LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC: SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY HỌC LUYỆN CÂU VÀ CHÍNH TẢ - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ NGÂN

SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY
HỌC "LUYỆN CÂU" VÀ "CHÍNH TẢ"

Chuyên ngành

: Giáo dục học (Giáo dục tiểu học)

Mã số

: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Phương Nga


HÀ NỘI - 2014

2

2


LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến GS.TS Lê
Phương Nga - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và khích lệ tác giả



BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

5

KT-XH

Kinh tế - xã hội

NXB

Nhà xuất bản

ĐHSP

Đại học sư phạm

KHXH

Khoa học xã hội

GV

Giáo viên

HS

Học sinh


có nghĩa là nhồi nhét kiến thức kinh điển hay thuần tuý mà trước hết phải
tạo cho trẻ sự tò mò để kích thích trí tưởng tượng nhằm tạo điều kiện để em
nảy nở cảm xúc, tự do phát triển tâm hồn, tư duy. Vậy nên việc sử dụng
truyện cười vào làm ngữ liệu dạy học trong các phân môn của môn Tiếng
Việt ngoài việc phù hợp với tâm lí lứa tuổi, sự nhận thức của học sinh Tiểu
học thì nó còn đem đến cho học sinh tiếng cười nhẹ nhàng, thú vị, sinh
động. Đồng thời phát triển cho các em về nhiều mặt như trí tuệ, ngôn ngữ,
óc hài hước, lòng nhân hậu,… kích thích các em sự hiếu kỳ, tìm tòi đọc các
loại sách nhiều hơn để cảm nhận cái hay, cái thú vị của cuộc sống thông

6

6


qua những câu chuyện vui, truyện cười. Song song với điều đó là phát triển
về nhân cách, đạo đức, hình thành lối sống phù hợp cho học sinh.
1.2. Hiện nay, qua thực tiễn dạy học chúng tôi thấy trong chương
trình sách giáo khoa có số lượng truyện cười được dùng làm ngữ liệu dạy
môn Tiếng Việt còn rất ít, có phần hạn chế, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho
các em trong việc học. Hơn nữa các ngữ liệu truyện cười được đưa vào
chương trình sách giáo khoa cũng chưa khai thác hết tác dụng việc dạy học
các phân môn của môn Tiếng Việt. Trong sách giáo khoa Tiếng Việt, trước
hết truyện cười được dạy như một đối tượng cần tiếp nhận trong các bài
học làm giàu vốn từ và một số bài tập đọc. Vì thế việc tìm hiểu sử dụng
truyện cười và điều chỉnh, bổ sung hệ thống truyện cười để làm ngữ liệu
cho việc dạy học Tiếng Việt ở tiểu học là vấn đề cấp thiết và có tính thực
tiễn cao cần được nghiên cứu cụ thể và áp dụng vào thực tế.
Đã có không ít công trình nghiên cứu về truyện cười, song phần lớn
các công trình này còn dừng lại ở việc sưu tầm, để đọc giải trí, mua vui.

lớp trên, đề cao cách đối đáp, ứng xử của tầng lớp dưới trong xã hội với
việc đối đáp không ngoan trước các tình huống mang tính phê bình lối sống
hoang lạc, không tiết kiệm, không tôn trọng các tầng lớp dưới... Bên cạnh
đó tiếng cười còn phản ánh sự thông minh, tư duy sâu sắc của người Việt
nói chung và những con người có trí tuệ, khả năng giao tiếp, ứng biến
nhanh nhạy nói riêng ở những vùng, miền khác nhau trong cả nước. Ở đó
đã có sự kết tinh của một quá trình chọn lọc, khái quát và nó xứng đáng
được xem là một tác phẩm hoàn chỉnh, một chỉnh thể thống nhất và toàn
vẹn. Ẩn sâu sau phía sau là ý nghĩa vừa có mặt thực, vừa có mặt ảo; vừa
phê phán vừa thể hiện tính hài ước, thể hiện rõ nét hai mặt phản diện trong
đời sống hằng ngày.
Bên cạnh các thể loại khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, câu
đố, truyện ngụ ngôn, . . . được sử dụng trong dạy học Tiếng Việt Tiểu học,
thì thể loại truyện cười, truyện gây cười, truyện vui được các nhà nghiên
cứu ít chú ý hơn. Những công trình nghiên cứu chủ yếu thường mang tính
sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn, phân loại tùy theo mục đích của người
8

8


biên soạn,... Từ những công trình đã được nghiên cứu về truyện cười, có
thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
1/ Công trình nghiên cứu đồng tác giả, Đinh Gia Khánh - Chu Xuân
Diên - Võ Quang Nhơn(2006), Văn học dân gian Việt Nam(tái bản), Nxb
Giáo dục Hoàng Tiến Tựu (1997) đã liệt kê một số truyện cười dân gian
khá thú vị và đưa vào trong tác phẩm để người đọc tiếp cận.
2/ Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân
gian Hoàng Tiến Tựu (1997), tác giả không những liệt kê trình bày một
truyện cười dân gian của nước ta từ xưa đến nay, mà đã đưa ra một số

trong văn hóa người Việt ở các vùng, miền trong nước. Đã phân loại truyện
cười căn cứ theo từng giai đoạn lịch sử của sự phát triển xã hội ở nước ta.
Qua đó góp phần làm phong phú thêm truyện cười của người xưa trong xã
hội hiện nay, lưu giữ để không làm phai nhạt đi những nét hay trong văn
hóa dân gian của người Việt.
7/ Truyện cười xưa và nay, Nguyễn Đức Hiền (1995), Nxb Trẻ Hà
Nội, công trình nghiên cứu đã hệ thống một cách khoa học truyện cười xưa
và nay trong văn hóa người Việt. Bên cạnh đó đưa ra nhận định nguyên
nhân gây cười trong truyện cười xưa và nay. Hệ thống truyện cười xưa
thường phản ánh những bất công của xã hội phong kiến, những thói hư, tật
xấu của những vị quan ở các vùng, miền trong cả nước, và nêu bật lên
những hành xữ linh hoạt, khéo léo của quần chúng nhân dân vừa có ý nghĩa
gây cười nhưng vừa đã kích các thói hư, tật xấu đó. Trong truyện cười của
xã hội ngày nay là những phản ánh những bất cập của xã hội, những mặt
đối lập trong văn hóa hội nhập, những phản ánh của quần chúng nhân dân. .
. Do đó, góp phần giúp các nhà nghiên cứu văn hóa thuận tiện trong việc hệ
thống hóa tri thức một cách khoa học hơn truyện cười của người xưa và
nay.
8/ 40 truyện Trạng Quỳnh, Chí Vĩnh, Nxb Thanh Hóa Lữ - Huy
Nguyên (2002). Tác giả đã nêu lên được 40 tuyện của Trạng Quỳnh trong
văn hóa dân gian Việt Nam, đã làm nổi bật lên được trí thông minh, mưu
mẹo xử trí một cách linh hoạt, tài đối đáp của Trạng Quỳnh trong các tình
10

10


huống. Nó làm nổi bật lên được nụ cười hóm hỉnh, mỉa mai xã hội xưa, các
vị quan xưa thông qua tiếng cười đả kích.
9/Truyện cười dân gian Việt Nam - Truyện tiếu lâm và các Trạng,

Trong công trình nghiên cứu ấy, tác giả đã chú trọng nghiên cứu và làm
sáng tỏ giá trị, vai trò của văn học dân gian trong việc dạy học Tiếng Việt ở
THCS và THPT.
Ngoài những công trình nghiên cứu trên, còn có rất nhiều bài phân
tích, nghiên cứu của các tác giả khác mà chúng tôi chưa có điều kiện để
thống kê hết. Từ những công trình nghiên cứu trên đây, đã được chúng tôi
tìm hiểu, tham khảo, nghiên cứu một cách có chủ đích và khoa học, nhằm
giúp cho chính tác giả có thêm kiến thức cơ bản, cơ sở lý luận và thực tiễn
để nghiên cứu đề tài của mình.
Từ những công trình nghiên cứu trên thì có ba công trình nghiên cứu
đã tập trung chuyên sâu và có liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi
là công trình của tác giả Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Đức Hiền, Chí Vĩnh.
Bên cạnh việc tập hợp một số lượng khá lớn truyện cười xưa và nay trong
văn hóa người việt thì các tác giả trên còn giới thiệu nguồn gốc xuất xứ;
mục đích, chức năng, ý nghĩa của truyện cười, nêu bật lên giá trị của những
nụ cười trong các cốt truyện.
Truyện cười được đưa vào chương trình hạy học Tiếng Việt ở Tiểu
học đã có từ lâu trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học,
dù không xác định được mốc thời gian nhưng có thể khẳng định qua các
lần biên soạn và cải cách sách giáo khoa thì ngữ liệu truyện cười ngày càng
được nghiên cứu, áp dụng và bổ sung vào trong thực tiển giảng dạy. Đáp
ứng ngày càng nhiều nhu cầu dạy và học, truyền tải và tiếp thu của môn
học, qua đó có thể nhận định lịch sử xây dựng ngân hàng truyện cười để
dạy học và lịch sử để nghiên cứu về truyện cười luôn có mối quan hệ tác
động qua lại và bổ sung cho nhau để hoàn thiện hơn ngữ liệu truyện cười
trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học.
Từ thực tế nền giáo dục nước ta, sau bốn năm được đưa vào dạy thử
nghiệm, năm học 2002 - 2003, bộ sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học
12


13

13


khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 đang được Bộ Giáo dục trình Quốc
hội xem xét phê chuẩn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất, xây dựng ngân hàng
truyện cười làm ngữ liệu cho dạy “Luyện câu” và “ Chính tả” . Nhằm nâng
cao chất lượng trong môn Tiếng Việt nói chung và phần “Luyện câu” và “
Chính tả” ở Tiểu học nói riêng.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thực tế việc sử dụng truyện cười làm ngữ
liệu trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và phần “Luyện
câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học nói riêng.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu làm rõ được việc sử dụng truyện cười trong dạy học “Luyện câu” và “ Chính tả”, đồng thời đưa ra những giải pháp để bổ
sung, xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu đảm bảo tính giáo
dục, phù hợp với mục đích nghiên cứu sẽ nâng cao được hiệu quả dạy - học
phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học thời gian tới.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê và đánh giá về hệ thống truyện cười được sử dụng trong
SGK TV ở Tiểu học.
Nghiên cứu những lợi thế của truyện cười và đồng thời đề xuất
những nguyên tắc để xây dựng và lựa chọn truyện cười làm ngữ liệu phục
vụ cho dạy học “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học.
7. Các phương pháp sử dụng
Phương pháp đọc, tra cứu tài liệu: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu
liên quan đến truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Chương I: Căn cứ của việc sử dụng truyện cười trong dạy học
“Luyện câu” và “Chính tả”ở Tiểu học.
15

15


Chương II: Xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy học “Luyện câu”
và “Chính tả” ở Tiểu học.
Chương III: Sử dụng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu dạy học
“Luyện câu” và “Chính tả”ở Tiểu học
PHẦN KẾT LUẬN

16

16


CHƯƠNG I
CÁC CĂN CỨ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI
TRONG DẠY HỌC “LUYỆN CÂU” VÀ “CHÍNH TẢ”
1. Giới thuyết về truyện cười
1.1. Khái niệm truyện cười
Theo tác giả Đỗ Bình Trị thì“Truyện cười là truyện kể về hiện tượng
buồn cười, thể hiện ở hoạt động của người và vật (bao gồm cả hoạt động
nói năng) nhằm gây cười”, Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn
hóa dân gian, trang 6, Nxb Khoa học - 1999.
“Truyện cười nói một cách đơn giản là những truyện làm cho người
ta cười, có thể là cười mỉm, nhưng thường là cười giòn giã. Có thể là cười
một cách vui vẻ, nhẹ nhàng, nhưng thường cười mà phẫn nộ, khinh ghét”,

Trong quá trình tham gia giảng dạy, tác giả thấy thường thì truyện
cười được sử dụng làm ngữ liệu trong môn Tiếng việt ở Tiểu học rất ngắn
và không có phần mở đầu hay kết thúc cụ thể như truyện cổ tích hay các
thể loại truyện khác. Chính đó cũng là nét riêng của truyện cười để giúp các
em học sinh Tiểu học dễ dàng tiếp cận và cảm nhận tiếng cười thú vị đó.
Chính người đọc cũng có thế thấy, truyện cười thường ngắn và có khi cực
ngắn cho nên phần mở đầu và phần kết thúc của nó nhiều khi cũng khó
phân tích và cảm nhận một cách cụ thể nhất. Điểm quan trọng là do chính
nhu cầu học và nhận thức của các em, nên phần mở đầu và phần kết thúc
của truyện cười phải được sắp xếp sao cho phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ của giáo dục đối với học sinh Tiểu học, nên có phần không giống với
các thể loại truyện khác được.
Truyện cười được sử dụng trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học không
nhằm mục đích phản ánh và lý giải những xung đột, mâu thuẫn, những tình
tiết cao siêu khó hiểu, khó cảm nhận; cũng không nhằm phản ánh, lý giải
những sự kiện phức tạp của xã hội mà chủ yếu dùng tiếng cười để phản ánh
những mặt, những điều thú vị và bất ngờ tạo nên tiếng cười trong cuộc
sống.
18

18


Thời gian và bối cảnh của truyện cười thường ngắn, không gian
thường hẹp, sự việc diễn ra ít và diễn biến đơn giản, ít sinh động nhưng họa
cảnh thường thú vị, tình tiết hấp dẫn với cảm nhận của lứa tuổi các em.
Tình tiết xây dựng, dẫn nhập hay tạo ra những tình huống bất ngờ, nội dung
thường trào phúng, có phần tò mò, kết thúc đột ngột, sống động, đó là
những đặc điểm gây nên tiếng cười thoải mái, dí dỏm cho các em.
Trong sáng tác truyện cười, các tác giả phải thường xuyên sử dụng

cho các em học sinh Tiểu học, khi các em tiếp nhận truyện cười, bên cạnh
việc tiếp nhận ngôn từ còn có những suy nghĩ liên tưởng tích cực đến thực
tế cuộc sống trước các tình huống, hành động mà cốt truyện nêu lên.
1.3. Phân loại truyện cười
* Theo tiêu chí kết cấu thì truyện cười có 2 nhóm lớn:
a. Truyện cười kết chuỗi:
- Nhóm truyện cười về nhân vật trung tâm là đối tượng của tiếng
cười phê phán (ví dụ truyện Trạng Lợn): Bên cạnh tiếng cười vui vẻ, nhẹ
nhàng còn có tiếng cười phê phán, chê trách, oán trách. . . người ta cười
tính keo kiệt, bủn xỉn, cười những trò nhố nhăng trong cuộc sống, … Ví dụ
truyện đi học là tiên, Anh keo kiệt ngủ say, … Tiếng cười mang hàm ý châm
biếm, thái độ khinh bỉ, phê phán những tật xấu của con người.
- Nhóm truyện cười về nhân vật trung tâm là người được ca ngợi,
thán phục, đã dũng cảm, mưu trí đấu tranh chống cái xấu, cái ác (Ví dụ
truyện Trạng Quỳnh): Tiếng cười thường vui vẻ, nhẹ nhàng, đó là tiếng
cười đối với hình thức suy diễn thú vị, đơn thuần của cuộc sống hằng ngày.
Tiếng cười gần gũi với đời sống của người dân, nhất là tính đơn thuần, mộc
mạc của người nông dân Việt Nam.
b. Truyện cười không kết chuỗi:
* Truyện khôi hài (giải trí là chủ yếu): Đặc điểm cụ thể của truyện
cười khôi hài dân gian bao gồm: Nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ. . . những đặc
điểm này làm thi pháp đặc trưng của truyện khôi hài và đều phục vụ mục
đích gây cười. Truyện khôi hài (hài ước) là một thể loại của truyện cười, có
20

20


mục đích chủ yếu nhằm giải trí, mua vui là chính. Và theo Ang-ghen tác
dụng chính của loại truyện khôi hài là nhằm“Giải tỏa sự căng thẳng,mệt


vất vả và chịu nhiều áp lực tâm sinh lý, con người cảm tìm đến với nhau để
tâm sự, trò chuyện, kể cho nhau nghe những câu chuyện vui, đặc biệt là
những yếu tố tục trong truyện tiếu lâm giúp người ta cười sảng khoái, giòn
giã và tan biến mọi lo âu, mệt nhọc. Họ không chỉ sử dụng truyện cười để
phản ứng lại những điều bất bình trong xã hội, mà truyện cười còn được
xem như là một thú vui tích cực, một trò tiêu khiển rất thú vị.
2. Lợi thế truyện cười với tư cách là ngữ liệu dạy học “Luyện
câu” và “Chính tả” ở Tiểu học.
Theo các học giả, ngữ liệu là tư liệu ngôn ngữ để nghiên cứu ngôn
ngữ và dạy tiếng. Như vậy, trong dạy học tiếng (tiếng mẹ đẻ hay tiếng nước
ngoài), ngữ liệu (còn gọi là: ví dụ, dẫn chứng, minh họa, tư liệu. . .) có thể
được trích dẫn, khai thác, lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau tùy thuộc vào
mục đích, nội dung, đối tượng và điểu kiện cụ thể của quá trình day học.
Đó là những ngữ liệu được trích dẫn từ văn học dân gian, văn học viết, ngữ
liệu cho người dạy tự đặt ra hoặc huy động từ những nguồn gốc khác.
Ngữ liệu dùng ở tiểu học phải thực sự cụ thể, thú vị, trực quan sinh
động, nhiều hình ảnh và màu sắc. Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi như vậy
nên ngoài các truyện cười dân gian có sẵn thì các nhà viết sách còn phải
nghĩ ra những truyện cười thú vị phù hợp với lứa tuổi các em trong giai
đoạn xã hội hiện nay. Vì vậy, ngữ liệu của truyện cười dùng trong dạy học
nói chung và các phân môn Tiếng Việt nói riêng không chỉ dừng lại ở
những truyện cười dân gian mà còn có những truyện cười trong xã hội hiện
tại, chính là những nội dung cốt truyện gây cười do các nhà viết sách, nhà
nghiên cứu xây dựng nên hoặc sưu tầm từ các kênh khác.
Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt, việc lựa chọn các ngữ liệu
truyện cười để các em dễ dàng tiếp cận và học có vai trò hết sức quan trọng
cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cũng như lưu giữ, ghi nhớ
những kiến thức nền tảng của các em. Việc lựa chọn những truyện cười làm
22

nhiên: “Nếu cháu mà biết đọc thì cháu phải mua kính làm gì?” Bác bán
23

23


kính phì cười: “Chẳng có thứ kính nào đeo vào mà biết đọc được đâu!
Cháu muốn đọc sách thì phải học đi đã”.
(Tiếng Việt 2, tập 1)
Truyện Mua kính không chỉ có tác dụng giúp các em luyện đọc,
luyện phát âm mà còn gây cười, gây hứng thú đối với người đọc vì sự suy
luận không có căn cứ, thiếu thực tế và không đúng khi cho rằng những ai
đeo kính vào đều đọc được sách. Gây cười vì hành động của cậu bé đi mua
kính để có thể đọc, và tiếp theo là tiếng cười thú vị khi cậu bé đeo kính mà
vẫn không đọc được. Qua nội dung cốt truyện, ám chỉ hàm ý đến với các
em học sinh, để học giỏi thì tất yếu phải dựa vào sự nỗ lực, rèn luyện, sự cố
gắng của các em, chứ không có một phương tiện nào giúp các em học giỏi
hơn được. Ý nghĩa sâu xa trong cốt truyện đã thể hiện được hàm ý đến với
người học như vậy.
Hay truyện:

Đổi giày

Có cậu học trò nọ vội đến trường nên xỏ nhầm giày, một chiếc cao,
một chiếc thấp. Bước tập tễnh trên đường, cậu lẫm bẩm:
-

Quái lạ, sao hôm nay chân mình một bên dài, một bên ngắn? Hay là

tại đường khấp khiểng?

đều tạo nên tính thú vị, tinh thần vui vẻ, xóa đi những lo toan, những vất
vả, những căng thẳng của đời sống, đây là một thể loại văn học thực sự bổ
ích. . . thật khó để xã hội phát triển qua từng giai đoạn thời gian khi không
tồn tại tiếng cường, thiếu sự hài ước, thiếu niềm vui và sự hứng thú trong
lao động, sản xuất. Lúc đó con người tồn tại trong xã hội như những công
cụ sản xuất chỉ biết lao động và lao động, tồn tại chứ không phải sống đúng
với nhu cầu của con người.
Dạy học môn Tiếng Việt trong trường học nói chung và trường Tiểu
học nói riêng, truyện cười được xem như văn bản hoàn chỉnh, trọn vẹn và
thể hiện được những nội dung, mục đích cụ thể của bài hoc. Chúng không
chỉ giúp cho học sinh tri thức có tính lý thuyết, ngôn ngữ của Tiếng Việt mà
bước đầu còn rèn luyện được tính tư duy, nhạy bén, logic cho học sinh. Đây
là một ưu thế rất lớn của truyện cười khi nó được dùng như một ngữ liệu
trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học.
Đối với học sinh Tiểu học, ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ được giảng dạy
trong nhà trường không chỉ nhằm mục đích cung cấp các tri thức cần thiết
cho việc học tập của các em mà nó còn là phương tiện trong quá trình giao
tiếp và trong các hoạt động cụ thể của cuộc sống hằng ngày thông qua
những tình tiết hay, thú vị trong cốt truyên. Đây là hoạt động song hành
25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status