Giới thiệu Vùng Núi - Trung du phía Bắc - Pdf 46

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÙNG

Gồm 14 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hòa Bình, Lai
Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái.
• Vị trí địa lý: Nằm ở phía bắc của Tổ quốc, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía
nam giáp các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Phía bắc giáp nước CHND Trung Hoa,
phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông nam giáp các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội,
Vĩnh Phúc, phía tây giáp CHDCND Lào, phía nam giáp các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thanh
Hóa. Đường biên giới dài hơn 1.300 km. Có 3 cửa khẩu quốc tế và 10 cửa khẩu quốc gia.
• Diện tích: 95.064 km2, chiếm 28,87% diện tích cả nước.
• Dân số: 12 triệu người, chiếm hơn 13,2% dân số cả nước, gồm 42 dân tộc (trong đó,
các dân tộc ít người là 5 triệu người).
• Tỉnh lỵ:
- Các thành phố: Bắc Giang, Điện Biên, Hòa Bình, Lạng Sơn, Lào Cai,
Thái Nguyên, Sơn La, Việt Trì, Yên Bái.
- Các thị xã: Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Hòa Bình, Lai Châu, Phú Thọ, Sơn
La.
Tiềm năng phát triển công nghiệp
1. Tiềm năng đất.
Với diện tích tự nhiên 95.064 nghìn ha, chiếm 28,87% diện tích cả nước, trong đó,
diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp mới chiếm hơn 10%. Vùng trung du và miền núi phía
Bắc còn có một quỹ đất lớn chưa được sử dụng. Tuy cơ cấu đất có nhiều loại nhưng cũng
có một số loại phù hợp cho phát triển nông nghiệp, nhất là trồng cây công nghiệp ngắn ngày,
cây ăn quả, trồng cỏ để chăn nuôi đại gia súc.
Nhờ có quỹ đất lớn và biết tận dụng những đổi mới về cơ chế khoán trong nông
nghiệp, trong những năm qua, tiềm năng đất đai, rừng và lao động bước đầu được khai thác
tốt hơn. Trồng trọt, chăn nuôi phát triển ổn định và có xu hướng tăng dần theo cơ chế sản
xuất hàng hóa. Sản lượng lúa, ngô tăng nhanh cả về lượng tuyệt đối và tỷ trọng; Khoai, sắn
giảm dần và thay thế bằng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao. Tự túc lương thực đã
được thực hiện và từng bước tiến hành đa thâm canh cây trồng theo hướng đất nào cây
nấy. Nhiều diện tích đồi trước kia trồng sắn, khoai, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp, nay

Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Giang. Riêng mỏ Sin Quyền - Bát Xát (Lào Cai) có trữ
lượng 551 ngàn tấn đồng, 35 tấn vàng, 25 tấn bạc. Niken có mỏ Bản Phúc (với trữ lượng
120 ngàn tấn niken và 73 ngàn tấn đồng).
Đồng - niken - bạch kim ở Vạn Yên và Phù Yên (Sơn La). Có 41 ngàn tấn đồng, 115
ngàn tấn niken.
5. Đất hiếm: Tập trung chủ yếu ở mỏ Nậm Xe, Đông Pao, Phong Thổ (Lai Châu) có
trữ lượng trên 10 triệu tấn. Hàm lượng oxýt đất hiếm trong quặng trung bình là 4 - 5%, có
thân quặng tới 10 - 30%.
ở Yên Phú (Yên Bái), Mường Hum, Bát Xát (Lào Cai) v.v... cũng tìm thấy quặng đất
hiếm.
6. Sắt: Quặng sắt gồm các mỏ phân bố dọc sông Hồng như Quý Sa, Nàng Mỵ, Hương
Khánh, Ba Hòn, Làng Lếch có trữ lượng vài trăm triệu tấn. Riêng Quý Sa trữ lượng trên 100
triệu tấn với hàm lượng 43 - 45% Fe trong quặng. Ngoài ra, còn có ở các mỏ Trại Cau, Tiến
Bộ, Quang Trung (Thái Nguyên), riêng mỏ Trại Cau trữ lượng tới 9 triệu tấn, hàm lượng Fe
trên 60% trong quặng. Mỏ Tiến Bộ trữ lượng 24,2 triệu tấn, hàm lượng 53% Fe. Mỏ Nà Rụa,
Nà Lũng (Cao Bằng) trữ lượng khoảng 50 triệu tấn, hàm lượng Fe trên 60% trong quặng.
Mỏ Tồng Bá (Hà Giang) thăm dò cấp B là 140 triệu tấn.
7. Vàng: Vàng được tìm thấy ở Chợ Bến, Miếu Môn, Lương Sơn - Kim Bôi, Đồi Bù
(Hòa Bình); Mai Sơn, Phù Yên (Sơn La); Ngân Sơn, Bạch Thông, Chợ Mới, Na Rì (Bắc
Kạn), Bình Gia (Lạng Sơn) v.v... Đây là những mỏ có triển vọng nhất, nhiều mỏ trữ lượng
vàng đạt từ 1 - 5 tấn.
8. Đá quý: Rubi - safia nổi tiếng ở Lục Yên (Yên Bái).
9. Than: Than mỡ ở Quỳnh Nhai, Nà Sùng, Mường Lượm, Suối Bàng (Sơn La); Đồi
Hoa, Bảo Hiệu (Hòa Bình); Nà Sang, Thanh An (Lai Châu); Làng Cẩm (Thái Nguyên) có
tổng trữ lượng hàng chục triệu tấn. Than Na Dương (Lạng Sơn), than Quán Triều (Thái
Nguyên) v.v...
10. Chì - kẽm: Trong vùng đã tìm thấy khoảng 50 điểm chì - kẽm, đặc biệt là Tú Lệ
(Yên Bái), Phúc Vinh, Tràng Đà (Tuyên Quang) có trữ lượng hàng triệu tấn. Chì - kẽm Chợ
Điền (Bắc Kạn) đã nổi tiếng từ lâu và đầu thế kỷ XX Công ty Mỏ và Luyện kim Đông Dương
đã khai thác với quy mô khá lớn. Trữ lượng chì - kẽm hiện nay khoảng 615 ngàn tấn (cấp C1

- Với nguồn nước mặt phong phú, vùng trung du và miền núi phía Bắc ngoài việc cung
cấp nguồn nước lớn cho các nhà máy thủy điện lớn của đất nước, còn giữ vai trò điều tiết,
cung cấp nước cho cả hệ thống thủy nông của đồng bằng Bắc bộ vựa lúa lớn thứ 2 của cả
nước. Ngoài ra, nguồn nước này còn mang lại một nguồn lợi lớn thủy sản.
- Tổng hợp các số liệu điều tra của 14 tỉnh trong vùng cho thấy, toàn vùng có diện tích
nuôi trồng thủy sản là 18.386,5 ha, đạt tổng sản lượng 29.531 tấn. Trong đó, Phú Thọ có
sản lượng cao nhất, đạt 11.052 tấn/3.994 ha, tiếp đến là Bắc Giang có 6.646 tấn/2.945 ha,
Thái Nguyên: 2.904 tấn/2.041 ha... Trong những năm qua, toàn Vùng vẫn chưa phát triển
mạnh được nuôi trồng thủy sản, chỉ đủ dùng cho bản thân của từng tỉnh trong vùng mà
không có khả năng về số lượng để phát triển công nghiệp chế biến.
b. Tài nguyên nước ngầm:
Ngoài nguồn nước sông, ngòi, ao, hồ, nước mưa, còn nguồn nước ngầm phân bổ chủ
yếu trong các nham thạch trầm tích. Trong nước ngầm còn có nước khoáng, nước nóng rất
cần thiết cho sức khỏe và chữa bệnh như nước khoáng Kim Bôi (Hòa Bình), nước khoáng
Văn Chấn, Trạm Tấu (Yên Bái). Nước khoáng Bình Ca ở Tuyên Quang có hàm lượng khí
CO2 lớn từ 750 - 1500 mg/l, khi khoan phun cao tới 15m trên bề mặt đất. Nước khoáng
Tràng Định (Lạng Sơn) cũng đang trong giai đoạn khoan thăm dò.
4. Cơ sở hạ tầng
4.1. Hệ thống giao thông
Trong vùng có hệ thống đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn - Đồng Đăng: 167km; Hà Nội -
Yên Bái - Lào Cai: 296 km; Hà Nội - Thái Nguyên - Quán Triều: 75 km; Kép - Lưu Xá: 55 km;
Yên Bái - Phố Lu: 106 km. Đây là huyết mạch vận tải chính của một số tỉnh trong Vùng.
Đường bộ có các tuyến:
* Hà Nội - Lạng Sơn - Trung Quốc: (Bao gồm quốc lộ 1 và tuyến đường sắt. Tuyến
này phục vụ các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn. Nhu cầu vận tải liên tỉnh trên tuyến
đường này liên quan đến quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc.
* Hà Nội - Cao Bằng - Trung Quốc: Tuyến đường bộ theo quốc lộ 3 dài 300 km, bao
gồm 2 đoạn: Hà Nội - Thái Nguyên và Thái Nguyên - Cao Bằng, chủ yếu vận tải cho khu
vực.
* Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc: Tuyến quốc lộ 2 nối Việt Trì với Hà Giang qua Phú

4.2. Hệ thống cung cấp điện
Điện năng là nguồn năng lượng quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước, đặc biệt là công nghiệp. Nó được coi là một trong các nguồn động lực của nền kinh tế
quốc dân.
Hiện nay lưới điện quốc gia đã tới trung tâm của tất cả các huyện, thị trấn trong toàn
Vùng. Hệ thống điện quốc gia 110 kV, 45 kV, 35 kV, 22 kV, 10 kV. 6 kV và điện dân dụng hạ
thế 0,4 kV được xây dựng trong nhiều thập kỷ qua nay đã được trang bị và cải tạo lại, song
nhiều hệ thống 10 kV, 6 kV bị xuống cấp, gây tổn thất điện năng lớn cần được cải tạo, nâng
cấp.
Tỷ lệ các xã có điện trong toàn Vùng là hơn 70%.
4.3. Hệ thống cung cấp nước
Nước sạch tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã và ở một vài thị trấn. Công suất nhà
máy nước thường là 5.000 - 10.000 m3/ngày đêm ở thị xã và 450 - 750 m3/ngày đêm ở một
số thị trấn.
Số dân nông thôn được dùng nước sạch hiện nay vẫn còn ít: Bắc Giang là tỉnh gần
đồng bằng, có cơ sở kinh tế tương đối khá mà dân nông thôn được dùng nước sạch mới có
39%, Hà Giang 27,8%, Bắc Kạn chỉ có 12% số hộ được dùng nước sạch.
Nhìn chung, việc cấp nước sạch cho thành phố, thị xã, thị trấn ở khu vực này còn
thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu dân cư, nhất là các khu công nghiệp như Việt Trì (Phú Thọ),
Gang Thép (Thái Nguyên) v.v...
Việc ô nhiễm nguồn nước do khai thác khoáng sản, các chất thải độc hại ở các nhà
máy công nghiệp đã làm cho dân nông thôn thiếu nước sạch nghiêm trọng nhất là vào mùa
khô.
Chương trình đầu tư nước sạch cho đồng bào vùng trung du, miền núi phía Bắc tới
năm 2010 cũng mới chỉ được 50% số hộ nông thôn có nước sạch.
4.4. Hệ thống thông tin liên lạc
Ngành bưu điện vùng trung du và miền núi phía Bắc nước ta đã hòa nhập được với
nhịp độ phát triển của ngành về trang bị kỹ thuật, tổ chức bộ máy và các hoạt động dịch vụ
hiện đại. Về viễn thông, 14 tỉnh này đã lắp đặt các tổng đài hòa mạng vào hệ thống quốc gia.
Từ tổng đài đã truyền dẫn thông tin đi các xã, huyện trong tỉnh. Số lượng các máy điện thoại

với các vùng khác trong nước;
- Phát triển kinh tế đi liền với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao dân
trí, đào tạo nguồn nhân lực nhất là cán bộ dân tộc thiểu số;
- Phát triển kinh tế - xã hội đi liền với giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân, giữa đồng bào các dân tộc, xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng tuyến biên giới hoà bình, hữu
nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng.
- Các mục tiêu được xác định là:
+ Tập trung xây dựng thủy điện, thu hút các thành phần kinh tế tham gia, ngoài các
công trình lớn như Sơn La, Na Hang, cần phát huy tất cả những nơi có điều kiện phát triển
thủy điện, nhiệt điện.
+ Đẩy mạnh khai thác mỏ, chế biến khoáng sản; sản xuất vật liệu xây dựng; hóa chất,
phát triển công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản; các khu, cụm công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và làng nghề.
b. Quan hệ với các nước có chung tuyến biên giới được khai thông và mở rộng.
Kinh tế cửa khẩu là một trong những lợi thế của Vùng. Những năm qua, tổng mức lưu
chuyển hàng hóa bán lẻ xã hội của các tỉnh biên giới đã tăng đáng kể, tuy nhiên sản xuất
hàng xuất khẩu trong vùng còn hạn chế. Hiện nay, hầu hết các tỉnh trong Vùng ít có hàng
xuất và cũng ít có hàng nhập khẩu. Các cửa khẩu hoạt động chủ yếu là xuất, nhập hàng hóa
cho các tỉnh, thành phố thuộc các vùng khác. Các cửa khẩu quốc tế và quốc gia hiện đã và
đang được áp dụng chính sách mới nhằm đầu tư kết cấu hạ tầng phát triển thương mại
đường biên, tăng cường các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, tăng nguồn
thu cho ngân sách tỉnh và cả nước.
-. Quan hệ với Trung Quốc:
Việt Nam có đường biên giới quốc gia 1.485,6 km giáp với nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa bao gồm 7 tỉnh Đông và Tây Bắc của Việt Nam và 2 tỉnh của Trung Quốc (Quảng
Tây, Vân Nam). Trong số 15 nước có đường biên giới quốc gia giáp với Trung Quốc, Việt
Nam là một nước tiếp giáp biển, gần với những khu vực kinh tế có tốc độ phát triển cao như
Thẩm Quyến, Hạ Môn, Sơn Đầu, Chu Hải, Hải Nam... Với đặc điểm địa lý này, ngoài yếu tố

Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Lào được đánh giá trên
các phương diện chủ yếu sau: điều kiện và môi trường chính trị - xã hội giữa các nước có
chung đường biên giới; điều kiện và trình độ phát triển kinh tế của các nước; điều kiện về
văn hóa dân tộc, tôn giáo và thói quen sinh hoạt của dân cư tại khu vực hai bên dọc tuyến
biên giới; điều kiện về kết cấu hạ tầng giao thông dọc tuyến biên giới; điều kiện tự nhiên và
đặc điểm cũng như trình độ phát triển thị trường, phát triển giao lưu, liên kết kinh tế biên giới
giữa các nước có chung đường biên giới được thể hiện tập trung tại các khu vực cửa khẩu.
Những thuận lợi và khó khăn cơ bản trong phát triển thương mại hàng hóa tại các cửa khẩu
biên giới Việt Nam - Lào khái quát như sau:
Quan hệ chính trị - xã hội đặc biệt giữa Việt Nam - Lào trong suốt chiều dài lịch sử và
cả hai nước cùng là thành viên của ASEAN. Đây là yếu tố, là tiền đề đặc biệt quan trọng tạo
cơ sở cho sự phát triển hợp tác và giao lưu kinh tế - thương mại giữa hai nước.
Điều kiện và trình độ phát triển của hai nước tuy có những lợi thế khác nhau nhưng về
cơ bản không có sự chênh lệch lớn, nhiều mặt tương đồng nên tạo thuận lợi để tạo lập và
thực hiện các nguyên tắc tương hỗ, ngang bằng dân tộc trong quan hệ thương mại quốc tế
giữa hai nước.
Hành lang Đông - Tây được xây dựng và phát triển cùng với “Hiệp định khung về tạo
điều kiện thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa và hành khách dọc biên giới ở khu vực sông
Mê Kông”, sẽ tạo điều kiện thuận lợi và mở ra cơ hội lớn về phát triển thương mại tại các
khu vực cửa khẩu biên giới Việt Nam - Lào.
Triển vọng duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao (với tốc độ tăng trưởng GDP 5 -
8%/năm) của hai nước mở ra triển vọng lớn về phát triển giao lưu hàng hóa, phát triển
thương mại giữa hai nước. Với các đặc điểm khác nhau về tiềm năng, thế mạnh kinh tế và
tài nguyên của mỗi nước, Việt Nam và Lào có nhiều triển vọng hợp tác phát triển. Lào có
nhiều tài nguyên khoáng sản; tiềm năng thủy điện dồi dào; quỹ đất, rừng rất lớn chưa được
khai thác. Lào cũng có tiềm năng lớn về trồng cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, về
chăn nuôi gia súc lớn và có nhiều lâm đặc sản quý hiếm. Khó khăn của Lào là kết cấu hạ
tầng, đường giao thông chưa phát triển, không có biển, hệ thống đường sắt chưa phát triển,
thiếu lao động và cán bộ khoa học kỹ thuật. Trong khi đó, Việt Nam có trên 3000 km bờ biển
với nhiều cảng nước sâu, đủ điều kiện để phát triển thành cảng biển quốc tế; có tiềm năng

2005.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status