luận văn thạc sĩ giáo dục ây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ (multiple choice question) về phần kiến thức chương i, II, III, IV phần di truyền và biến dị, sinh học 9 THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy họ - Pdf 50

Bộ giáo dục và đào tạo
========

Xây dựng hệ thống câu hỏi
trắc nghiệm khách quan dạng MCQ về phần kiến thức
chơng I, II, III, IV - phần di truyền và biến dị sinh học
lớp 9 THcs nhằm nâng cao chất lợng dạy học

Chuyên ngành: Lý luận và Phơng pháp dạy học Sinh
học
Mã số: 60.14.10

luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

1


Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Đất nớc ta đang trên đờng đổi mới toàn diện với xu hớng
hội nhập quốc tế, do đó, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lợng cao là vấn đề rất cần thiết [30]. Để đáp ứng nhu cầu xã
hội đó, Đảng và Nhà nớc chủ trơng đổi mới giáo dục mà trớc
hết là đổi mới về mục tiêu giáo dục. Điều đó đợc cụ thể hóa
trong điều 2, mục 1, chơng I của Luật Giáo dục: Mục tiêu giáo
dục là đào tạo con ngời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp... [43]. Sự
thay đổi mục tiêu của giáo dục - đào tạo chi phối tất cả các
yếu tố cấu thành quá trình dạy học, trong đó, sự thay đổi và
lựa chọn phơng thức kiểm tra đánh giá (KTĐG) có ý nghĩa vô
cùng quan trọng. Phơng thức KTĐG thành quả học tập của ngời

nhân đó chính là ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm (TN) đạt
tiêu chuẩn còn thiếu và kỹ thuật xây dựng câu hỏi TN của các
giáo viên (GV) cha đợc trang bị đầy đủ. TNKQ thờng đợc các GV
sử dụng trong KTĐG chủ yếu là dạng Đúng - Sai và Điền khuyết.
Việc sử dụng TNKQ trong dạy học đã đợc nhiều nớc trên thế
giới áp dụng từ nhiều năm nay, đặc biệt là trong các kỳ thi quốc
tế. TNKQ có tác dụng rất lớn trong việc kích thích, cổ vũ tinh
thần tự học, tự nghiên cứu, sáng tạo cho ngời học trong việc lĩnh
hội tri thức mới, đặc biệt đem lại hiệu quả cao trong KTĐG. Trong
các loại TNKQ, dạng câu hỏi nhiều lựa chọn MCQ (Multiple Choice
Question) là dạng có u thế nhất [27]. Sử dụng MCQ trong KTĐG
không chỉ phản ánh đợc chất lợng dạy và học mà còn giúp GV
điều chỉnh phơng pháp dạy học hợp lí và rèn luyện cho HS các

3


thao tác t duy, đặc biệt là các thao tác phân tích, tổng hợp,
khái quát hoá, trừu tợng hoá, vận dụng các kiến thức vào thực tiễn
đời sống sản xuất [42]. Tuy nhiên, cho đến nay, ở nớc ta, việc
xây dựng ngân hàng MCQ chuẩn dùng trong dạy học còn hạn
chế, vấn đề xây dựng MCQ trong chơng trình sách giáo khoa
đổi mới cha đợc nghiên cứu nhiều, đặc biệt phần kiến thức Di
truyền và Biến dị Sinh học 9 THCS, là một trong những phần
kiến thức quan trọng trong hệ thống kiến thức Di truyền học.
Với mong muốn góp phần nâng cao chất lợng dạy học phần
kiến thức cơ sở Di truyền học ở trờng THCS, chúng tôi chọn hớng
nghiên cứu: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm
khách quan dạng MCQ (Multiple Choice Question) về phần
kiến thức chơng I, II, III, IV - phần Di truyền và Biến dị,

dựng bảng trọng số câu hỏi cho chơng I, II, III, IV - phần Di
truyền và Biến dị - Sinh học 9 THCS.
5.4. Xác định nguyên tắc, quy trình xây dựng câu hỏi
TNKQ dạng MCQ và xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm
khách quan (CHTNKQ) dạng MCQ phù hợp với bảng trọng số.
5.5. Thực nghiệm để đánh giá giá trị của bộ CHTNKQ dạng
MCQ đã xây dựng.
6. Phơng pháp nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các văn bản Nghị quyết của Đảng và Nhà nớc,
Bộ Giáo dục - Đào tạo về đổi mới dạy học. Nghiên cứu chơng
trình Sinh học 9 THCS (theo chơng trình mới 2005). Tập

5


trung nghiên cứu chơng I, II, III, IV - phần Di truyền và Biến
dị, các tài liệu hớng dẫn giảng dạy Sinh học 9 THCS, các tài
liệu nghiên cứu về TNKQ dạng MCQ làm cơ sở cho việc xây
dựng câu hỏi TNKQ dạng MCQ, các công trình khoa học và tài
liệu có liên quan.
6.2. Phơng pháp điều tra
Điều tra thực trạng dạy HS học 9 ở các trờng THCS bằng
phiếu, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với GV, HS (HS) để thu
thập thông tin về thực trạng dạy HS học 9, đặc biệt là vấn
đề sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ trong KTĐG thành quả
học tập.
6.3. Phơng pháp đánh giá bộ CHTNKQ dạng MCQ
Tiến hành khảo sát HS lớp 9 ở một số trờng THCS bằng bộ
câu hỏi TNKQ dạng MCQ đã xây dựng để xác định các chỉ

TN đã đợc biết đến từ rất lâu, theo Trần Trọng Thuỷ, từ
những năm 2000 Tr.CN, ngời Trung hoa đã biết dùng TN để

7


chọn nhân tài, ngời hầu hay thê thiếp. Mặc dù vậy nhng mãi
đến thế kỷ XVII - XVIII khoa học TN mới đợc hình thành,
đầu tiên là ở Châu Âu. Ban đầu khoa học TN đợc áp dụng ở
các lĩnh vực vật lý - tâm lý, sau đó lan dần sang ngành
động vật học. Mãi tới năm 1879 mới có phòng thí nghiệm đầu
tiên về tâm lý do Wichelm Weent thiết lập ở Leipzig (Đức).
Ban đầu các nhà nghiên cứu chú trọng đến các phép đo liên
quan đến thính giác, thị giác, tốc độ phản xạ. Sau đó mới
nghiên cứu đến thời gian nhận thức, tốc độ học tập...[27,
31,38, 39, 42]
Căn cứ vào sự khác nhau giữa các loài theo tác phẩm
Nguồn gốc các loài (Origin of species - 1859) của Đacwin,
Francis Galton đã vận dụng những nguyên tắc đó để khảo
sát về tính chất sinh lý và tâm lý của các cá thể bằng TN
nhằm chọn lọc những ngời có thể làm cha mẹ tốt nhất [27,
39].
Cùng vào lúc đó, Karl Pearson, sinh viên của Galton tìm
ra các kỹ thuật thống kê giúp xử lý nhanh các kết quả của
Galton, trong đó có phép đo về sự tơng quan, giúp cho việc
khảo sát và phân tích các đặc điểm khác biệt giữa những
ngời khác nhau đợc dễ dàng hơn.
Sang đầu thế kỷ XX, khoa học TN phát triển mạnh mẽ ở
nhiều nớc trên thế giới nh : Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Hàn Quốc,
Nhật Bản... Vào đầu năm 1905, nhà TN tâm lý Pháp, Alfred

trong giáo dục mà còn thâm nhập vào các lĩnh vực khác
mang tính kinh doanh, các bài TN kỹ năng, kỹ xảo cá biệt đợc
đặt ra vào thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2 để tuyển chọn

9


và phân loại binh sỹ. Sau các loại TN về trí thông minh, kỹ
xảo, các TN về khả năng, sở thích, nhân cách đã không
ngừng phát triển và áp dụng rộng rãi [20, 27, 39]. Sự phát
triển rầm rộ của TN dẫn đến nhiều nớc phơng Tây đã sử
dụng các bộ TN chuẩn hoá một cách không phê phán. Bởi quá
tin vào giá trị của các bài TN đó mà không thấy hết đợc các
nhợc điểm của việc áp dụng máy móc nên họ đã thu đợc các
kết quả không nh mong muốn [42]. Một thời gian sau đó,
việc dùng các bài TN trong nhà trờng bị nghi ngờ, thậm chí
còn bị phản đối. Liên Xô là một trong những nớc phát triển
khoa học TN sớm mà cũng là nơi có sự phản đối quyết liệt
nhất. Ngày 4/9/1936 Ban chấp hành trung ơng Đảng cộng sản
Liên Xô đã chính thức phê phán việc dùng TN. Mãi đến 1963,
việc dùng các bài TN trong trờng học để KTĐG thành quả học
tập của HS mới đợc áp dụng lại. Công trình đáng chú ý nhất
là của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô do Monetzen E.I chủ
trì [39].
Cùng với sự phát triển của Khoa học TN trên diện rộng,
hình thức TN cũng đợc cải tiến và nâng cao. Vào năm 1964
cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, Ghecberic đã
sử dụng máy tính để cài đặt chơng trình xử lý kết quả. Với
công nghệ này, nó không chỉ tìm ra giá trị của bài TN mà
còn đánh giá thành quả học tập và hiệu quả của phơng pháp

từng loại TN. Về kỹ thuật xây dựng và sử dụng MCQ trong
KTĐG, tự KTĐG nhận thấy các bài TN mẫu mực của các tác giả
Alexander L.G, Zolene Gear [27] đợc sử dụng rộng rãi trên thế
giới trong kiểm tra trình độ tiếng Anh. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu quy trình xây dựng và lựa chọn cách thức
sử dụng câu hỏi TN nh thế nào để đảm bảo hiệu quả cao
cho việc đo lờng và đánh giá tuỳ theo yêu cầu của từng môn
học và từng mục đích đánh giá... Tuyển tập TN sử dụng trớc

11


khi vào học giáo trình (pre - test) của nhiều tác giả do
Doulays Sawyer chủ biên về Tế bào học đề cập đến các
lĩnh vực nh: cấu trúc, chức năng của màng tế bào, sự vận
chuyển của chất qua màng... Trong lĩnh vực di truyền đáng
chú ý nhất là công trình của Janice Finkelstein, Golder Wilson
về pre - test dùng cho sinh viên y khoa tự ôn tập và tự kiểm
tra.
1.1.1.2. ở Việt Nam
Vào giữa thế kỷ XX, TNKQ đợc áp dụng thử nghiệm ở Miền
nam Việt Nam do các tổ chức quốc tế tài trợ. Từ 1956 - 1960
TNKQ đợc áp dụng rộng rãi, phổ biến trong KTĐG và thi cử ở các
bậc trung học, sớm nhất là trong Sinh học.
Năm 1963, Trắc nghiệm vạn vật lớp 12 của Lê Quang
Nghĩa đợc xuất bản [33], năm 1964, Phơng pháp học và thi
vạn vật lớp 12 của Phùng Văn Hớng đợc xuất bản [24]. Năm
1969, Dơng Thiệu Tống đã giảng dạy Trắc nghiệm thành
quả học tập cho các lớp Cao học và Tiến sĩ giáo dục tại Đại
học s phạm (ĐHSP) Sài Gòn [51]. Nh vậy khoa học TN chính

KTĐG kiến thức Giải phẫu học [27, 39, 42].
Từ năm 1991 - 1995, GS Trần Bá Hoành đã soạn thảo và
chính thức đa ra bộ TN di truyền học và tiến hoá vào SGK lớp
12 - chơng trình chuyên ban của ban khoa học tự nhiên. Vào
những năm này, GS cũng biên soạn các tài liệu đề cập đến
những kiến thức cơ bản nhất của việc xây dựng, thử
nghiệm và ứng dụng TNKQ. Các tài liệu này góp phần giúp
GV phổ thông tiếp cận với phơng pháp KTĐG còn mới mẻ này.

13


Trong thời gian này có rất nhiều cuộc hội thảo về xây dựng
TN ở các trờng ĐH, ở Bộ Giáo dục - Đào tạo.
Năm 1994, Bộ Giáo dục - Đào tạo chủ trơng đổi mới KTĐG
kết quả học tập, phối hợp với Viện Công nghệ Hoàng Gia
Melbourne của Autralia, tổ chức các cuộc hội thảo với chủ đề
Kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ tại các thành phố: Hồ Chí
Minh, Huế, Hà Nội. Hội thảo trang bị cho giảng viên các trờng
ĐH và CĐ những lý luận cơ bản về TNKQ. Năm 1995 với sự tài
trợ của UNESCO, trờng ĐH tổng hợp Hà Nội, nay là ĐHQG Hà Nội
cũng đã mở những lớp tập huấn về phơng pháp xây dựng
TNKQ cho nhiều giảng viên. Nhiều tài liệu về xây dựng và sử
dụng TNKQ đợc xuất bản trong các năm này.
TNKQ đợc các tác giả nh: Trần Bá Hoành, Đặng Bá Lãm, Lê
Đức Ngọc, Nguyễn Phơng Nga, Phạm Gia Ngân, Nguyễn Viết
Nhân, Nguyễn Trọng Phúc, Nguyễn Quang Quyền, Lê Đình
Trung, Lê Văn Trực.... nghiên cứu và sử dụng trong KTĐG và tự
KTĐG kết quả học tập, Nguyễn Bá Thủy sử dụng TNKQ khi dạy
bài ôn tập chơng. Nhiều tác giả nghiên cứu, sử dụng TNKQ

luận án, tác giả đã xây dựng đợc 882 MCQ, phổ rộng toàn bộ
kiến thức Di truyền học với nhiều cấp độ nhận thức khác
nhau, đủ tiêu chuẩn cho KTĐG, đề xuất quy trình sử dụng
MCQ trong dạy học bài mới trong môn Di truyền học, CĐSP và
hớng dẫn Sinh viên xây dựng MCQ trong chơng trình Sinh
học lớp 9 THCS.
Năm 2006, tại Đại học Vinh, tác giả Hoàng Thị Phơng đã
bảo vệ luận văn Sử dụng trắc nghiệm khách quan MCQ để
dạy học bài mới chơng Biến dị trong chơng trình Di truyền
học CĐSP [42]. Cũng trong năm 2006, Bộ GD - ĐT quyết định

15


đa TN vào kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học ở một
số môn nh: Vật lý, Hoá học, Sinh học...và dự kiến trong các kỳ
thi tiếp theo sẽ mở rộng thi bằng TN đối với một số môn khác.
Tóm lại, ngày nay các nớc đã không ngừng cải tiến TNKQ
để hạn chế tối đa nhợc điểm và phát huy u điểm của nó.
TNKQ là phơng tiện chủ yếu cho các kỳ thi vào các trờng ĐH,
CĐ, các kỳ thi học kỳ của các cấp học và thi tốt nghiệp THPT. Vì
vậy, việc soạn thảo câu hỏi TN chuẩn ngày càng đợc nghiên
cứu sâu và chú trọng của các nhà giáo dục. Đã có những bộ
câu hỏi TN dành cho Sinh học 9 hiện hành (chơng trình cải
cách - xuất bản năm 2005), tuy nhiên cha có tác giả nào đi sâu
nghiên cứu, xây dựng bộ câu hỏi chuẩn về TNKQ dạng MCQ
cho kiến thức chơng I, II, III, IV - Phần Di truyền và Biến dị.
1.1.2. Những khái niệm cơ bản về KTĐG kết quả
học tập
1.1.2.1. Khái niệm kiểm tra

trong việc xác định giá trị của một chơng trình, một sản
phẩm, một tiến trình, một mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng của
một cách thức đa ra nhằm đạt tới một mục đích nhất định.
Theo Glonlund N.E: Đánh giá là một tiến trình có hệ thống của
việc thu thập, phân tích và giải thích thông tin nhằm xác định
mức độ mà HS đã đạt đợc mục tiêu giảng dạy. Còn Polonxki V.M
cho rằng: Đánh giá là sự xác định trình độ lĩnh hội tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo của HS trong sự tơng ứng với yêu cầu chơng trình
học [27].
Theo chúng tôi, đánh giá là tìm ra nguyên nhân của kết
quả học tập, nhận thức đa ra nhận định, phán đoán từ đó

17


có cơ sở đề xuất những chủ trơng, phơng pháp, biện pháp
khắc phục, sữa chữa, chỉnh lý để tìm ra phơng pháp mới
hay, phát huy những u điểm của phơng pháp, biện pháp
hiện hành.
1.1.2.3. Đánh giá kết quả học tập
Học tập xét về bản chất là hoạt động nhận thức của ngời học dới sự hớng dẫn, tổ chức của nhà s phạm để tiếp thu
tri thức văn hoá của nhân loại, chuyển chúng thành năng lực
tri thức, năng lực tinh thần của mỗi ngời học.
Đối tợng của hoạt động học là hệ thống tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo đợc thể hiện ở nội dung môn học, bài học bằng hệ
thống khái niệm khoa học, khái niệm môn học. Kết quả học
tập thể hiện chất lợng của quá trình dạy học, xuất hiện khi
có những biến đổi tích cực trong nhận thức hành vi của ngời học, đợc hiểu theo khoa học và thực tế.
Theo tiêu chí mà mức độ ngời học đạt đợc so với các mục
tiêu đã xác định, theo chuẩn là mức độ mà ngời học đạt đợc

các bài TN (bài thi, bài kiểm tra ).

Có thể phân loại nh sau :
Các hình thức TN

19


Quan sát

Vấn đáp

Viết

TNTL
TNKQ

Diễn giải

Tiểu luận

Luận văn

Đúng sai

Ghép đôi

Điền

khuyết Nhiều lựa chọn

** Trắc nghiệm tự luận (TNTL)

Theo Dơng Thiệu Tống [51], TNTL có những u và nhợc
điểm sau:
- Ưu điểm: TNTL đòi hỏi HS trả lời và diễn đạt bằng ngôn
ngữ của chính mình, GV ít tốn thời gian cho việc soạn câu hỏi,
HS có thể tự do diễn đạt ý tởng, phát huy khả năng sáng tạo,
cách thức giải quyết vấn đề, rèn luyện ngôn ngữ cho họ.
- Nhợc điểm: TNTL có số lợng câu hỏi ít, giá trị nội dung
không cao, chấm bài tốn thời gian, cho điểm gặp khó khăn,
tính khách quan không cao nên độ tin cậy thấp.
TNTL thờng đợc sử dụng dể khảo sát thành quả học tập
trong những trờng hợp sau:
- Khi nhóm HS đợc khảo sát không quá đông và đề thi
chỉ đợc sử dụng một lần, không dùng lại nữa.

21


- Khi thầy cô giáo tìm mọi cách có thể đợc để khuyến
khích kỹ năng diễn tả bằng văn viết của HS.
- Khi thầy cô giáo muốn thăm dò thái độ hay t tởng của
HS về một vấn đề nào đó lớn hơn là khảo sát thành quả học
tập của họ.
- Khi thầy cô giáo tin tởng vào khả năng phê phán và chấm
bài TNTL một cách vô t, chính xác hơn là khả năng soạn thảo
những câu hỏi TNKQ thật tốt.
- Khi không có nhiều thời gian để soạn thảo bài nhng lại
có nhiều thời gian để chấm bài.
Theo Mehrens W.A, Lehman I.J và một số tác giả khác, TNTL

TN ghép đôi dễ viết hơn, đặc biệt thích hợp khi cần
thẩm định các mục tiêu ở mức t duy thấp nh các đối tợng đầu
cấp của cấp học THPT, giảm tỷ lệ đoán mò của HS, việc xây
dựng TN ghép đôi kinh tế hơn so với MCQ.
Tuy nhiên, TN ghép đôi không thích hợp cho việc áp dụng
các kiến thức mang tính nguyên lý, quy luật và mức đo khả
năng trí lực cao. Vì soạn những câu hỏi để đo trí lực cao
thì phải mất nhiều thời gian và công sức nên giáo viên thờng
có xu hớng TN những kiến thức về ngày, tháng, định nghĩa,
biến cố, công thức. Nh vậy không thẩm định đợc khả năng
sắp đặt ý tởng, áp dụng kiến thức đã học.
- Loại TN điền khuyết (Completion items): Có 2 dạng,
chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn (Short
answer) hay là những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ

23


để trống, HS phải điền vào bằng một từ hay một nhóm từ
cần thiết để làm mệnh đề đó, nhận xét đó, quy luật đó
đúng.
+ Ưu điểm: HS có cơ hội diễn đạt, trình bày, do đó,
tính sáng tạo của HS đợc biểu đạt trên bài làm. Việc chấm
điểm nhanh hơn, tin cậy hơn so với TNTL, hạn chế cơ hội
đoán mò của HS. Việc soạn thảo của GV dễ hơn so với các TN
khác. Đặc biệt các câu hỏi thích hợp với các môn tự nhiên, có
thể đánh giá mức hiểu biết về các nguyên lý, giải thích các
sự kiện, diễn đạt ý tởng và thái độ của mình đối với vấn đề
đặt ra.
+ Nhợc điểm: GV thờng có xu hớng trích nguyên văn tài

là nh nhau). Trờng hợp HS chỉ chọn 1 phơng án cố định thì
khi tính điểm hiệu chỉnh sẽ có điểm 0, theo công thức 1.1
Số câu trả lời
Điểm

số

=

Số phsai
ơng
câu
trảán - lời

Số

đúng

-

1

(công thức 1.1)

So sánh hai loại TNTL và TNKQ ta thấy:
TNTL

TNKQ

Về


phần do đó không phân tích

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status