LỜI NÓI ĐẦU
Với xu thế toàn cầu hoá hiên nay, chuyển từ đối đầu sang đối thoại
thì thương mại quốc tế đóng một vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới trong đó hoạt động xuất khẩu đóng
vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại. Với một nước mà ngành
nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP như Việt Nam thì xuất khẩu
nông sản là một hướng đi đúng đắn. Nhận biết được điểm mạnh này, ngành
nông nghiệp nước ta đã nỗ lực hết sức để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi sao cho phù hợp với nhu cầu của thế giới về mặt hàng nông sản.
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nói chung và nông sản nói chung để
phục vụ cho mục tiêu lớn đó. EU là một thị trương lớn và đầy tiềm năng
cho mặt hàng nông sản của Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ nông sản của EU rất
lớn. Nắm bắt được điều này những thuận lợi này Việt Nam đã đẩy mạnh
đầu tư xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trường EU. Tuy nhiên chúng
ta cũng gặp không ít khó khăn trong việc xuất khẩu nông sản sang thị
trường EU. Vì vậy, để hoạt động xuất khẩu nông sản sang thị trường EU có
hiệu quả và khuyến khích các chủ thể kinh tế đẩy mạnh xuất khẩu sang thị
trường này cần có một phương hướng xuất khẩu nông sản sang thị trường
EU.
Phương hướng xuất khẩu nông sản sẽ quyết định hướng cho việc dự
đoán cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho
chu thể xuất khẩu.
Với những lý do trên và kết hợp với nhưng gì đã được học em đã lựa
chọn đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang thị
trường EU từ nay đến năm 2010 ”
1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XUẤT NHẬP KHẨU
HÀNG HOÁ
I. Khái niệm và vai trò của xuất nhập khẩu.
1. Khái niệm
động quốc tế và thương mại quốc tế.
Kinh tế đối ngoại là một bộ phận cực kỳ quan trọng đối với nền kinh
tế quốc dân của mỗi quốc gia và hoạt động xuất nhập khẩu là xương sống
vì nó là yếu tố chủ động nhất trong các lĩnh vực kinh tế đối ngoại, XNK
chịu tác động trức tiếp và sâu sắc nhất của các qui luật của thị trường quốc
tế, nó có thể vượt qua trợ ngại phi kinh tế khác ( cấm vận, chính sách
phong toả…)
Hoạt động XNK có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến hoạt động
đầu tư thể hiện ở chỗ : XNK là tiền đề và nơi thể hiện kết quả đạt được của
hoạt động đầu tư. Hoạt động XNK có tác động rộng lớn, sâu sắc đến khoa
học công nghệ, thể hiện thông qua sự chuyên môn hoá và hợp tác của các
công ty ở những nước khác nhau và ngược lại nhờ hoạt động XNK mà quá
trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá được phát triển một cách thuận lợi.
XNK thường xuyên mang lại hiệu quả tích cực cho sự phát triển kinh
tế quốc dân nếu việc tổ chức XNK phù hợp với đòi hỏi của các quy luật
khách quan dựa trên cơ sở lợi thế tương đối và tuyệt đối của các yếu tố cấu
thành sản phẩm có liên quan đến XNK.
Đối với nước ta, XNK nói riêng và kinh tế đối ngoại nói chung sẽ
góp phần to lớn trong việc tạo vốn và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài,
tạo điều kiện tốt để ta đổi mới cơ cấu sản xuất trong nước thúc dẩy nâng
cao hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước.
2.Mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai bộ phận cấu thành của ngoại thương,
chúng liên quan một mật thiết đến nhau và thúc đẩy nhau, chúng vừa là tiền
đề vừa là kết quả của nhau.
3
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai hoạt động cần thiết của bất kỳ một
nền kinh tế nào xây dựng theo mô hình kinh tế mở vì nó tác động đến cả
tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế quốc dân một cách hài hoà.
Kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu để xây dựng, phát triển tạo ra
dụng trong nước khiến sản xuất đắt đỏ, kém hiệu quả và tạo ra hiều quả
làm ngược lại so với mục đích tiết kiệm ngoại tệ.
Vì những nguyên nhân trên đây mà chính sách “đóng cửa “được thay
bằng chính sách “ mở cửa “ kinh tế.
Nhờ đẩy nhanh xuất khẩu mà tăng thu nhập ngoại tệ
. Tăng khả năng nhập khẩu máy móc trang thiết bị và công nghệ tiên tiến.
. Cải thiện tình hình mất cân đối về thu chi của ngân sách nhà nước.
. Tăng khả năng thu hút lao động.
. Chất lượng hàng hoá tăng.
. Tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, có lợi thế của một
đất nước.
* Những hạn chế của chính sách “ mở cửa “.
- Lệ thuộc vào nước khác về kinh tế.
- Tập trung chiến lược “ hướng về xuất khẩu” làm cho nền kinh tế
phát triển lệch mất cân đối.
- Ưu tiên ngoại thương cùng sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị
trường làm xảy ra sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư.
Đối với các nước phát triển thì mở rộng quan hệ kinh tế ra ngoài
giúp cho việc bành trướng sức mạnh kinh tế của mình như tìm hiểu thị
trường để tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu hàng hoá và đầu tư đem lại hiệu quả
cao cũng như có lợi nhuận cao, giảm được chi phí về nhân công, tài nguyên
rẻ của các nước đang phát triển.
Nhìn chung tốc độ XNK của thế giới gia tăng nhanh tốc độ tăng của
GDP. Những nước có tốc độ thương mại cao là do tăng cường chính sách
hướng ngoại đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn dầu tư nước ngoài.
5
Một số nước gặp khó khăn trong buôn bán quốc tế là do một mặt ảnh
hưởng của sự suy thoái kinh tế chung trên toàn cầu, mặt khác bản thân các
nước này gặp khủng hoảng về kinh tế, chính trị, nội chiến, tôn giáo.
II. Đặc điểm của xuất khẩu hàng nông sản.
Trong đó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng là hoạt
động thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế là hoạt động mua bán và
trao đổi hàng hoá và dịch vụ được diễn ra giữa các quốc gia. Như vậy, khi
mua hàng hoá hay dịch vụ của một bên nước ngoài được hiểu là hoạt động
nhập khẩu và khi bán hàng hoá hay dịch vụ cho bên nước ngoài được hiểu
là hoạt động xuất khẩu.
Ở một số nước thị trường trong nước là hữu hạn thậm chí với một số
nước còn quá nhỏ bé nên thị trường thế giới rộng lớn là mục tiêu để các
nước này vươn ra để xuất khẩu hàng hoá của nước mình. Vì thế ngày nay
khuyến khích xuất khẩu là chính sách mà các quốc gia đều ưu tiên và nhiều
khi nhập khẩu là để phục vụ xuất khẩu.
Không ngoài xu thế chung của thế giới Việt Nam cũng có nhiều
chính sách khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp tăng cường xuất khẩu.
Trong điều 2 Nghị Định số 57/1998/NĐ – CP quy định : “ Hoạt động xuất
nhập khẩu hàng hoá là hoạt đông mua, bán hàng hoá của các thương nhân
Việt Nam với các thương nhân nứơc ngoài theo các hợp đồng buôn bán bao
gồm cả tạm nhập tái xuất, hàng hoá chuyển khẩu. Thương nhân là các cá
nhân, tổ chức hay doanh nghiệp thực hiện hành vi thương mại bao gồm:
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại “
1.1. Cơ sở tồn tại của hoạt động xuất khẩu.
Mỗi một quốc gia muốn xuất khẩu một măt hàng nào đó phải phụ
thuộc vào tiềm năng của mỗi nước. Điều đó phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đôi
và lợi thế tương đối của mỗi quốc gia.
7
1.1.1. Lợi thế tuyệt đối
Là lợi thế có thể được dựa trên việc so sánh chi phí sản xuất bỏ ra để
sản xuất ra một loại hàng hoá.
Theo A.Smith nếu mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất mặt hàng mà
mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng mình có thế mạnh này sang
nước khác sau đó nhập khẩu mặt hàng mình không có ưu thế thì sản lượng
bán thành phẩm cho xí nghiệp để gia công sau đó thu hàng thành phẩm về
để xuất khẩu cho bên nước ngoài. Đơn vị nhận uỷ thác được hưởng phí uỷ
thác theo thoả thuận với các xí nghiệp khác.
2.3.Gia công quốc tế.
Đây là hình thức kinh doanh trong đó bên nhận gia công nhập
nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên gia công để chế biến ra thành
phẩm rồi giao lại cho bên đặt gia cồng để nhận được phí gia công. Hình
thức này áp dụng chủ yếu cho các nước đang phát triển có nhiều tài
nguyên, lao động dồi dào với giá rẻ nhưng lại thiếu vốn, kém về công nghệ.
Qua gia công cả hai bên cùng có lợi. Bên đặt gia công lợi dụng được giá rẻ
về nhân công, nguyên phụ liệu của nước gia công, không đòi hỏi nhiều
vốn. Nước nhận gia công tạo được việc làm cho lao động trong nước, nhập
được máy móc thiết bị, công nghệ mới.
2.4. Tái xuất khẩu
Là hình thức nhập khẩu tạm thời hàng hoá vào nước mình sau đó lại
xuất khẩu sang nước thứ ba. Hình thức này thường xuyên xảy ra ở những
nước trung gian xuất khẩu, có vị trí địa lý thuận lợi, thị trường và uy tín
kinh doanh xuất khẩu.
2.5. Xuất khẩu uỷ thác.
Đây là hình thức mà trong đó một đơn vị đóng vai trò là người trung
gian cho đơn vị sản xuất kí kết hợp đồng mua bán ngoại thương, tiến hành
9
các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá cho nhà sản xuất để qua đó
hưởng tỷ lệ phần trăm.
2.6. Xuất khẩu tại chỗ.
Trong hình thức này hàng hoá chưa xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc
gia. Đó là việc cung cấp hàng hoá cho các đoàn ngoại giao, đoàn khách du
lịch nước ngoài hay hàng hoá bán ra khỏi khu chế xuất của nước đó. Từ
hình thức này hình thành nên thị trường xuất khẩu tại chỗ. Với ưu điểm của
hình thức này là giảm bớt các chi phí cho bao bì vận chuyển, cước phí vận
2.9. Để hoạt động xuất khẩu diễn ra một cách thuận lợi và mang lại
lợi nhuận lớn cho đất nước, nhà nước cần xây dựng kế hoạch một cách có
hệ thống và việc xây dựng các kế hoạch 5 năm về xuất nhập khẩu nói
chung và xuất khẩu nói riêng là cần thiết. Đối tượng của kế hoạch 5 năm về
xuất khẩu là hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân. Kế hoạch xuất khẩu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kế
hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội. Nó hướng các hoạt động xuất khẩu của
các quốc gia đi theo một mục tiêu nhất định đồng thời đưa ra các chính
sách và giải pháp cần thiết nhằm đạt được mục tiêu phát triển xuất khẩu
một cách có hiệu quả.
Xây dựng kế hoạch 5 năm về xuất khẩu nông sản là một yêu cầu hết
sức quan trọng và cần thiết bởi vì :
Hiện nay có nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu
nông sản và chúng ta đã thừa nhận kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là tất
yếu, mọi thành phần kinh tế đều được tự do kinh doanh trong khuôn khổ
pháp luật, cho nên việc có nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động
xuất khẩu nông sản là tất yếu. Nhà nước cần sử dụng các hình thức kế
hoạch hoá đa dạng thích hợp với từng thành phần kinh tế để giải phóng mọi
năng lực sản xuất, tạo môi trường cho các thành phần kinh tế kinh doanh
năng động với hiệu quả cao, đảm bảo chức năng điều tiết vĩ mô với các
thành phần kinh tế.
11
- Hoạt động xuất khẩu nông sản tuân theo sự điều tiết của thị trường.
Thừa nhận kinh tế hàng hoá tất yếu thừa nhận thị trường kinh tế hàng hoá
càng phát triển thì thị trường cũng ngày càng mở rộng và càng khẳng định
vai trò của nó đến đời sống kinh tế xã hội. Kế hoạch hoá nền kinh tế quốc
dân về xuất khẩu trên cơ sở sử dụng đúng đắn quan hệ thị trường, tăng
cường mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực làm cho hoạt động xuất khẩu trở
lên sôi nổi nhưng không làm rối loạn các hoạt động xuất khẩu của thị
trường. Nghiên cứu sự vận động của thị trường hiện tại và xu hướng phát
Thị trường nông sản xuất khẩu là nơi diễn ra các giao dịch hàng
nông sản đáp ứng nhu cầu của nước ngoài về nông sản. Trên thị trường
xuất khẩu nông sản người mua và người bán thoả thuận giá cả theo các hợp
đồng, thanh toán chủ yếu bằng các ngoại tệ mạnh và phải có các thủ tục hải
quan của các nước. Một điểm chú ý là thị trường xuất khẩu không chỉ giới
hạn trong thị trường nước ngoài mà còn có một bộ phận khác đó là thị
trường xuất khẩu tại chỗ.
Thị trường sản xuất gạo gồm thị trường của từng mặt hàng nông sản
xuất khẩu nhất định như thị trường sạo, cà phê, cao su ... Giá cả của từng
loại nông sản xuất khẩu phụ thuộc vào tình hình cung cầu của mặt hàng đó.
Trên thị trường nông sản xuất khẩu thì yếu tố cung khó thay đổi do tính
mùa vụ của sản xuất nông nghiệp và đặc tính sinh học rõ rệt của các loại
nông sản.
3.1 . Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản.
3.1.1.Môi trường quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá thì tình hình biến động về mặt kinh
tế,chính trị, xã hội của nước này ảnh hưởng nhất định đến các nước xung
quanh. Hoạt động xuất khẩu nông sản có quan hệ trực tiếp với các chủ thể
nước ngoài, chịu sự tác động và phân phối của các nhân tố ở nước ngoài
nên nó càng nhậy cảm đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. Bất kỳ một sự
thay đổi nào về các mặt như chính sách xuất nhập khẩu, tình hình lạm phát,
13
thất nghiệp, tăng trưởng hay suy thoái kinh tế ... của các nước đều ảnh
hưởng đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản
của nước ta.
3.1.2. Môi lớn vào môi trường văn hóa mà họ sống ( cách sống, lối
sống, cách lưa chọn sản phẩmtrường văn hoá xã hội.
Môi trường văn hoá xã hội bao gồm : nhiều kiến thức, tín ngưỡng
pháp luật, nghệ thuật, lý luận, lối sống... của những người sống trong môi
trương mà doanh nghiệp muốn xuất khẩu. Khi một doanh nghiệp muốn
- Các biện pháp về tiêu chuẩn kỹ thuật.
Thực chất của biện pháp này là việc Chính phủ đưa ra hàng loạt các
tiêu chuẩn kỹ thuật qui định cho mỗi loại hàng hoá khác nhau. Cụ thể về
nhóm hàng nồng sản thì các biện pháp này có ảnh hưởng lớn. Với các mặt
hàng như rau quả đó là các qui định về hàm lượng hoá chất được phép sử
dụng sản xuất, bảo quản, vận chuyển và chế biến. Với các mặt hàng thịt
tươi sống thì là các yêu cầu về vệ sinh, kiểm dịch ...
- Trợ cấp xuất khẩu
Là biện phát nhà nước áp dụng đối với các doanh nghiệp thực hiện
nghiệp vụ sản xuất kinh doanh xuất khẩu bằng cách trợ giá đầu ra và đầu
vào cho sản xuất bằng cách trợ giá đầu ra và đầu vào cho sản xuất, cho vay
ưu dãi với lãi suất thấp và thời gian dài. cũng như điều chỉnh các mức thuế
quan hợp lý.
Hiện nay ở Việt Nam hình thức này được sử dụngcho nhiều mặt
hàng xuất khẩu. Nông sản là một trong những nhóm hàng được ưu tiên
nhiều nhất, đây là thuận lợi cho các nhà sản xuất nông sản Việt Nam.
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện.
Là hình thức bảo hộ thị trường nội địa bằng cách nhập khẩu đòi hỏi
nứơc xuất khẩu phải giảm lượng hàng xuất khẩu hoặc phải tự nâng giá
hàng xuất khẩu nều không nước nhập khẩu sẽ áp dụng biện pháp tra đũa.
3.1.6. Tỷ giá hối đoái
15
Là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ
của một nước khác hay là giá cả của đồng tiền giữa hai quốc gia.Trong hoạt
động xuất nhập khẩu các doanh nghiệp thường sử dụng các ngoại tệ mạnh
để thanh toán với nhau mà cả hai bên cùng chấp nhận sử dụng ngoại tệ đó
để thanh toán.
3.2. Lợi thế của Việt Nam khi xuất khẩu nông sản.
Do mới ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nên chất lượng mặt hàng nông sản Việt Nam còn rất hạn chế.
nhà nông, nhà khoa học trong sản xuất nông sản nói chung và xuất khẩu
nông sản nói riêng sẽ tạo ra khối lượng xuất khẩu ổn định, đa dạng hoá các
mặt hàng và chất lượng ngày càng được cải thiện.
- Khoa học công nghệ ngày càng hiện đại đặc biệt là công nghệ sinh
học đã tạo ra không ít những bước tiến trong lĩnh vực nông nghiệp. Do vậy,
hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam không ngừng được cải thiện về
chủng loại và chất lượng.
- Ngoài ra chi phí sản xuất nông sản của Việt Nam thấp vì được nhà
nước hỗ trợ nhiều nên giá thành hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với các
sản phẩm cùng loại trên thị trường.
3.3. Vai trò của xuất khẩu nông sản với nền kinh tế Việt Nam.
Việt Nam là một nước đang phát triển và đang cố gắng phát triển
kinh tế nhanh và vững chắc, đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những cách
mà Việt Nam lựa chọn. Trong đó xuất khẩu nông sản đã và đang chiếm tỷ
trọng lớn về giá trị. Vì vậy xuất khẩu nông sản có ý nghĩa lớn đến nền kinh
tế Việt Nam thể hiện qua các mặt sau :
3.3.1. Tạo ra lượng ngoại tệ quan trọng trong công cuộc công nghiệp
hoá hiện đại hoá hiện nay. Lượng ngoại tệ có được từ mặt hàng xuất khẩu
nông sản có ảnh hưởng lớn đến việc nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ
17
đắc lực cho mục tiêu chung của nhà nước đó là công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đây là mục tiêu dài trong tương lai của nước ta.
3.3.2. Thúc đẩy nhanh ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hoá lớn.
Hoạt động xuất khẩu ra thị trường thế giới rất rộng lớn, việc tìm
được thị trường và đáp ứng được nhu cầu về số lượng mà còn phải đáp ứng
được nhu cầu về chất lượng, muốn được như vậy thì nước ta phải có những
chính sách để vừa nâng cao chất lượng và phải mở rộng được sản xuất hàng
nông nghiệp để hàng nông sản của chúng ta có không những bán được mà
còn phải bán được với giá cao. Ngoài ra để thắng trong cạnh tranh chúng ta
tháng 5/ 2004.
1.1. Thị trường EU.
Về quy mô kinh tế của Liên hiệp châu Âu đứng thứ hai thế giới
(chiếm khoảng 25% GDP toàn thế giới), sau Mỹ. Về thương mại, EU
chiếm 19,4% giá trị hàng hoá và 24,3% dịch vụ tổng giá trị thương mại thế
giới năm 2002. Tình hình kinh tế nói trên của EU và của các nước trong
khối đã và đang tác động sâu sắc quan hệ kinh tế thương mại giữa EU và
các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của EU lớn nhất thế giới, chiếm
45 – 47% tổng số vốn đầu tư trực tiếp các năm 1994- 2001 của toàn thế
giới. Tiềm lực khoa học công nghệ của EU vào loại mạnh nhất thế giới.
Năm 1998, tổng chi phí nghiên cứu và triển khai của toàn thế giới là 479 tỷ
USD trong đó EU chiếm 28%.
Kể từ năm 1995, Liên minh Châu Âu (EU) gồm 15 nước thành viên
là: Pháp, Đức, Bỉ, Italia, Luc Xăm Bua, Hà Lan, Anh, Đan Mạch, Công
Hoà Alien, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo
19
đã trở thành một thị trường thống nhất có chính sách thương mại và biểu
thuế quan chung đối với hàng nhập khẩu (tuy còn đôi chút khác biệt giữa
các nước thành viên) và gần đây đã sử dụng một đồng tiền chung là đồng
EURO. Đây là một cơ hội thuận lợi cho các nhà xuất khẩu VN trong việc
tăng cường, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này. Đồng thời
đồng EURO sẽ giúp các doanh nghiệp VN thuận lơi hơn trong việc tính
toán và triển khai chiến lược thâm nhập thị trường EU.
Đến tháng 5 năm 2004, EU sẽ mở rộng thêm 10 nước Đông Âu. Việc
mở rộng EU có tác động không chỉ đến bản thân các nước thành viên EU
mà còn tác động cả đến các quốc gia khác trong đó có VN. Với bài tham
luận nhan đề " Liên kết Châu Âu & thị trường chung", GS. David Camoux,
GS. Trường Science Po Pari, nêu lên những thuận lợi và khó khăn chung
của các nước thành viên Liên Minh Châu Âu (EU) khi Liên Minh Châu Âu
- Về thương mại, quy mô buôn bán giữa Việt Nam và EU thời kỳ
1990-2000 tăng 12,1 lần. Kể từ năm 1991 đến nay, danh mục mặt hàng
xuất khẩu của Việt Nam sang EU có sự phát triển, ngoài những mặt hàng
truyền thống như thuỷ sản, nông sản (cà phê, chè, gia vị) đã có các sản
phẩm công nghiệp chế biến như: dệt may, giày dép, các sản phẩm bằng da
thuộc, đồ gỗ, đồ chơi trẻ em, đồ sứ mỹ nghệ, và gần đây đã xuất hiện
những mặt hàng như : điện tử, điện máy. EU đã và sẽ luôn luôn là thị
trường quan trọng đối với ngoại thương của Việt Nam. Trong quan hệ
thương mại song phương, Việt Nam tiếp tục xuất siêu; về nhập khẩu,
khoảng 90% hàng nhập khẩu của Việt Nam từ EU là sắt, thép, phân bón và
sản phẩm dầu mỏ.
Để thúc đẩy quan hệ thương mại song phương, Việt Nam và EU đã
dành cho nhau chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN). EU đã cam kết dành
cho hàng hoá xuất xứ từ Việt Nam chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP),
đồng thời EU đã gia hạn và điều chỉnh tăng hạn ngạch nhập hàng dệt - may
Việt Nam, công nhận hơn 30 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam đạt
21
tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh cuả EU. Một số doanh nghiệp và nhiều
hàng hoá Việt Nam đã được chấp nhận và từng bước có chỗ đứng ổn định
tại thị trường EU. Nếu xét về cơ cấu các nước thuộc EU có quan hệ thương
mại với Việt Nam, đứng đầu là CHLB Đức chiếm tỷ trọng 28,5% tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - EU: Tiếp đến là cộng hoà pháp chiếm
20,7%, Anh 12,7%, I-ta-li-a 9,6%, Bỉ, Luých-xăm-bua 8,1%, Hà Lan 7,6%,
Tây Ban Nha 4,2%, Thuỵ Điển 2,8%, Đan Mạch 2,2%, áo 1,4%, Phần Lan
0,9%, Hy Lạp và Bồ Đào Nha đều là 0,4%.
- Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của EU vào Việt Nam;
tính đến hết năm 2002 các nước thành viên EU đã có 285 dự án FDI đầu tư
vào việt Nam với tổng vôns đăng ký hơn 7 tỷ USD (trong đó Pháp 2,58 tỷ
USD, Anh 1,8 tỷ, Hà lan 1,17 tỷ USD)....Các dự án FDI của EU đã góp
phần quan trọng vào việc bổ sung nguồn vốn, mở rộng thị trường xuất
phát triển mối quan hệ kinh tê – thương mại với EU còn giúp Việt Nam
khăc phục khó khăn về công nghệ kĩ thuật, đào tạo cán bộ, nhân lực. EU có
ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế thế giới, nếu chung ta có thể phát triển quan
hệ thương mại Việt Nam – EU tốt đẹp từ đó nâng cao uy tín của Việt Nam
trên thị trường quốc tế. Điều đó tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng quan
hệ thương mại với các nước còn lại của thế giới. Đồng thời khai thác triệt
để những ưu đãi trong chính sách của EU đối với các nước đang phát triển,
đây là yếu tố có lợi cho Việt Nam hiện nay.
Một trong những vấn đề quan trọng của Việt Nam nhằm tận dụng
những lợi ích của Việt Nam trong phát triển thương mại với EU. Điều đó
ảnh hưởng lớn đến quá trình hội nhập thương mại của Việt Nam cũng như
nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Tình hình xuất khẩu nông sản sang thị trường EU
Từ một nước nhập khẩu nông sản nói chung và gạo nói riêng, chỉ sau
một thập kỷ Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu hàng nông sản và có
23
một vài mặt hàng xuất khẩu hàng đầu so với thế giới. Tuy nhiên, điều
nghịch lý là những con số này chưa tương xứng với vị thế lẽ ra phải có. Giá
bán vẫn còn thấp và hầu như bị khách hàng nước ngoài chi phối. Mặt hàng
gạo dù có sự cải thiện đáng kể về giá so với Thái Lan, nhất là gạo cấp thấp
và trung bình, nhưng giá gạo bình quân vẫn thấp hơn Thái Lan 60 USD/tấn.
Hồ tiêu kém giá các nước vài trăm USD/tấn; mặt hàng cà phê, điều nhân…
cũng tương tự. Tất cả đều do vấn đề chất lượng phẩm và uy tín doanh
nghiệp cũng như thiếu sự liên kết giữa những nhà xuất khẩu gạo của Việt
Nám. Năm 2005, hàng nông lâm thủy sản xuất khẩu chiếm gần 25% tổng
kim ngạch xuất khẩu cả nước, với hơn 8 tỷ USD, trong đó, gạo 1,4 tỷ USD,
mặt hàng gỗ và lâm sản chế biến với 1,6 tỷ USD, thủy sản 2,6 tỷ USD, cao
su 787 triệu USD, cà phê 730 triệu USD, hạt điều gần 500 triệu USD, hồ
tiêu 120 triệu USD…
Ta có thế nhìn qua về tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam
quốc tế ưa chuộng.Vì vậy, để đáp ứng thị hiếu trên, trong những năm qua,
nhiều địa phương và các cơ sở sản xuất đã đầu tư xây dựng nhiều nhà máy
chế biến rau quả khá hiện đại và công nghệ của Châu Âu, với tổng công
suất lên đến 290.000 tấn/năm để nâng cao khả năng chế biến và cạnh tranh
của rau, quả Việt Nam; đó là chưa kể 7 đơn vị liên doanh, 129 cơ sở tư
nhân và trên 10.000 hộ gia đình tham gia chế biến rau quả trong cả nước,
trong đó nhiều cơ sở chế biến đã xuất khẩu rau quả sang những thị trường
"khó tính" như EU. Ngoài ra, để phát huy ưu thế có nhiều loại trái cây ngon
có thể xuất khẩu được, nhiều địa phương, nhất là các tỉnh Đồng bằng sông
Cửu Long đã có nhiều cố gắng xây dựng các vùng trái cây nguyên liệu tập
trung với quy mô tương đối lớn và ươm trồng nhiều loại cây ăn quả có chất
lượng cao như: xoài cát Hòa Lộc của Tiền Giang, Bưởi Năm Roi (Cần
Thơ), vú sữa Vĩnh Kim, sầu riêng Chín Hóa.... để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu sang EU là thị trường lớn của trái cây Việt
Nam. Bên cạnh đó, để nâng cao tính cạnh tranh và giá trị của trái cây, rau
25