BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGÂN
SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY HỌC
"LUYỆN CÂU" VÀ "CHÍNH TẢ"
Chuyên ngành
: Giáo dục học (Giáo dục tiểu học)
Mã số
: 60.14.01.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Phương Nga
HÀ NỘI - 2014
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Môn Tiếng Việt có nhiều nội dung phong phú, trong đó truyện cười là
một nét ưu việt của chương trình - sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học. Trong văn
học nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng thì truyện cười có một vị trí quan trọng
với những biểu hiện đặc trưng cơ bản như cốt truyện đơn giản, ít tình tiết nhưng lại
rất chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu và đặc biệt là luôn có yếu tố, tình tiết bất ngờ hay những
môn Tiếng Việt nói chung và phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học nói riêng.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thực tế việc sử dụng truyện cười làm ngữ liệu trong
dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở
Tiểu học nói riêng.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu làm rõ được việc sử dụng truyện cười trong dạy - học “Luyện
câu” và “ Chính tả”, đồng thời đưa ra những giải pháp để bổ sung, xây dựng ngân
hàng truyện cười làm ngữ liệu đảm bảo tính giáo dục, phù hợp với mục đích nghiên
cứu sẽ nâng cao được hiệu quả dạy - học phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học
thời gian tới.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê và đánh giá về hệ thống truyện cười được sử dụng trong SGK TV ở
Tiểu học.
Nghiên cứu những lợi thế của truyện cười và đồng thời đề xuất những nguyên
tắc để xây dựng và lựa chọn truyện cười làm ngữ liệu phục vụ cho dạy – học “Luyện
câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học.
7. Các phương pháp sử dụng
Phương pháp đọc, tra cứu tài liệu: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan
đến truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Phương pháp thống kê:
Phương pháp khảo sát - điều tra: Khảo sát thực trạng về khả năng sử dụng
truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
8. Đóng góp của luận văn
Phân tích những lợi thế của truyện cười trong dạy hoc Tiếng Việt ở Tiểu học.
3
Đưa ra hệ thống ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu cho dạy “Luyện câu” và “
“Truyện cười nói một cách đơn giản là những truyện làm cho người ta cười,
có thể là cười mỉm, nhưng thường là cười giòn giã. Có thể là cười một cách vui vẻ,
nhẹ nhàng, nhưng thường cười mà phẫn nộ, khinh ghét”, Giáo trình Văn học dân
gian Việt Nam, trang 13, Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb Giáo dục – 2001.
“Truyện cười là loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc
sống, nhằm tạo ra những tiếng cười vui hoặc phê phán những thói hư, tật xấu trong
xã hội”. Sách giáo khoa Ngữ văn 6, trang 15, tập 1, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, Nxb
Giáo dục - 2002.
Tóm lại,theo tác giả có thể hiểu truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn
cười trong cuộc sống, nhằm tạo ra tiếng cười vui vẻ trong cuộc sống, cũng có thể là
tiếng cười phê phán của con người.
1.2. Một số đặc trưng cơ bản của truyện cười
a. Nghệ thuật dựng truyện cười
b. Xây dựng nhân vật trong truyện cười
c. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
1.3. Phân loại truyện cười
a. Truyện cười kết chuỗi:
b. Truyện cười không kết chuỗi:
2. Lợi thế truyện cười với tư cách là ngữ liệu dạy học “Luyện câu” và
“Chính tả” ở Tiểu học.
2.1. Truyện cười có nội dung ngắn gọn, sâu sắc
So với các thể loại văn bản khác thì truyện cười có ưu thế khá lớn về mặt nội
dung cũng như tạo hứng thú học tập cho học sinh. Nội dung của truyện thường ngắn
gọn đồng thời tạo tiếng cười tức thì, sự thích thú với HS.Với tư cách là ngữ liệu dạy
học ngoài việc phục vụ cho việc hình thành tri thức, rèn kĩ năng còn giúp các em
ứng phó linh hoạt, thông minh hơn trước các tình huống cuộc sống tương tự như
trong cốt truyện, giúp các em phản ứng nhanh, biết phân biệt được những mặt tốt,
những mặt xấu của đời thường thể hiện trong cốt truyện.
hầu hết các khối lớp. Chúng được sử dụng làm ngữ liệu dạy học cho nhiều phân môn
khác nhau như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn... Tuỳ theo mục
đích, yêu cầu của từng khối lớp, từng phân môn mà người ta lựa chọn ngữ liệu truyện
cười cho phù hợp, cụ thể:
Thể loại
Lớp
Lớp 1
Lớp 2
6
Truyện cười dân
gian
2
Truyện vui tuổi
học trò
2
4
Truyện vui nước
Ngoài
4
Tổng
2
10
Lớp 3
3
Luyện từ và câu
1
Lớp 3
2
4
Lớp 4
7
1
6
9
Lớp 5
Tập làm văn
5
Bảng phân bổ số liệu trên đây cho thấy rất rõ sự biến thiên về mặt số lượng của
truyện cười theo mỗi lớp, mỗi phân môn.
3.3. Sự phân bố truyện cười trong các phân môn của môn Tiếng Việt.
cười làm ngữ liệu cho việc dạy phần “Luyện câu” và “Chính tả” ở Tiểu học.
1. Nguyên tắc lựa chọn truyện cười trong dạy học “Luyện câu” và “Chính
tả”ở Tiểu học
1.1. Lựa chọn truyện cười phù hợp với mục tiêu dạy học “Luyện câu” và
“Chính tả”ở Tiểu học
Việc lựa chọn truyện cười đưa vào chương trình giảng dạy thì điều đầu tiên ta cần
chú ý là nó phải có nội dung sát với mục tiêu bài học, nó phải làm bật ra được những tri
thức ta cần dạt trong bài học đó. Từ thực tế giảng dạy cho thấy, việc sử dụng các ngữ liệu
nói chung và truyện gây cười nói riêng vào bài giảng sẽ góp phần sinh động hơn, khơi dậy
tính ham học và phục vụ tốt cho nội dung dạy và học, tạo những điều kiện thuận lợi hơn
trong quá trình dạy và học Tiếng Việt so với các môn khác trong chương trình học
8
1.2. Lựa chọn truyện cười đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện cho học
sinh Tiểu học
Từ thực tiễn tham gia giảng dạy cho thấy, việc dạy học Tiếng Việt không chỉ
dừng lại ở việc cung cấp tri thức và rèn luyện kĩ năng thực hành Tiếng Viết, bên cạnh
đó còn bao hàm cả việc giáo dục các nội dung khác. Điều này không chỉ xuất phát từ
yêu cầu của việc dạy học Tiếng Việt mà còn bắt nguồn từ tính chất, nội dung, khả năng
sử dụng của truyện cười trong quá trình dạy học. Chính vì vậy, những bài học Tiếng
Việt có sử dụng truyện cười không chỉ đơn thuần cung cấp những tri thức và kĩ năng
Tiếng Việt mà còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ và những lối sống
tốt đẹp cho các em. Đó là tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết, tương thân
tương ái, đời sống đơn thuần hằng ngày của con người . . . Khi người giáo viên khai
thác, sử dụng toàn diện những nội dung đó, chúng ta sẽ làm cho nội dung bài học trở nên
phong phú hơn, bớt đi sự khô khan đồng thời lồng ghép được nội dung giáo dục khác,
giúp các em hình dung ra những hoạt động trong cuộc sống hàng ngày.
1.3. Lựa chọn truyện cười phải phù hợp, tạo được hứng thú và đặc điểm
tâm lí học sinh Tiểu học
- Thưa cô mật nằm trong ...tổ ong ạ !
(Theo báo nhi đồng chăm học số 24 + 25 / 2009)
Qua câu chuyện trên ta thấy câu trả lời của bạn Tí đã hiểu sai ý câu hỏi của cô giáo
dẫn đến sự hài hước của câu chuyện. Đồng thời với ngữ liệu này thì học sinh dễ dàng
nhận diện được câu hỏi và hiểu rõ mục đích sử dụng của chúng.
*Câu khiến.
Ví dụ:
Đố
Đố cậu câu : “ Đầu trâu mặt ngựa” nghĩa của nó nói lên điều gì?
- Đơn giản thế mà cũng đố!
- Thì cậu cứ nói tớ nghe xem nào!
- Đây là một giống lai ghép ở trại chăn nuôi, hay một phòng thí nghiệm nào
đó.
- !!! Ngất trên cành quất !
(Theo báo tiếng cười tuổi học trò số 29 + 30/ 2008)
Với ngữ liệu trên ta có thể dùng để học sinh nhận diện câu khiến, hiểu mục
đích sử dụng câu khiến dùng để làm gì? Dùng trong tình huống nào?..
*Câu cảm.
Ví dụ :
-
10
Truyện: Khác xa nhau
Nga ơi ! Cậu có biết: “Bán đảo” nghĩa là gì không?
Ồ ! Linh hỏi đúng địa điểm rồi đấy ! Hôm trước mình còn giả thích cho
em mình nghe mà.
May quá ! Vậy cậu nói đi.
Bán đảo nghĩa là hòn đảo ...bị bán !
(Theo báo nhi đồng chăm học số 21/ 2008)
Sợ con mải chơi quên mất, nên cẩn thận lấy bút viết vào giấy, rồi bảo:
- Có ai hỏi thì con đưa cái giấy này.
- Con cầm giấy bỏ vào túi áo cả ngày chẳng thấy ai đến hỏi. Tối đến, sẵn có ngọn đèn
nó lấy giấy ra coi, chẳng may vô ý giấy cháy mất.
Hôm sau có người đến hỏi: “Thầy cháu có nhà không?”. Nó ngẩn ngơ hồi lâu sờ vào
túi không thấy liền nói:
- Mất rồi!
- Khách giật mình hỏi: “Mất bao giờ?”.
- Tối hôm qua!
- Sao mà mất?
- Cháy... cháy!
11
Với câu chuyện trên học sinh có thể xác định được câu đơn .
*Câu ghép
12
Ví dụ :
Quê con không có cam
Cô giáo nêu bài tập: Con có 2 quả cam, mẹ lại cho em thêm một quả cam nữa. Hỏi
con có tất cả mấy quả cam?
Tèo hồn nhiên trả lời:
Quê con không có cam nên con không biết ạ!
( Theo Chuyện vui trường học, trang 11. Tác giả Lê Phương Nga)
Câu chuyện trên ta có thể sử dụng để dạy câu ghép. Qua đó học sinh có thể
hiểu sơ giản về câu ghép, biết được chức năng của câu.
2.2.Xây dựng ngân hàng truyện cười để phân tích thành phần cấu tạo
Tiết kiệm
Buổi tối, cả nhà quây quần dưới một ngọn đèn tù mù. Người đọc sách, người
viết, người đan len. Thấy vậy, một người khách bảo:
-
Các bác tiết kiệm quá. Đèn từ mù thế này thì mắt sẽ chóng mờ đi lắm.
Chủ nhà đáp:
- Tôi biết, chúng tối đang tiết kiệm chút tiền để mua kính đấy.
Khi đọc nội dung câu chuyện người đọc dễ nhận ra cái mâu thuẫn, cai buồn
cười nên tạo được hứng thú cho học sinh.Ngữ liệu trên có thể sử dụng để dạy dấu
chấm, dấu phẩy.
3. Xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy học chính tả
3.1.Xây dựng ngân hàng truyện cười dạy chính tả âm/vần/thanh dễ lẫn.
Tiếng là đơn vị cơ bản của Tiếng Việt được đưa vào dạy học cho học sinh
ngay từ năm học đầu của bậc Tiểu học. Trên cơ sở đó, học sinh được tiếp nhận cấu
trúc hai bậc của âm tiết Tiếng Việt, những khái niệm như: phụ âm đầu, vần, .. .
Những nội dung đó có thể được minh họa bằng ngữ liệu truyện cười vừa phù hợp với
bài học, vừa phù hợp với đối tượng học sinh Tiểu học.
Giảm 20 cân
Một người to béo kể với bạn:
- Tôi muốn gầy bớt đi, bác sĩ khuyên là mỗi sáng phải cưỡi ngựa chạy mươi vòng
xung quanh thị xã. Tôi theo lời khuyên đó đã một tháng nay.
- Kết quả ra sao? – Người bạn hỏi.
- Kết quả là con ngựa mà tôi cưỡi sút mất 20 cân.
14
(Tiếng Việt 3, tập 2)
Với chuyện vui trên có thể sử dụng dạy phân biệt phụ âm đầu s/x.
15
các dạng bài tập cụ thể nhằm phục vụ cho quá trình học “Luyện câu” và “Chính tả”
của học sinh .
1. Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu để xây dựng bài tập luyện câu.
1.1. Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu để xây dựng bài tập dạy kiểu câu
a.Câu phân loại theo mục đích nói.
Để kiểm tra kiến thức, kĩ năng phân loại câu theo mục đích nói, có dạng bài tập
yêu cầu xác định các kiểu câu kể, hỏi, cảm, cầu khiến.
*Câu hỏi.
Ví dụ:
Cháo gà
Thấy em bị ốm, Hằng hớt hải chạy đi mua cháo cho em. Một lát sau thấy chị về, em
Hằng hỏi:
-
Chị quên gì à?
-
Chị quên hỏi em muốn ăn cháo gì?
Em gái liền bảo:
-
Em thích ăn cháo gà.
Lát sau, Hằng lại về không. Em gái thắc mắc:
-
Câu in đậm trong chuyện trên thuộc kiểu câu nào? Em có nhận xét gì về dấu
câu?
(Theo truyện vui trường học. Tác giả: Lê Phương Nga)
*Câu cảm
Ví dụ:
Giun bố vắng nhà
Giun đất mẹ hỏi giun đất con:
Bố con đi đâu rồi?
Giun đất con trả lời:
Dạ thưa mẹ! Bố con đi câu với các bác rồi ạ!
(Nguồn internet)
*Câu kể
Ví dụ:
Mất giầy
Mít:
Tít! Hôm qua, bác hàng xóm nói với tớ là chó nhà cậu đánh cắp đôi giầy
của bác í đấy.
Tít:
Ơ hay! Bác ấy có nhầm không đấy? Chó nhà tớ vẫn đi chân đất mà!
(Nguồn internet)
b.Câu phân loại theo cấu tạo
*Câu đơn
Ví dụ:
Phở và báo
Một người bán báo vào hàng phở mời mua báo. Ông hàng phở nói:
17
Báo của ông có hay không?
Báo hay lắm.
Để đấy một tờ, đọc xong thấy hay thì mai mua.
câu ghép, phân tích thành phần cấu tạo trong câu.
Truyện cười trên trực tiếp giúp các em luyện tập về câu ghép, phân tích cấu tạo
của câu ghép. Giúp các em nắm chắc nội dung bài học, tiết học hôm đó đã học, tạo
hứng thú cho các em khi đọc, ngẫm nghĩ và trả lời theo yêu cầu bài học.
Ví dụ:
Viết cho mẹ
Cả lớp làm bài văn “ Viết thư cho người than kể về việc học tập của em”. Cuối giờ cô
gọi Tèo:
- Tèo, sao bài của em làm ngắn thế, đọc thử cho cô và các bạn nghe xem nào.
Tèo đọc:
“Mẹ kính yêu!
18
Hôm nay, mẹ đi làm vắng. con ở nhà một mình, con viết thư cho mẹ. Thư con để
dưới gối, đã cho vào phong bì, cả dán tem nữa.
Khi nào đi làm về, mẹ lấy ra xem nhé!”
(Theo truyện vui trường học. Tác giả: Lê Phương Nga)
Em hãy phân tích thành phần cấu tạo trong câu in đậm trên?
1.3. Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu xây dựng bài tập dạy dấu câu.
Trong một số truyện cười Tiếng Việt Tiểu học, nội dung luyện tập thường gắn liền
với nội dung bài học.Tiết học hôm nay học về nội dung gì, và tất yếu bài tập hôm nay
phải làm cũng có nội dung tương ứng.Khi học về các dấu câu, các em có thể còn lẫn
lộn, nhất là tiếng phát âm giữa các vùng, miền nên dấu câu cũng khác.Người giáo
viên là yếu tố quan trọng nhất dạy, hướng dẫn, chỉ bảo cho các em, để các em ghi nhớ
được nội dung bài học và các đặt dấu câu đúng với ngữ pháp của tiếng Việt.
Ví dụ:
- Điền dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm vào ô trống cho thích
hợp.
Thật thà
có mưa …ải …ác đấy ạ!
(Theo truyện vui trường học. Tác giả: Lê Phương Nga)
Bằng cách điền vào chổ trống những từ còn khuyết trong ngữ liệu truyện vui,
đã giúp cho các em từng bước có thêm kiến thức, kinh nghiện điền đúng chữ cái đang
khuyết trong chổ trống. Các em không những hứng thú hơn trong việc hoàn thành nội
dung điền chữ, mà còn hứng thú trong việc khi hoàn thành đúng câu, các em cảm
nhận được sự thú vị từ nội dung cốt truyện mang lại.
2.2. Truyện cười được sử dụng làm ngữ liệu để xây dựng bài tập dạy quy
tắc viết hoa.
Ví dụ:
Giáp nước nào?
Cô: Hãy chỉ lên bản đồ và nói nước ta giáp với những nước nào?
Tít:
- Thưa cô, nước ta phía bắc giáp với trung quốc, phía tây giáp với lào , Cam-phuchia. Còn phía đông và phía nam giáp với nước “Biển” ạ!
(Theo truyện vui trường học. Tác giả: Lê Phương Nga)
Hãy chỉ ra các từ viết sai trong mẩu chuyện vui trên ? Em hãy sửa lại cho đúng.
Không những chỉ truyện cười trên mới đề cập, mới cung cấp cho em ngữ liệu
để các em học về viết hoa, quy tắc viết hoa, mà các truyên cười trong Tiếng Việt tiểu
20
học hầu như có đề cập đến quy tắc viết hoa, qua đó nhằm giúp cho các em rèn luyện
và nắm vững quy tác viết hoa, vận dụng trực tiếp vào thực tế của các môn học khác
và trong đời sống hằng ngày.
3. Thử nghiệm sử dụng bài tập “Chính tả” và “Luyện câu”có ngữ liệu là
truyện cười.
3.1. Mục đích thử nghiệm.
Đánh giá hứng thú của học sinh trong tiết học “Luyện câu” và “Chính tả”.Kết
quả thử nghiệm là cơ sở để kết luận về các ý tưởng được đề xuất trong luận văn, là
gợi ý để người nghiên cứu tiếp tục điều chỉnh những điểm chưa hợp lí. Đây cũng là
-
khi ngi trờn xe buýt, t s nhỡn vo hp cm m bit rng t ang i n trng
hay ang i v nh!
- Bng ph ghi ni dung bi tp 2, 3.
A. Bài cũ
Các hoạt động dạy
Nhn xột bi vit Mu giy vn, cho HS
vit li t sai.
B. Bài mới :
1) Giới thiệu bài :
Trong giờ chính tả hôm nay, cô sẽ hớng
dẫn các con tập chép bi Hp cm tra
2) Hớng dẫn tập chép :
a, Ghi nhớ nội dung đoạn chép :
Các hoạt động học
- 2HS lên bảng viết các từ sai, lớp
viết vào bảng con
- Cõu chuyn cần chép.
- Đọc thầm theo GV.
- 2 đến 3 HS đọc bài.
- Gọi HS đọc lại bi vit.
- Bn mang theo hp cm tra cú
e, Soát lỗi :
- Đọc lại bài thong thả cho HS soát lỗi.
Dừng lại và phân tích các tiếng khó cho HS
soát lỗi.
g, Chấm bài :
- Thu và chấm 10 15 bài. Nhận xét về
nội dung, chữ viết, cách trình bày của HS.
3) Hớng dẫn làm bài tập chính tả :
a, Bài tập 1 : Điền vào chỗ trống : ai hay ay
?
- Gọi HS đọc đề bài
- Yêu cầu HS làm bài.
- Nhận xét chữa bài.
- Nhìn bảng chép bài.
- Đổi vở, dùng bút chì soát lỗi, ghi
tổng số lỗi, viết các lỗi sai ra lề vở.
- 2HS đọc đề bài.
- HS làm bảng con, 1HS lên bảng
làm.
thuc bi ;
b, Bài tập 2 : Điền vào ch in nghiờng
thanh hi hay thanh ngó.
- Yêu cầu HS làm bài.
- Nhận xét chữa bài.
lung cy
Khú m
phấn khích và tỏ ra rất vui mừng xung phong trả lời. Tới mỗi tiết học có sử dụng các
truyện cười so với các tiết học thông thường thì các em tỏ ra hứng thú và chờ đợi tới
tiết học.
Từ kết quả thử nghiệm thu được, chúng tôi nhận thấy việc đưa truyện cười vào
giảng dạy trong một số phân môn Tiếng Việt là hoàn toàn có khả năng thực hiện.
Truyện cười được các em đón nhận một cách niềm nở, háo hức, thú vị trong tinh thần
chủ động, không miễn cưỡng.Chính thái độ ấy của các em đã gieo vào lòng chúng tôi
niềm tin về tính khả quan của đề tài, cũng như việc sẽ góp một phần nào đó vào việc
giữ gìn những nét độc đáo và tinh hoa của nền văn học nước nhà.
4. Một vài khuyến nghị sử dụng truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở
Tiểu học
`4.1. Mở rộng phạm vi sử dụng truyện cười
Ngoài việc sử dụng truyện cười để dạy học các vốn tri thức, các kĩ năng Tiếng
Việt ở Tiểu học như đã nêu ở trên, truyện cười còn được sử dụng trong các bước lên
lớp của giờ học như mở bài, củng cố nội dung bài học, bài tập luyện tập, trong các
khâu kiểm tra – đánh giá của quá trình dạy học.
4.2. Sử dụng truyện cười để giới thiệu bài, nội dung bài học
Giới thiệu bài tốt sẽ kích thích niềm say mê, phát huy sự tập trung về trí tuệ,
tình cảm, cảm xúc của học sinh, tránh được những tác động khác chi phối sự tiếp thu
của học sinh. Việc giới thiệu bài tốt sẽ phát huy được tính độc lập, tinh thần tự giác,
chủ động của học sinh, tạo hứng thú và tiền đề cho giáo viên hoàn thành tốt những
công đoạn tiếp theo của quá trình dạy học. Đấy chính là giai đoạn kích thích động cơ
học tập của học sinh.
4.3. Sử dụng truyện cười để củng cố nội dung bài học
Sử dụng các ngữ liệu làm tư liệu phân tích, chứng minh cho những tri thức cụ
thể trong nội dung bài học là một hình thức được sử dụng rộng rãi, phổ biến và có
hiệu quả nhất trong quá trình dạy học Tiếng Việt hiện nay.Và truyện cười cũng nằm
trong số các ngữ liệu đó.
24