Sử dụng truyện kể trong dạy học môn Giáo dục công dân phần Công dân với đạo đức ở trường Trung học phổ thông hiện nay tt - Pdf 46

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐẶNG XUÂN ĐIỀU

SỬ DỤNG TRUYỆN KỂ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC
CÔNG DÂN PHẦN CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học Bộ môn Giáo dục Chính
trị
Mã số: 62.14.01.11

TÓM TẮT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


HÀ NỘI - 2017


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đã từ lâu, qua các công trình nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục học
danh tiếng, TK luôn được xem là một PTDH và giáo dục đạo đức mang
lại hiệu quả cao. Bên cạnh việc góp phần thực hiện chức năng truyền bá
tri thức, kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác, TK còn được xem là
phương tiện không thể thiếu được trong công tác dạy học, giáo dục các
phẩm chất, đạo đức cho con người trong nhiều môi trường khác nhau, đặc
biệt là trong nhà trường.

hiệu quả dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ tại trường THPT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Nguyên tắc và biện pháp sử dụng hiệu quả TK trong dạy học môn
GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT hiện nay.
4. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ, nếu TK được sử
dụng theo hướng kết hợp nhuần nhuyễn với các PPDH khác, chú trọng khai
thác sự đa dạng về hình thức biểu đạt và được thực hiện theo quy trình hợp
lý sẽ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ ở
trường THPT hiện nay.
5. Những luận điểm cần bảo vệ
- Xuất phát từ sự phù hợp với đặc thù tri thức của các bài dạy, TK là
PTDH có nhiều ưu thế và quá trình sử dụng nó sẽ mang lại hiệu quả cao
trong dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT hiện nay.
- Để phát huy vai trò của TK trong dạy học môn GDCD phần
CDVĐĐ ở trường THPT hiện nay, người GV thực hiện các biện pháp sư
phạm riêng biệt, trong đó cần xây dựng được ngân hàng TK, sử dụng hợp lý
TK ở từng PPDH; đa dạng hóa các hình thức biểu đạt và thực hiện có hiệu
quả quy trình sử dụng TK trong dạy học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung
của đề tài.
- Khái quát cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề sử dụng TK trong
dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT.
- Đề xuất nguyên tắc và biện pháp sư phạm của việc sử dụng hiệu
quả TK trong dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ trường THPT hiện nay.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả, tính khả

có liên quan đến đề tài sử dụng TK trong dạy học môn GDCD phần
CDVĐĐ ở trường THPT nhằm xây dựng các khái niệm công cụ và khung lí
thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: phương pháp này được sử dụng nhằm thu
thập, phân tích thông tin từ các phiếu hỏi và sản phẩm sư phạm (giáo án,
kế hoạch dạy học,...) để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài thông qua
việc thu thập và đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu đang diễn ra
hiện nay.


4

- Phương pháp quan sát: phương pháp này được dùng để thu thập
những thông tin trực tiếp nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp tác
động đến đối tượng nghiên cứu. Phương pháp này chủ yếu được thực hiện
thông qua hoạt động dự giờ các tiết dạy của GV để tìm hiểu thực trạng của
việc sử dụng TK trong dạy học phần CDVĐĐ thuộc chương trình môn
GDCD lớp 10 và dự giờ các tiết dạy thực nghiệm sư phạm để đánh giá về
mặt định tính các kết quả thực nghiệm.
- Phương pháp chuyên gia: phương pháp này được sử dụng để thu
thập những ý kiến chuyên sâu từ các chuyên gia về một số nội dung có liên
quan đến đề tài. Việc thu thập thông tin trong phương pháp nghiên cứu này
chủ yếu thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu phỏng vấn
được chuẩn bị sẵn.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: phương pháp này được dùng
nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm trong
việc nâng cao hiệu quả sử dụng TK trong dạy môn GDCD phần CDVĐĐ ở
trường THPT.
* Nhóm phương pháp xử lí số liệu

VỀ SỬ DỤNG TRUYỆN KỂTRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN PHẦN CÔNG DÂNVỚI ĐẠO ĐỨC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Nghiên cứu về sử dụng truyện kể trong dạy học và dạy học đạo đức
1.1.1. Nghiên cứu về sử dụng truyện kể trong dạy học
Xuất phát từ nhận định về tầm quan trọng của TK với tư cách là một
trong những phương tiện dạy học, nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực
giáo dục đã có những công trình nghiên cứu ban đầu về vấn đề sử dụng TK
trong dạy học. Hai khía cạnh được bàn luận nhiều nhất trong nội dung này
là vấn đề vai trò của TK và biện pháp sử dụng phương tiện này trong dạy
học nói chung.
Thông qua các tác phẩm như “Cổ học tinh hoa” của Nguyễn Văn
Ngọc và Trần Lê Nhân; Giáo dục con người chân chính như thế nào?” của
V.A.Xukhomlinxki; “Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ” củaM.K.
Bogoliupxkaia - V.V.Septsenko; “Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học” của
Chu Huy; “Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non” của
Lã Thị Bắc Lí; “Kể chuyện” của Xioncopxki; “Phương pháp dạy học tác
phẩm văn chương (theo thể loại)” của Nguyễn Viết Chữ,...các tác giả đều
tập trung luận giải về những giá trị to lớn và chức năng quan trọng của văn


6

học nói chung, TK nói riêng đối với việc dạy học, đặc biệt là với đối tượng
trẻ em và đưa ra một số thủ thuật, biện pháp, yêu cầu, quy trình có tính
chất nguyên tắc nhằm đảm bảo cho quá trình sử dụng hiệu quả TK trong
dạy học trên lớp. Những thủ thuật bao gồm thủ thuật sử dụng ngữ điệu, thủ
thuật sử dụng bảng và thủ thuật sử dụng đồdùng dạy học.
1.1.2. Nghiên cứu về sử dụng truyện kể trong dạy học đạo đức
Thông qua các tác phẩm như “Sư phạm khoa giản yếu” của Phạm


HS. Thực tế cho thấy, HS tỏ ra thích thú, say mê với những TK được trích
đăng trong SGK.
1.2. Nghiên cứu về sử dụng truyện kể trong dạy học môn Giáo dục
công dân phần Công dân với đạo đức ở trường Trung học phổ thông
Thông qua các tác phẩm như Phương phap giang day giao dục công
dân (dung cho phổ thông trung học)” của tác giả Vương Tất Đạt; “Phương
pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” của
các tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga (Đồng chủ biên), (năm
2009); “Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học
phổ thông” của các tác giả Vũ Đình Bảy (chủ biên), Đặng Xuân Điều,
Nguyễn Thành Minh(năm 2010) và giáo trình “Lí luận dạy học môn Giáo
dục công dân ở trường phổ thông”Vũ Đình Bảy (chủ biên), Đặng Xuân
Điều, Nguyễn Thành Minh, Vũ Văn Thục ; sử dụng chuyện kể trong thiết kế
các bài “Công dân với đạo đức” (SGK lớp 10) hiện nay ở trường THPT của
Nguyễn Thị Mỹ và “Các dạng kể chuyện cơ bản trong dạy học các bài đạo
đức (môn Giáo dục công dân) ở trường THPT” của Hoàng Văn Ngọc;
“Giáo dục công dân 10”; “Thiết kế bài dạy học môn Giáo dục công dân 10”
của tác giả Hồ Thanh Diện; “Hướng dẫn dạy học môn Giáo dục công dân
10” của tác giả Đinh Văn Đức; “Thiết kế bài dạy học môn Giáo dục công
dân 10 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng” củaVũ Đình Bảy; “Phương pháp và
tư liệu giảng dạy Giáo dục công dân” của Lê Đức Quảng; Những câu
chuyện bổ ích và lí thú (tập 1 và 2) của Lưu Thu Thủy - Trần Thị Xuân
Hương - Trần Hòa Bình - Trần Mạnh Hưởng; Tuyển tập các câu chuyện giáo
dục nhân cách của Bùi Văn Trực, các tác giả đều khẳng định vai trò, tầm
quan trọng đặc biệt của hệthống TK với tư cách là dạng phương tiện phổ
biến, đặc thù trong dạy học phần CDVDĐ thuộc chương trình môn GDCD ở
trường THPT. Tác dụng mà PTDH này mang lại là tạo lập và duy trì sự hứng
thú học tập của HS; góp phần phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS trong
các bài dạy đạo đức nhờ có sự tham gia tích cực, hứng khởi của người học

TK trong quá trình dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT
hiện nay nhằm nâng cao chất lương dạy học phần này.
- Quan niệm về sử dụng TK trong dạy học môn GDCD phần
CDVĐĐ. Trên cơ sở quan niệm và phân loại về TK dùng trong dạy học nói
chung, luận án chỉ ra những đặc điểm riêng biệt của việc sử dụng TK trong
dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT hiện nay để để phù
hợp với mục tiêu, nội dung và đặc thù tri thức của bài dạy.
- Chỉ ra vai trò của việc sử dụng TK trong dạy học môn GDCD
phần CDVĐĐ. Vấn đề này được nghiên cứu trên cơ sở phân tích sự phù
hợp và tương thích giữa đặc trưng của TK với đặc thù tri thức của môn
GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT hiện nay. Từ đó khẳng định đối
với môn GDCD phần CDVĐĐ, TK là một trong những PTDH mang lại
hiệu quả cao.


9

- Đề xuất những nguyên tắc và biện pháp cho việc sử dụng TK trong
dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ. Trên cơ sở lí luận và thực tiễn cra vấn
đề nghiên cứu, luận án tập trung xây dựng các nguyên tắc và biện pháp sư
phạm của việc sử dụng TK,vận dụng chúng ở nhiều góc độ, hinh thức,
phương cách khác nhau nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn
GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT hiện nay.
1.3.2. Các vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
- Quan niệm về sử dụng TK trong dạy học môn GDCD phần
CDVĐĐ.
- Chỉ ra vai trò của việc sử dụng TK trong dạy học môn GDCD phần
CDVĐĐ.
- Đề xuất những nguyên tắc và biện pháp cho việc sử dụng TK trong
dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ.

dạy học, chúng tôi quan niệm rằng: truyện kể dùng trong dạy học là những
truyện kể được người giáo viên sử dụng như một phương tiện trong quá
trình tổ chức các hoạt động dạy học nhằm đạt được mục tiêu nhất định mà
môn học đã đặt ra.
2.1.1.3. Phân loại truyện kể trong dạy học
Trước khi nghiên cứu nguyên tắc và biện pháp sử dụng TK, việc tiến
hành phân loại hệ thống TK là rất quan trọng. Ở vấn đề này, những thành
tựu nghiên cứu chủ yếu được thể hiện qua các công trình của các nhà văn
và bộ môn phương pháp giảng dạy văn học trong nhà trường. Tất nhiên,
những kết quả nghiên cứu này cần được sàng lọc, chỉnh đổi để phù hợp
với mục tiêu của QTDH của từng phần cụ thể. Trên cơ sở những đặc
trưng vể thể loại, những loại TK có thể dùng trong dạy học bao gồm các
thể loại như sau:
- Thần thoại
- Truyền thuyết
- Cổ tích
- Ngụ ngôn
- Truyện cười dân gian
- Truyện lịch sử
- Truyện danh nhân
- Truyện “người thực việc thực”
- Truyện sáng tác
2.1.1.4. Các hướng sử dụng truyện kể trong dạy học
- Một là, sử dụng TK để tạo ra tình huống có vấn đề.
- Hai là, sử dụng TK để minh họa nội dung tri thức của bài học.


11

- Ba là, sử dụng TK để xây dựng bài tập nhận thức và kiểm tra,

10) của một số trường THPT trên địa bàn các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi,
Bình Định, Đắk Lắk và Ninh Thuận. Thời gian tiến hành khảo sát: năm học


12

2014 - 2015 và năm học 2015 - 2016. Ngoài ra, tác giả còn tranh thủ dự giờ
của các GV ở Thừa Thiên Huế khi tổ chức dạy học phần CDVĐĐ ở môn
GDCD tại trường THPT. Đồng thời, tiến hành phỏng vấn và trao đổi với các
GV trực tiếp giảng dạy phần này và các HS về một số nội dung liên quan
đến dạy và học có sử dụng TK. Ngoài ra, kết quả của quá trình quan sát,
nghiên cứu các giáo án giảng dạy của GV cũng góp phần làm cho những
đánh giá về thực trạng trở nên đầy đủ và sâu sắc hơn.
* Phương pháp và công cụ khảo sát
- Điều tra bằng phiếu hỏi: sử dụng phiếu hỏi đối với GV dạy môn
GDCD và HS lớp 10 nhằm đánh giá thực trạng về nhận thức, nhu cầu cũng
như kĩ năng liên quan đến quá trình sử dụng TK để dạy học nội dung đạo đức.
- Điều tra qua quan sát: Tiến hành quan sát, dự giờ một số tiết dạy
của GV ở trường phổ thông có sử dụng TK trong quá trình lên lớp để thu
thập thêm thông tin có liên quan đến các yêu cầu, giả thuyết đã được đặt ra
và được đưa vào vào phiếu ghi chép kết quả quan sát.
- Điều tra qua phỏng vấn, trò chuyện: tiến hành phỏng vấn trực tiếp
một số GV và HS nhằm thu thập thêm một số thông tin, nhất là những
thông tin liên quan đến tâm tư, kinh nghiệm, quan điểm cá nhân có liên
quan đến việc sử dụng TK để dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường
THPT. Những thông tin này được ghi lại qua phiếu phỏng vấn.
Các kết quả điều tra được thống kê chi tiết để tiến hành phân tích,
tổng hợp và khái quát, lấy đó làm căn cứ cho việc rút ra các kết luận, nhận
định về thực trạng. Trong số nội dung điều tra cơ bản, việc phân tích kết

* Nguyên nhân của hạn chế
Theo chúng tôi, nguyên nhân trực tiếp của thực trạng kể trên xuất
phát từ sự thiếu hụt những công trình lí luận và thực tiễn của QTDH môn
GDCD nói chung, trong đó có phần CDVĐĐ.
2.2.2.2. Những vấn đề đặt ra
- Cần củng cố vững chắc cơ sở khoa học của việc sử dụng TK để dạy
học môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT. Cần chỉ rõ mối quan hệ
biện chứng giữa TK với tư cách là một PTDH với đặc thù tri thức của cái
bài dạy đạo đức trong môn GDCD.
- Nâng cao nhận thức về TK vai trò đặc biệt của TK trong QTDH
phần CDVĐĐ ở môn GDCD tại trường THPT, những nhân tố tác động và
nguyên tắc chung đảm bảo cho quá trình sử dụng đạt được hiệu quả cao.
- Xác định hệ thống nguyên tắc và biện pháp sư phạm dành cho GV
trong việc khai thác và sử dụng TK để dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ
ở trường THPT.


14

Chương 3
NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ
TRUYỆN KỂ TRONG DẠY HỌC HỌC MÔN GIÁO DỤC
CÔNG DÂN PHẦN CÔNG DÂNVỚI ĐẠO ĐỨC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
3.1. Nguyên tắc sử dụng truyện kể trong dạy học môn Giáo dục công
dân phần Công dân với đạo đức ở trường Trung học phổ thông
Nguyên tắc sử dụng TK để dạy học môn GDCD phần CDVĐĐ ở
trường THPTđược hiểu là những là những luận điểm cơ bản có tác dụng
chỉ đạo, dẫn hướng choquá trình sử dụng TK với tư cách là một PTDH để
dạy học phần CDVĐĐcó trong chương trình đạt hiệu quả cao, đáp ứng tốt

thác truyện kể
Nguyên tắc này yêu cầu, trong một “rừng” TK kết sức đa dạng,
phong phú, người GV phải biết chọn lựa những TK mang lại được khoái
cảm thẩm mỹ cho HS. Khoái cảm ấy đến lượt mình sẽ trở thành chất dẫn
truyền đầy sinh khí giúp HS đi đến tri thức cần chiếm lĩnh trở nên nhẹ
nhàng, thi vị. Mỗi một TK nếu không đem lại sự ngưỡng mộ, rung động
trước cái đẹp của cuộc sống thì phải đem lại niềm kính phục, nghiêng
mình trước cái cao cả; nếu không không đem lại cảm xúc xót thương, trắc
ẩn và đồng cảm trước cái bi thì cũng phải mang lại sự tươi vui, thú vị, hóm
hỉnh bởi cái hài trong TK. Quá trình biểu đạt TK cũng không nên chỉ dừng
lại ở hình thức kể chuyện bằng văn xuôi mà thường xuyên được thay thế
bằng hình thức văn vần, hình thức kể chuyện bằng tranh hoặc phim ảnh,...
3.1.4. Phát huy tính tích cực của học sinh
Nguyên tắc trên yêu cầu người GV khi sử dụng TK cần phải chú ý
đến đối tượng người học, tạo điều kiện cho HS tham gia một cách chủ
động đến mức cao nhất trong quá trình tiếp cận và xử lí những thông điệp
từ bản thân TK đó. Trong quá trình này, HS phải là chủ thể hoạt động tích
cực, GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích
cực giữa người dạy với người học, giữa người học với người học. Ở mỗi
TK được sử dụng, HS luôn được trực tiếp quan sát, thảo luận, giải quyết
vấn đề, thực hành vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống theo khả năng
nhận thức, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân.
3.2. Biện pháp sử dụng hiệu quả truyện kể trong dạy học môn Giáo dục
công dân phần Công dân với đạo đức ở trường Trung học phổ thông
3.2.1. Xây dựng ngân hàng truyện kể đáp ứng mục tiêu và nội dung bài học
3.2.1.1. Ý nghĩa của việc xây dựng ngân hàng truyện kể
Xuất phát mối liên hệ mật thiết giữa TK với QTDH phần CDVĐĐ ở
môn GDCD tại trường THPT, từ tiềm năng và nhu cầu sử dụng TK dành
riêng trong QTDH phân môn này cũng sự phong phú và đa dạng của
nguồn truyện có thể huy động ở khắp mọi nơi, có thể và rất cần thiết phải

- Với phương pháp thuyết trình
- Với phương pháp đàm thoại
- Với phương pháp trực quan
- Với phương pháp nêu vấn đề
- Với phương pháp tình huống
- Với phương pháp đóng vai
3.2.3. Đa dạng hóa hình thức biểu đạt truyện kể
Biện pháp này được đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận TK ở


17

HS. Việc cảm thấu được những tình tiết quan trọng nhất bao giờ cũng là
công đoạn đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng. Mọi công đoạn tiếp theo
nhằm khai thác nội dung ý nghĩa của TK phải được bắt nguồn từ quá trình
tiếp nhận này. Nếu cốt truyện trong TK là nội dung thì sự biểu đạt ra bên
ngoài của TK chính là hình thức. Trong thực tế, một TK có thể được biểu
đạt bằng nhiều hình thức khác nhau. GV cần tiến hành xem xét các hình
thức biểu đạt có thể có của TK đó để tiến hành chọn lựa. Trong thực tế
hiện nay, TK thường có bốn hình thức biểu đạt cơ bản sau:
* Hình thức biểu đạt bằng văn xuôi
Đây được xem là hình thức biểu đạt phổ biến nhất. Nguyên nhân là
do bản thân TK gắn liền với ngôn ngữ và lời nói. Hiệu quả của hình thức
biểu đạt này phụ thuộc hoàn toàn vào tài năng, nghệ thuật kể chuyện của
người GV cũng như khả năng khai thác các ưu điểm của ngôn ngữ kể
chuyện.Để nâng cao hiệu quả của hình thức biểu đạt này, GV cần thực hiện
một số thủ thuật sau:
- Cần lôi cuốn sự chú ý của cả lớp ngay từ đầu câu chuyện.
- Không quá gò bó về lời văn và chi tiết.
- Người kể phải tạo cho mình một quy tắc cần thiết khi chậm rãi, lúc

thế mà hình thức này rất thường được HS yêu thích và rất đắc lực trong
việc giúp GV nâng cao hứng thú học tập ở HS.
3.2.4. Tổ chức thực hiện quy trình sử dụng truyện kể
3.2.4.1. Lựa chọn truyện kể từ ngân hàng
Ở đây, người GV xuất phát từ mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và tư
tưởng, thái độ để tiến hành lựa chọn TK phù hợp từ kho tài nguyên TK mà
người GV đang sở hữu. Trong công đoạn này, mỗi TK được sử dụng cần
phải tương thích với mục tiêu của bài dạy cũng như của từng đơn vị kiến
thức. TK được sử dụng có thể là toàn bộ câu chuyện hoặc một hoặc một
vài chi tiết nhất định nào đó. Ngoài ra, khi thực hiện biện pháp này, bản
thân TK được người GV lựa chọn còn phải đáp ứng những yêu cầu về tính
giáo dục, tính thẩm mỹ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, trình độ tiếp
nhận của HS.
3.2.4.2. Thâm nhập truyện kể
Đọc và thâm nhận truyện là bước đầu làm quen với TK. Nhưng dù
sao vẫn là truyện ở bên ngoài, GV cần biến truyện đó thành truyện của bản
thân bằng cách tập kể chuyện. Quá trình tập kể là quá trình chuyển từ ngôn
ngữ văn bản in ấn sang ngôn ngữ của bản thân GV.
Ngoài ra, GV cần chuẩn bị về mặt tâm thế. Khi lên lớp, GV bao giờ
cũng có một tư thế chững chạc, gần gũi, không chải chuốt quá, giản dị
nhưng không xuề xòa, vẻ mặt vui tươi, trạng thái tinh thần sảng khoái. Đó
là những điều kiện tối thiểu đảm bảo cho quá trình dạy học môn GDCD
phần CDVĐĐ ở trường THPT được thành công.


19

3.2.4.3. Khai thác nội dung và ý nghĩa của truyện kể
* Đối với trường hợp dùng TK để đặt ra tình huống có vấn đề
- Tổ chức hoạt động tiếp nhận TK cho HS;

2015-2016 tại 4 trường:


20
- Trường THPT Chu Văn An (Triệu Phong, Quảng Trị)
- Trường THPT Thuận Hóa (Thành phố Huế)
- THPT Nguyễn Trãi (Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng)
- Trường THPT số 2 Phù Cát (Huyện Phù Cát, Tỉnh Bình Định)
Thời gian TN tiến hành vào học kỳ 2 của mỗi năm học. Mỗi năm học lựa
chọn mỗi trường 2 lớp (1 lớp TN và 1 lớp ĐC). Ở năm thứ nhất, lựa chọn 8 lớp
thuộc 4 trường (4 lớp TN với tổng số 154 HS và 4 lớp ĐC với tổng số 151 HS);
năm thứ hai cũng lựa chọn 8 lớp thuộc 4 trường kể trên (4 lớp TN với tổng số
141 HS và 5 lớp ĐC với tổng số 139 HS). Tổng số lớp TN và ĐC của hai năm
TN là 16 lớp (8 lớp TN và 8 lớp ĐC), tổng số HS tham gia ở các lớp TN là 295
HS, lớp ĐC là 290 HS.
4.1.3. Giáo viên thực nghiệm sư phạm
GV dạy TN được đào tạo chuyên ngành Giáo dục chính trị ở các trường
Đại học Sư phạm, có thâm niên giảng dạy từ 5 năm trở lên, có phẩm chất đạo
đức tốt, có trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc, có khả năng nắm bắt được
nhanh chóng cái mới, ủng hộ và tích cực tham gia quá trình đổi mới PPDH ở
trường THPT.
4.1.4. Nội dung thực nghiệm
Do hạn chế về điều kiện và thời gian của luận án cũng như kế hoạch hoạt
động dạy và học thực tế của nhà trường THPT, chúng tôi chỉ lựa chọn một số nội
dung đạo đức nằm trong một số bài học cụ thể trong môn GDCD phần CDVĐĐ ở
trường THPT để dạy TN. Thời gian tiến hành lên lớp các bài học ở các lớp TH và
ĐC đề theo kế hoạch, thời khóa biểu của nhà trường các biện pháp sử dụng TK
được sử dụng để triển khai dạy TN các nội dung bài học và các đơn vị kiến thức
cụ thể như bảng 4.1 sau:
Bảng 4.1: Nội dung dạy học thực nghiệm

4.2. Phương pháp thực nghiệm và công tác chuẩn bị
4.2.1. Phương pháp thực nghiệm
GV dạy TN và ĐC ở mỗi trường là cùng một người. Giáo án dạy học
dành cho lớp TN là do tác giả đề tài đề xuất và phối hợp với các GV TN xây
dựng trên cơ sở áp dụng các biện pháp sử dụng TK vào trong bài dạy mà đề tài
đã đề xuất; còn các giáo án dạy cho lớp ĐC được thiết kế theo cách dạy thông
thường mà họ vẫn làm.
- Trước khi dạy thực nghiệm, tác giả tiến hành: kiểm tra đầu vào của lớp
TN và ĐC bằng bài kiểm tra 45 phút.
- Sau khi kết thúc dạy TN, chúng tôi đã tập hợp kết quả kiểm tra của khối
lớp TN và khối lớp ĐC, mời GV dạy TN và GV cộng tác thảo luận, đánh giá
tính khả thi của các biện pháp sư phạm đã thực hiện trên cả hai mặt: định lượng
và định tính.
4.2.2. Quá trình chuẩn bị thực nghiệm sư phạm
- Chọn trường thực nghiệm
- Chọn đối tượng thực nghiệm và đối chứng
- Chuẩn bị các điều kiện để thực nghiệm
- Xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí và thang đánh giá trong thực nghiệm
- Tập huấn cho giáo viên tham gia dạy thực nghiệm và tham gia cộng tác
trong quá trình thực nghiệm
4.3. Kết quả thực nghiệm và biện luận
4.3.1. Kết quả thực nghiệm theo tiêu chuẩn 1
- Kết quả ở trên cho thấy việc áp dụng các biện pháp sử dụng TK để dạy
học môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPTđã mang lại hiệu quả rõ rệt đối
với nhóm lớp TN.
4.3.2. Kết quả thực nghiệm theo tiêu chuẩn 2
Tất cả các biểu hiện của tính tích cực, chủ động và hứng thú học tập
của HS ở lớp TN luôn cao hơn rất nhiều so với lớp ĐC. Kết quả trên càng



TK trong thiết kế bài dạy học và giảng dạy trên lớp.
3. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, căn cứ vào các
nguyên tắc sử dụng TK tác giả đã đề xuất, xây dựng các nhóm biện pháp sư
phạm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện này để dạy học
môn GDCD phần CDVĐĐ ở trường THPT.


23
4. Tác giả đã tiến hành TNSP tại 4 trường THPT trên địa bàn các tỉnh
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Bình Định trong hai
năm học 2014 - 2015 và 2015 - 2016. Kết quả TNSP đã chứng minh tính đúng
đắn của giả thuyết khoa học mà đề tài đã đặt ra, bước đầu khẳng định các biện
pháp sử dụng TK mang lại những hiệu quả rất rõ ràng và tích cực đối với quá
trinh dạy học phầnCDVĐĐ ở môn GDCD tại trường THPT. Điều đó mở ra
hướng áp dụng rộng rãi các biện pháp sư phạm đã được đề xuất trong luận án.
5. Những kết quả thu được về lý luận và thực tiễn và kết quả thực nghiệm
đã chứng tỏ đề tài đã thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu; đồng thời
kiểm nghiệm được giả thuyết khoa học mà đề tài đã đặt ra.
II. KIẾN NGHỊ
1. Bộ GD và ĐT cần tổ chức xây dựng ngân hàng TK dung trong dạy học
môn GDCD phần CDVĐĐ cho GV THPT quy mô toàn quốc và thực hiện trao
đổi TK thông qua mạng Internet. Kèm theo đó là chính sách đãi ngộ đối với
GV, tổ bộ môn thường xuyên tự xây dựng TK dạy học, như: khen thưởng, tính
thêm giờ; chỉ đạo các Sở giáo dục và Đào tạo tổ chức xây dựng ngân hàng TK
tại địa phương; chỉ đạo giảm bớt tính lý luận, tăng cường thực hành, vận dụng,
tạo điều kiện để HS có nhiều cơ hội học tập bằng TK nhằm nâng cao các kỹ
năng cần thiết ở HS.
2. Hàng năm, các Sở Giáo dục và Đào tạo nên khảo sát nhu cầu bồi
dưỡng, nâng cao trình độ của GV GDCD và căn cứ vào nhu cầu này để tổ
chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status