Đề cương môn Giao tiếp và Đám phán kinh doanh - Pdf 46

đề cương môn: giao tiếp và đphkd
Câu 1:trình bày đặc trưng của giao tiếp xã hội:
-“Giao tiếp là hành vi và quá trình trong đó con người tiến hành trao đổi thông
tin với nhau, nhận thức, đánh giá về nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn
nhau”.
đặc trưng:
- Tính bản chất xã hội: Bản chất xã hội thể hiện ở chỗ bất cứ một giao tiếp nào
cũng là một quan hệ xã hội, thông qua sự trao đổi, tiếp xúc giữa con người với
con người. Quá trình tiếp xúc này hình thành nên các chuẩn mực, các giá trị, các
nhu cầu, lợi ích,… của xã hội; của một nhóm người trong xã hội hay của cá nhân
tham gia. Mặt khác mục đích, động cơ, phương tiện giao tiếp của mỗi cá nhân
cũng đều do xã hội quy định, chế ước.
- Tính chủ thể trong giao tiếp: Quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá
nhân cụ thể. Họ là chủ thể của sự trao đổi hay tác động. Họ là các cặp chủ thể-
đối tượng luôn luôn đổi chỗ cho nhau, cùng chịu sự chi phối và tác động lẫn
nhau, chính vì thế người ta nói giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động, nó
chỉ là hoạt động mang cấu trúc kép.
- Tính nhận thức người khác: Trong giao tiếp, các bên tham gia giao tiếp không
chỉ trao đổi thông tin với nhau mà còn tìm hiểu, nhận thức lẫn nhau. Trên cơ sở
nhận thức người khác để đánh giá bản thân mình, họ có xu hướng tìm kiếm ở
người khác để xem ý kiến của mình có đúng không, có được thừa nhận không.
Trên cơ sở đó họ có sự điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tăng cường
hoặc giảm bớt sự thích ứng nhau. Tóm lại, chỉ khi giao tiếp với người khác con
người mới có thể khám phá đầy đủ chính xác bản thân mình.
- Tính tác động qua lại lẫn nhau: Trong suốt quá trình giao tiếp các chủ thể
giao tiếp luôn tri giác lẫn nhau. Tri giác là quá trình nhận thức đối tượng giao
tiếp bằng con đường cảm tính nhờ các giác quan: thính giác, thị giác, xúc giác.
Cơ chế của ảnh hưởng xã hội như bắt chước, ám thị, thoả hiệp, đồng nhất hoá
đặc biệt là sự lây lan, lan truyền cảm xúc tâm trạng tiếp diễn suốt quá trình giao
tiếp. Thông qua các cơ chế đó các chủ thể giao tiếp tác động qua lại lẫn nhau,
chi phối ảnh hưởng lẫn nhau.

phương tiện giao tiếp sao cho phù hợp.
Chức năng này thể hiện khả năng thích nghi lẫn nhau của các chủ thể giao
tiếp, ngoài ra nó còn thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt của các phẩm chất tâm lý
cá nhân trong giao tiếp. Hơn nữa, chức năng này còn thể hiện vai trò tích cực
của các chủ thể giao tiếp trong quá trình giao tiếp.
Chức năng này cực kỳ quan trọng trong hoạt động quản trị và kinh doanh.
Bằng các hình thức giao tiếp khác nhau như ra lệnh, thuyết phục, tạo dư luận
mà nhà quản trị hướng hoạt động của nhân viên vào thực hiện mục đích chung
của doanh nghiệp. Cũng thông qua các hình thức tác động lẫn nhau trong giao
tiếp mà nhà kinh doanh có thể thoả thuận được với các đối tác về hợp đồng
thương mại có lợi.
- Chức năng phối hợp hành động: Thông qua giao tiếp để phối hợp hoạt động.
Trong một tổ chức có nhiều bộ phận, chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Tuy nhiên
để cho một tổ chức hoạt động một cách thống nhất, đồng bộ thì các bộ phận
thành viên trong tổ chức cần giao tiếp với nhau để hành động cho hiệu quả.
- Chức năng động viên, kích thích: Thông qua giao tiếp để làm phấn khích tinh
thần, tâm lý của đối tượng tham gia giao tiếp. Chức năng này liên quan đến lĩnh
vực cảm xúc của con người. Trong quá trình giao tiếp, không chỉ xảy ra các quá
trình truyền tin hay tác động điều chỉnh lẫn nhau mà còn xuất hiện các trạng thái
cảm xúc của những người tham gia. Qua quan sát thực tế cuộc sống, ta thấy giao
tiếp thường nảy sinh trong chính thời điểm người ta muốn thay đổi cảm xúc của
mình. Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ có tác dụng rất lớn đối với chức
năng này. Vì vậy, các nhà quản trị bên cạnh việc sử dụng những biện pháp hành
chính, mệnh lệnh để tác động đến nhân viên của mình, còn sử dụng các biện
pháp động viên khuyến khích về vật chất và tinh thần để tạo ra những cảm xúc
tốt đẹp, tạo bầu không khí làm việc tốt, để tạo được hiệu quả công việc cao.
• Nhóm chức năng theo phương diện tâm lý: Nhóm các chức năng tâm
lý xã hội là các chức năng giao tiếp phục vụ nhu cầu từng thành viên xã hội với
nhau. Giao tiếp tránh cho con người rơi vào tâm trạng bị cô lập.
- Chức năng tạo mối quan hệ: Thông qua giao tiếp để có mối liên hệ các cá

nhận thông điệp và giải mã. Giải mã là quá trình diễn dịch bản thông điệp nhận
được sao cho hiểu được ý nghĩa đích thực của nó. Sau khi giải mã, người nhận
sẽ phản hồi. Phản hồi là sự đáp lại, sự phản ứng lại của người nhận về bản
thông điệp mà họ nhận được. Trong quá trình phản hồi người nhận thông tin ban
đầu chuyển sang vai trò của người gửi thông tin và quá trình trên được tiếp diễn.
Quá trình truyền thông trong giao tiếp có hiệu quả hay không trước hết phụ
thuộc vào người gửi, người nhận và các yếu tố:
Người gửi: Khi đưa ra bản thông điệp, chẳng hạn bằng phương tiện là lời
nói, người nói cần chú ý:
- Cái gì, tức là nói cái gì, nói vấn đề gì? (nhiều khi chúng ta lỡ lời, nói ra
điều không nên nói, trước khi nói phải cân nhắc điều gì nên nói và ngược lại).
- Tại sao, tại sao phải nói ra điều đó, nói điều đó nhằm mục đích gì?
- Với ai, cần chú ý tìm hiểu người nghe là ai? (tên, tuổi, giới tính, nghề
nghiệp, địa vị xã hội, trình độ học vấn, tâm trạng, tình cảm, sở thích, lập trường,
tín ngưỡng, niềm tin, thói quen,...). Ta phải tìm hiểu đối tượng giao tiếp để từ đó
có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp.
- Khi nào, tức là đưa ra bản thông điệp vào thời điểm nào cho phù hợp.
- Ở đâu, nên cân nhắc đưa ra bản thông điệp cho người nhận ở đâu, trong
hoàn cảnh nào để đạt hiệu quả cao nhất. Việc chọn sai địa điểm có thể làm giảm
hiệu qủa truyền thông, thậm chí hoàn toàn không đạt mục đích mong muốn.
- Bằng cách nào, một thông điệp có thể truyền đến người nhận bằng nhiều
cách khác nhau, nhưng hiệu quả thường không giống nhau. Vì vậy, chúng ta cần
biết lựa chọn cách truyền thông tin tối ưu nhất.
Để quá trình trao đổi thông tin thành công thì bên cạnh việc người gửi,
người nhận thông tin thực hiện tốt các yêu cầu nêu trên, cũng cần chú ý tới chất
lượng của các kênh truyền thông và các biện pháp khắc phục, hạn chế các yếu tố
gây nhiễu trong quá trình giao tiếp.
Người nhận: Để tiếp nhận và giải mã thông điệp từ người gửi một cách
đầy đủ, chính xác, người nhận phải chú ý:
- Cái gì, tức là người nói đang nói cái gì, vấn đề gì?


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status