hai mặt này
được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất, có sự
tác động qua lại lẫn nhau, được C.Mác gọi là quan hệ song trùng của bản thân
sự sản xuất xã hội. Trong đó, lực lượng sản xuất là toàn bộ các lực lượng được
con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản
xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất.
Nó thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất
ra của cải vật chất.
Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của họ
và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong quá trình sản xuất, lao
động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp
với nhau tạo thành lực lượng sản xuất.
Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì con người - người lao động
giữ vị trí hàng đầu và quyết định. Người lao động cùng với sức lao động (thể lực
và trí lực) thông qua hoạt động lao động tạo nên sức mạnh vật chất tác động vào
tự nhiên, cải biến tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu của bản thân và của toàn
xã hội. Đồng thời, cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con
người với con người. Qua đó, con người đã tự nhân đôi mình lên một cách tích
cực, một cách hiện thực, tự khẳng định và thể hiện vai trò của mình trong sự
phát triển xã hội, từ đó tạo nên bước chuyển quan trọng của mình là trở thành
con người theo đúng nghĩa của nó.
Để tiến hành quá trình sản xuất vật chất, đối tượng lao động là một yếu tố
không thể thiếu. Đối tượng lao động là toàn bộ những vật mà trong quá trình lao
động con người tác động vào bằng công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật
chất. Đối tượng lao động có hai loại. Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các
khoáng sản, đất, đá, thủy sản... Loại thứ hai đã qua chế biến nghĩa là đã có sự tác
động của lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi dệt, bông...
Các yếu tố của lực lượng sản xuất quan hệ hữu cơ với nhau trong đó
người lao động và công cụ lao động là hai yếu tố cơ bản nhất. Trên cơ sở sự
thống nhất biện chứng giữa các yếu tố cấu thành nên nó, lực lượng sản xuất là
kết quả khách quan củahoạt động thực tiễn của con người, được hình thành
trong lao động và biến đổi cùng lao động. Đồng thời lực lượng sản xuấtbiểu hiện
năng lực thực tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên vì nhu cầu
của con người, là thước đo quan trọng của sự tiến bộ xã hội.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy quá trình phân công lao
động xã hội. Đồng thời mỗi bước tiến của sự phân công lao động xã hội lại có
tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển. Lực lượng sản xuất
của xã hội phát triển cùng với nó là sự cải tiến không ngừng công cụ lao động,
tư liệu sản xuất mở rông, đối tượng lao động ngày càng đa dạng lại thúc đẩy
phân công lao động phát triển, năng suất lao động xã hội cao, Theo C.Mác:
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì
mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”. [7,
tr.269]
Điều này cho thấy rằng, việc tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam là yêu cầu phát triển khách
quan của lực lượng sản xuất, để nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, nâng
cao năng suất lao động, nâng cao được trình độ kinh tế - kỹ thuật, hiệu quả và
sức cạnh tranh của nền sản xuất xã hội. Muốn thực hiện thành công quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải chú trọng vào xây dựng, bồi dưỡng và phát
tập đoàn người khác trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tư liệu sản xuất
xã hội trong nền sản xuất xã hội mang tính chỉnh thể.
Dựa vào Mác và những người phát triển chủ nghĩa Mác, chúng ta có thể
liệt kê ra một số phương thức sản xuất của xã hội loài người trong các giai đọan
lịch sử và ở các khu vực khác nhau như sau:
- Phương thức cộng sản nguyên thủy: Xã hội loài ngoài được tổ chức trong
các cấu trúc bộ lạc truyền thống với ít hơn 50 người trên một đơn vị sản xuất,
điển hình bởi việc chia sẻ sản xuất và tiêu thụ toàn bộ sản phẩm xã hội. Do
không có sản phẩm thặng dư nào được sản xuất, nên không có khả năng tồn tại
các giai cấp thống trị. Do phương thức sản xuất này không có sự phân chia giai
cấp, nó được coi là xã hội không giai cấp. Các công cụ của thời kỳ đồ đồ đá, các
hoạt động săn bắn hái lượm và nông nghiệp thời kỳ đầu là các lực lượng sản
xuất chính của phương thức sản xuất này.
- Phương thức sản xuất Châu Á: Đây là đóng góp gây tranh cãi của học
thuyết Mác, nguyên thủy được sử dụng để giải thích các công trình xây dựng
bằng đào đắp đất lớn tiền nô lệ và tiền phong kiến ở Trung Quốc, Ấn Độ,
Ơphơrat và lưu vực sông Nin. Phương thức sản xuất Châu Á được coi là hình
thức sơ khai của xã hội có giai cấp, trong đó nhóm nhỏ thu được các sản phẩm
thặng dư xã hội bằng bạo lực nhắm vào các nhóm cộng đồng định cư hay không
định cư trong lãnh thổ đó. Sự bóc lột lao động là khai thác lao động cưỡng bức
không trả công trong thời kỳ nhàn rỗi mỗi năm (xây những công trình lớn như
kim tự tháp Ai Cập, Vạn lý trường thành...). Ngoài ra việc bóc lột lao động cũng
là hình thức việc bòn rút sản phẩm trực tiếp từ các cộng đồng bị bóc lột. Dạng sở
hữu chính của phương thức này là chiếm hữu tôn giáo trực tiếp trong các cộng
đồng (làng, xóm, thôn, nhóm) đối với tất cả những gì tồn tại trong chúng. Tầng
lớp cai trị của xã hội này nói chung là tầng lớp quý tộc bán thần quyền, tự cho
mình là thần thánh trên trái đất. Các lực lượng sản xuất chính của xã hội này bao
gồm các nông dân với các kỹ thuật canh tác nông nghiệp nền tảng, các công
Á lại không được Mác giải thích một cách cụ thể, buộc chúng ta phải tìm hiểu.
Tuy nhiên, với khái niệm chung nhất mà Mác đã đưa ra lần đầu tiên vào năm
1859 thì từ đó cho đến hết cuộc đời của mình – trải qua gần 20 năm - Mác đã
không sửa đổi gì, điều này chứng tỏ nó có được những căn cứ khoa học thì mới
có thể giữ vững được chỗ đứng của mình như vậy.
Mác viết “Về đại thể. Có thể coi các phương thức sản xuất Á Châu, cổ
đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần của hình thái
kinh tế - xã hội”1. Ý kiến phát biểu này của Mác về phương thức sản xuất Châu
Á đó về sau được Mác – Ănghen cụ thể hóa trong nhiều tác phẩm của hai ông.
Trong Tư Bản cũng như trong một số bài báo của các vị sáng lập ra chủ nghĩa
Mác, Mác – Ănghen – Lênin đã trình bày nhiều ý kiến về thực chất và đặc điểm
của phương thức sản xuất này. Và khi nói về Trung Quốc và Ấn Độ, Mác cũng
sử dụng hai thuật ngữ các phương thức sản xuất có trước chủ nghĩa tư bản để
chỉ về sự trì trệ của các quốc gia này. Vì vậy chúng ta có thể hiểu được nội dung
của phương thức sản xuất Châu Á ở trong lời tựa vừa dẫn, cũng như về sau
không bao giờ thấy Mác cung cấp lại cho chúng ta để làm cơ sở cho sự hiểu biết
về phương thức sản xuất Châu Á.
2.2.
Đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Á.
Những đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Á theo quan niệm của
các tác giả kinh điển (Mác và Ănghen):
- Chế độ công xã nông thôn với tất cả những sự trì trệ và bảo thủ của nó.
1 Dẫn theo “Phương thức sản xuất Châu Á là gì?”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 53 (8/1963), tr2.
- Nhà nước chuyên chế phương Đông.
- Chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất mà đứng đầu là nhà vua và sự chiếm
dụng của các công xã.
2 C. Mác: Thư gửi Ănghen, ngày 2-6-1853, trích theo C. Mác, F. Ănghen, V. Lênin (1975), “Bàn về các xã hội
tiền tư bản”, Nxb KHXH, Hà Nội, tr47, 48.
phẩm Tư bản , Mác cũng viết: “nếu kẻ đối lập với những người sản xuất trực
tiếp không phải là những kẻ sở hữu ruộng đất tư nhân, mà là nhà nước như ở
Châu Á với tư cách là một kẻ sở hữu ruộng đất đồng thời là vua chúa thì địa tô
và thuế khóa là một hay nói đúng hơn trong trường hợp đó, không có thứ thuế
nào khác biệt với hình thái địa tô này.”3
2.3. Quan điểm của các nhà Mácxit về phương thức sản xuất Châu Á.
2.3.1. Quan điểm của Marx về phương thức sản xuất Châu Á
Để đưa ra được khái niệm về phương thức sản xuất châu Á, Marx đã phải trải
qua một quá trình nghiên cứu lâu dài. Quan điểm của Mác về hình thái kinh tế này
cũng được thể hiện qua nhiều công trình mà Ông nghiên cứu và viết ra.
Từ công trình “Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), Mác đã phát hiện ra rằng “Sự
phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của sở hữu ”. Từ
đây Mác đã tìm thấy 3 hình thức sở hữu đầu tiên :
+
+
+
Sở
Sở
Sở
hữu
hữu
hữu
công
Mác chỉ rõ : “những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng
sản xuất. Do có những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi những phương
thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của
mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình” .
Từ cơ sở lý luận trên, Mác đã đi đến khẳng định sự ra đời và kế tiếp lẫn nhau
giữa các hình thái kinh tế xã hội từ Công xã nguyên thuỷ -> Chiếm hữu nô lệ ->
Phong
kiến
->
Tư
bản
chủ
nghĩa.
Mặc dù đã đưa ra được mô hình của các hình thái kinh tế lần lược ra đời và tồn
tại trong lịch sử loài người. Nhưng cả Mác và sau đó là Enghen khi nghiên cứu về
phương Đông thì lại không sắp xếp được mô hình kinh tế - xã hội ở đây vào loại
hình thái kinh tế nào của Ông. Bởi vì các xã hội đó có những nét đặc thù riêng.
Đến công trình về “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ (1853)”, Mác và Enghen đã
phát hiện ra những nét đặc thù của xã hội phương Đông là “Nhà nước chuyên chế
phương Đông – chuyên chế châu Á” và “chế độ công xã nông thôn”.
Tiếp đến, trong thư gửi cho Enghen, tháng 6-1853, Mác khẳng định : “Nhà vua
là kẻ sở hữu duy nhất tất cả mọi đất đai trong quốc gia”, và “Tình hình không có
chế
.
Như vậy, đến công trình “Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa
(viết từ tháng 3-1857 – tháng 3 – 1858), tư tưởng của Mác đã chín muồi cho sự ra
đời
của
khái
niệm
phương
thức
sản
xuất
châu
Á.
Và đến tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (1859)”, Mác đã
chính
thức
2.1.2.
châu
châu
Á.
Á.
Sự chuyển biến liên tục về kinh tế - xã hội nằm trong quy luật vận động và phát
triển của lịch sử xã hội loài người. Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”,
Các Mác đã phát hiện ra mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong một phương thức sản xuất rồi chỉ rõ: Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật
thiết với những quan hệ sản xuất. Do có lực lượng sản xuất mới liên tục ra đời, nên
loài người đã thay đổi phương thức sản xuất, thay đổi cách kiếm sống và thay đổi
luôn cả những quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự thay đổi, phát triển của nền
kinh
tế - xã hội. Vì vậy, các hình thái kinh tế - xã hội ra đời rồi lần lượt thay thế nhau từ
Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa, Chủ nghĩa
xã hội và chính đó cũng là kết quả của quá trình chuyển biến, phát triển của nền
kinh
tế
-
xã
hội.
Mác và Anghen lại thấy, ở phương Đông, xã hội có những nét đặc thù riêng biệt
mà không thể lấy các hình thái kinh tế - xã hội kể trên để giải thích. Mãi đến năm
1859, trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” của Mác nghiên
thống châu Á” và sự “ trễ nải của Đông phương”. Cùng năm đó, khi xảy ra Cách
mạng Tân Hợi, ông lại đề cập tới “đặc thù châu Á” của Trung Hoa cổ truyền và còn
gọi nguyên thủ của Trung Hoa thời ấy là “Tổng thống Á châu”. Trong một cuộc
tranh luận với Rosa Luxemburg năm 1914, ông đã thống nhất về chủ nghĩa chuyên
chế châu Á là một hiện tượng bao hàm mọi khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hoá
lịch
sử và cả xã hội nữa, và ông còn triển khai thêm rằng một trật tự nhà nước như thế
sẽ
rất bền vững ở trường hợp hình thái kinh tế của những quốc gia mang đậm nét
phụ
hệ, tiền tư bản và nền kinh tế hàng hoá, cũng như sự phân hoá giai cấp phát triển
không
đáng
kể.
Xem thêm: />s=388c3126802f9181a067fbc99a66fabf#ixzz42hZV6ISu
Follow us: kilobooks.vn on Facebook
2.3.2. Các quan điểm về phương thức sản xuất Châu Á ở Việt Nam.
Từ lâu vấn đề phương thức sản xuất châu Á đã trở thành đề tài nghiên cứu và
tranh luận của giới nghiên cứu Mác xít ở nhiều nước trên thế giới. Nhằm mục đích
làm sáng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê nin về sự phát triển của xã hội, lý giải hàng loạt
các
vấn đề đang được đặt ra trong lịch sử nhân loại, đó là con đường phát triển và xây
dựng xã hội của các nước Á, Phi, Mỹ la tinh đã và đang thoát ra khỏi ách thống trị
của đế quốc chủ nghĩa, vấn đề phương thức sản xuất châu Á ngày càng thu hút sự
quan tâm của giới nghiên cứu Mác xít ở nhiều nước, các nước xã hội chủ nghĩa, các
nước
học
giả
trên
thế
giới
đã
chứng
minh
điều
đó.
Tuy nhiên, cho tới nay, các cuộc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á vẫn
chưa kết thúc, các ý kiến về phương thức sản xuất châu Á vẫn còn phân tán.
Ở Việt Nam, hàng chục công trình nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á
cũng đã được công bố và in trên các tạp chí khoa học, đặc biệt là trên các số thông
tin khoa học lịch sử về phương thức sản xuất châu Á và Tạp chí nghiên cứu lịch sử
và nhiều công trình nghiên cứu của nhiều học giả hàng đầu như : Nguyễn Hồng
Phong, Nguyễn Lương Bích, Lê Kim Ngân, Trần Quốc Vượng, Văn Tạo, Phan Huy
Lê Có người thì cho rằng xã hội cổ đại Việt Nam đã tiến thẳng từ cộng sản
Nguyên thủy sang chế độ phong kiến, không qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Cũng có
một số người thì cho rằng xã hội cổ đại Việt Nam là xã hội chiếm hữu nô lệ
rõ.
Ở Việt Nam, sau khi miền Bắc được giải phóng hòan tòan (năm 1954), đất nước
ta đối mặt với không ít những khó khăn về kinh tế, chính trị, xã hội trong khi đó
vấn đề nông dân và nông thôn trở thành vấn đề nổi trội. Cho nên, tìm hiểu làng xã
–
nông thôn Việt Nam hiện nay cái gì là do lịch sử xa xưa để lại kể cả mặt tích cực và
tiêu cực, đều là bổ ích cho việc cải tạo và xây dựng chủ nghãi xã hội.
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với đặc
điểm của nước ta thì việc nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á nói chung
và
phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam nói riêng là rất quan trọng. Để từ đó
chúng
ta có thể tìm ra được những di sản tích cực và tiêu cực của phương thức sản xuất
châu
Á
và
đề
ra
những
biện
pháp
phương
Đông
của
mình.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, vào những năm 1959 – 1960 nhiều cuộc hội
thảo khoa học được mở ra và gây nhiều tranh cải sôi nổi. Bên cạnh cuộc thảo luận
về
vấn đề có hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam, còn xuất hiện công
trình nghiên cứu về xã thôn Việt Nam và tiếp theo là hàng loạt luận văn, công trình
mang tính chất thông tin, hoặc trực tiếp đề cập đến vấn đề phương thức sản xuất
châu Á, về công xã nông thôn, đặc biệt từ năm 1968 trở đi, vấn đề này được đề
cập
rộng
rãi
và
có
hệ
thống.
Trong các cuộc thảo luận cũng như trong các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
từ những năm 60 tới nay, vấn đề mà được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều
động khoa học trên, ta thấy ở Việt Nam xuất hiện nhiều tác giả đề cập đến vấn đề
phương thức sản xuất châu Á và và đã đưa ra được những luận điểm cụ thể. Ngoài
Nguyễn Hồng Phong và Nguyễn Lương Bích từng xuất hiện từ thời kỳ trước ta thấy
còn có Phan Huy Lê với các tác phẩm “Xã hội thời Hùng Vương”; Lê Kim Ngân với
bài “Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý Trần”; Đặng Phong với bài “Ruộng công
thời phong kiến ở Việt Nam và vấn đề phương thức sản xuất châu Á”. Vũ Huy Phúc
với tác phẩm “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”. Trần Quốc
Vượng với tác phẩm “Thế kỷ X - Việt Nam – Văn hoá” .Bên cạnh những hoạt
động nghiên cứu ở trong nước, thì ở nước ngoài như : ở Pháp tác giả Lê Thành Khôi
Qua những tìm hiểu của bản thân tôi về phương thức sản xuất châu Á ở Việt
Nam, tôi nêu lên những bước phát triển và kết quả thu được trong quá trình nghiên
cứu về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam một cách khái quát.
Từ sau năm 1959, hàng loạt các vấn đề về lịch sử Việt Nam đã được nghiên
cứu, trong đó vấn đề lịch sử cổ đại và truyền thống dân tộc được đề cập đến một
cách khá tích cực. Trong giới nghiên cứu bấy giờ, một trong những người đầu tiên
bàn về vấn đề này là Nguyễn Hồng Phong. Dưới góc độ dân tộc học, Nguyễn Hồng
Phong đã viết tác phẩm “xã thôn Việt Nam” (1959). Với tác phẩm này, mặc dù
không nhắc đến phương thức sản xuất châu Á nhưng tác giả đã đề cập đến nội
dung
cơ bản của phương thức sản xuất châu Á là “chú trọng nghiên cứu về những dấu
vết
của tổ chức xã hội nguyên thuỷ - công xã thị tộc và công xã nông thôn còn tồn tại
trong xã thôn Việt Nam trong cơ sở kinh tế cũng như trong tổ chức xã hội và ý thức
tư tưởng” . Và khẳng định rằng : “đặc điểm của xã hội phương Đông cổ đại là sự
tồn
tại rất lâu của công xã nông thôn ”. Còn ở Việt Nam, Ông cũng khẳng định rõ :
“tới thời Pháp thuộc, trước cách mạng Tháng 8. Trong xã thôn ở Việt Nam vẫn còn
tồn tại rất nhiều di tích của xã hội nguyên thủy, cụ thể là những di tích của công
phương Đông cổ đại nói chung, của Việt Nam nói riêng, được nhìn nhận dưới ánh
sáng của lý thuyết phương thức sản xuất châu Á và được đề cập một cách cơ bản.
Với sự khẳng định phương thức sản xuất châu Á đã từng tồn tại trong lịch sử xã
hội Việt Nam, Nguyễn Hồng Phong đã nêu lên được những vấn đề cơ bản mang
tính
chất khởi đầu cho việc thảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam.
Sau khi tác phẩm Xã thôn Việt Nam ra đời một năm, ở Việt Nam một cuộc thảo
luận về chế độ chiếm hữu nô lệ được mở ra. Trong cuộc thảo luận này, vấn đề có
GVHD:
Th.s
Nguyễn
Ngọc
Dung
17
Thể chế chính trị và pháp luật Việt Nam thời cổ trung đại – đối chiếu với
Phương
thức
sản
xuất
Châu
Đến đây, sự lúng túng, bế tắc của việc áp dụng lý thuyết sơ đồ 5 hình thái kinh
tế vào lý giải lịch sử xã hội Việt Nam Cổ đại đã thôi thúc giới nghiên cứu đi sâu hơn
nữa để tìm ra một chìa khoá để giải đáp về xã hội Việt Nam cổ đại.
Trên cơ sở kế thừa những vấn đề cơ bản về phương thức sản xuất châu Á mà
Nguyễn Hồng Phong đã nêu lên, Nguyễn Lương Bích là người đã mở đầu cho việc
thảo luận về phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam. Với tác phẩm “phương thức
sản xuất châu Á là gì?” đăng liên tiếp trong 2 số Nghiên cứu lịch sử vào năm 1963.
Trong tác phẩm này, tác giả đã giành nhiều cho việc giới thiệu, thuyết minh về
phương thức sản xuất châu Á. Mặc khác, ông còn nêu lên tầm quan trọng của việc
nghiên cứu phương thức sản xuất châu Á là : “giải quyết được vấn đề phương thức
sản xuất châu Á, tức là thuyết minh được một quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác
về lịch sử châu Á, đồng thời giải quyết được một phần những khó khăn, mắc míu
trong vấn đề phân kỳ lịch sử Việt Nam” . Nguyễn Lương Bích cho rằng phương thức
sản xuất châu Á “là chế độ công xã nông thôn ở châu Á mà Mác đã nhấn mạnh là
một chế độ đặt biệt ở châu Á” . Cuối cùng, Ông khẳng định : “căn cứ vào sự thật
lịch
sử, chúng ta có thể thừa nhận : ở Việt Nam đã có phương thức sản xuất châu Á và
phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam đã tồn tại cho đến trước khi Pháp xâm
lược
”
.
Chương II : Làng xã, chế độ sở hữu ruộng đất ở Việt Nam nhìn từ
phương thức sản xuất Châu Á.
2.1. Công xã nông thôn và chế độ sở hữu ruộng đất thời Văn Lang – Âu Lạc.
2.2. Công xã nông thôn và chế độ sở hữu ruộng đất thời Bắc thuộc.
2.3. Công xã nông thôn và chế độ sở hữu ruộng đất thời Ngô – Đinh – Tiền Lê.