Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN

KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN
THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khóa học: PGS.TS. Vũ Thị Duyên Thủy

Phản biện 1: …………………………………………………………
……………………………………………………..
Phản biện 2:………………………………………………………….
……………………………………………………..

Luận văn này sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ tại: Học viện khoa học xã hội ………..giờ……….ngày
……..tháng ………năm


1


3. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu và làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm tiếng ồn, tổng hợp và hệ thống hoá các quy định của pháp
luật hiện hành về kiểm soát Ô nhiễm Tiếng ồn ở Việt Nam qua thực
tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp hoàn thiện pháp luật để kiểm soát Ô nhiễm Tiếng ồn ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài trong khuôn khổ của
một Luận văn thạc sĩ chủ yếu là đi sâu nghiên cứu các quy định
pháp luật về kiểm soát tiếng ồn được ghi nhận trong Luật Bảo vệ
môi trường năm 2014 và các băn bản pháp lý liên quan khác.
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài ở đây chủ yếu tập trung
nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn xoay quanh
pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh ở
thời điểm hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn dựa trên những thành tựu của các chuyên ngành
khoa học pháp lý như: Luật Bảo vệ môi trường, Lịch sử nhà nước
và pháp luật, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Lý luận Nhà nước và
pháp luật… những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên
cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên
ngành liên quan đến kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn, Pháp luật về kiểm
soát ô nhiễm tiếng ồn.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả sử
dụng nhiều phương pháp đan xen để nghiên cứu như: quan trắc,

1.1. Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
1.1.1. Khái niệm, phân loại Tiếng ồn
Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm rất phổ biến trong đô thị phần
lớn là từ các tuyến đường giao thông, các tụ điểm dân cư, từ các công
trình xây dựng, hoạt động sản xuất công nghiệp… Ô nhiễm tiếng ồn
là tiếng ồn trong môi trường vượt quá nhưỡng nhất định gây khó chịu
cho người hoặc động vật.
Các nguồn ồn chính bao gồm:
-

Nguồn ồn giao thông: Tiếng ồn giao thông hiện nay chủ

yếu là do mật độ xe trên đường phố lớn, tập hợp nhiều xe sẽ gây ra
hỗn hợp tiếng ồn với nhiều tần số khác nhau.
-

Nguồn ồn trong xây dựng: Việc sử dụng phương tiện cơ

giới ngày càng phổ biến, khi có một công trình xây dựng được thực
thi thì tiếng ồn của các phương tiện này gây ra cho con người cũng
rất đáng kể.
-

Nguồn ồn công nghiệp và sản xuất: Công nghiệp sử

dụng rất nhiều máy móc, khi hoạt động sẽ gây ra tiếng ồn đáng kể
-

Nguồn ồn sinh hoạt: Trong sinh hoạt thường sử dụng


niên gần đây, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn đã ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng cuộc sống của con người:
-

Căng thẳng tinh thần

-

Rối loạn giấc ngủ

-

Giảm thính lực và mất thính lực

-

Đối với hệ tiêu hóa

-

Suy giảm khả năng, chất lượng lao động, học tập

-

Biến đổi hành vi con người

-

Ảnh hưởng đến trao đổi thông tin


tiếng ồn
1.2.1. Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Mục đích cơ bản của pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là
nhằm hạn chế nguồn ồn, phòng ngừa, giảm thiểu những ảnh hưởng
xấu của tiếng ồn, bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người.
Thông qua việc định hướng xử sự của cơ quan nhà nước và các tổ
chức, cá nhân trong quá trình làm phát sinh tiếng ồn, đồng thời ràng
buộc những chủ thể này bằng những chế tài cụ thể, có thể định nghĩa
pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn như sau: “Pháp luật Kiểm
soát ô nhiễm Tiếng ồn là tổng thể cácquy phạm pháp luật các cơ
6


quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động
của các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức là chủ nguồn ồn và
các chủ thể khác trong quá trình phòng ngừa, dự báo, theo dõi, kiểm
tra, giám sát và phát hiện những tác động của tiếng ồn, sự phát tán
tiếng ồn, xử lý tiếng ồn, đảm bảo môi trường sống của con người”.
Nhà nước ta đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm
2014. Trong Luật này có sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến
kiểm soát ô nhiễm Môi trường, quy định về quy chuẩn kỹ thuật về
Môi trường xung quanh gồm: nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường
đối với không khí, nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với âm
thanh, ánh sáng, bức xạ, nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối
với tiếng ồn, độ rung (bao gồm cả nguồn di động và cố định). Các
quy chuẩn này là cơ sở đề đánh giá hiện trạng Môi trường, mức độ ô
nhiễm, quản lý ô nhiễm và là cơ sở để xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật về Môi trường.
1.2.2 .Các nguyên tắc trong điều chỉnh pháp luật Kiểm soát
ô nhiễm Tiếng ồn


nghiên cứu các ứng dụng khoa học tiên tiến để bảo vệ môi trường,
hạn chế tiếng ồn do các hoạt động thường xuyên của con người gây
ra.
-

Pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn góp phần thay đổi

và nâng cao nhận thức của cộng đồng theo hướng có lợi.
-

Pháp luật quy định các chế tài ràng buộc con người thực

hiện những đòi hỏi của pháp luật để bảo vệ môi trường.
1.2.4. Nội dung của pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng
ồn


Các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường:

Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là công cụ và phương tiện
quan trọng để duy trì các chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế,
thương mại, thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đổi mới, nâng cao chất
lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo
an toàn, vệ sinh, sức khỏe cho con người; bảo vệ động vật, thực vật
và môi trường, sử dụng hợp lý tại nguyên thiên nhiên để đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của người dân.


Pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt


Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát

ô nhiễm tiếng ồn
Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014, thì
gây tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép là một trong những hành
vi bị nghiêm cấm. Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn có thể gánh chịu các
loại trách nhiệm pháp lý sau:
-

Trách nhiệm hành chính

-

Trách nhiệm dân sự

-

Trách nhiệm hình sự

10


Kết luận chương 1
1.

Tiếng ồn là hệ quả tất yếu khi đời sống kinh tế ngày càng

tăng cao, nhu cầu giải trí, sinh hoạt, phát triển cơ sở hạ tầng của

2.1. Đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường
trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn qua thực tiễn thi hành tại
Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1. Các quy định pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật môi
trường và Tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn tiếng ồn cho phép đối với các phương tiện giao
thông được quy định cụ thể đối với từng loại phương tiện, đồng thời
khi tiến hành lưu thông trên đường phải được cấp giấy phép đủ điền
kiện và đúng tiêu chuẩn quy định. Luật Bảo vệ môi trường đã có quy
định về nhóm tiêu chuẩn môi trường và quy chuẩn kỹ thuật môi
trường về chất lượng môi trường về khí thải, tiếng ồn và độ rung
(trong đó có cả nguồn ồn di động và cố định) và có vai trò rất quan
trọng trong việc quản lý của nhà nước trong việc bảo vệ môi trường.
* Tiêu chuẩn môi trường:
Theo khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 thì “Tiêu
chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng
môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có
trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan
nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp
dụng để bảo vệ môi trường”.
Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự
phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hệ thống tiêu chuẩn môi
trường là một công trình khoa học liên ngành, nó phản ánh trình độ
12


khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có
tính đến dự báo phát triển.
* Quy chuẩn kỹ thuật môi trường
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là công cụ quản lý Nhà nước

Pháp luật môi trường hiện hành cũng đã tăng cường quyền
tham gia của cộng đồng dân cư trong vấn đề bảo vệ môi trường
(trong đó có hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn) Tuy nhiên, hệ
thống pháp luật thực định quy định về vấn đề này còn tồn tại một số
hạn chế sau:
Thứ nhất, báo cáo ĐTM còn “ôm đồm” quá nhiều nội dung;
chưa bao quát đầy đủ các tác động của dự án tới chất lượng cuộc
sống của con người; trong đó có vấn đề kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Thứ hai, chưa đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền tham gia
của cộng đồng dân cư vào hoạt động tham vấn nội dung báo cáo
ĐTM
* Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về đánh giá môi
trường trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay
Xuất phát từ những hạn chế của pháp luật thực định, các báo
cáo ĐTM hiện nay chỉ tập trung vào phân tích đặc điểm địa hình,
hiện trạng chất lượng môi trường của khu vực dự án mà bỏ qua việc
đánh giá các tác động cộng hưởng, tác động tích lũy cũng như nguy
cơ xảy ra xung đột trong vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên với
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy trên thực tế, do
không chú ý tới đặc điểm triển khai dự án nên nhiều báo cáo ĐTM
của các dự án cùng loại hình sản xuất, kinh doanh rất giống nhau,
“nhiều báo cáo ĐTM là anh em với nhau”. Đặc biệt, trong các ĐTM
hiện nay thì vấn đề phân tích, chỉ ra những tác động của dự án trong
quá trình xây dựng và hoạt động làm phát sinh tiếng ồn ở quy mô và
14


mức độ thế nào, ảnh hưởng cụ thể tới chất lượng cuộc sống của con
người và các biện pháp nhằm giảm thiểu và khắc phục những tác

giảm thiểu tiếng ồn
Những năm gần đây các hoạt động giao thông là nguồn gây
tiếng ồn chính tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố hiện đang
quản lý gần 8 triệu phương tiện giao thông, trong đó có khoảng
650.000 ô tô và 7,4 triệu xe mô tô, chưa kể đến lượng phương tiện
mang biển số các tỉnh đang lưu thông trên địa bàn thành phố (khoảng
trên 1 triệu phương tiện các loại). Như vậy vào lúc cao điểm, khoảng
70% phương tiện giao thông sẽ lưu thông trên đường, gây ra tiếng ồn
rất lớn so cho các hộ dân sống hai bên đường.
* Nguồn ồn từ máy bay
Tiếng ồn của động cơ máy bay phát ra ở khoảng cách 4m có
thể đạt đến ngưỡng 130dB, khi máy bay cất/hạ cánh sẽ tạo ra tiếng
ồn trong khoảng 120-140dB, cường độ âm ở ngưỡng ngày có thể gây
tổn hại nặng cho tai, thậm chí là thủng màng nhĩ.
Hiện nay, việc cải tiến vật liệu xây dựng đã được tiến hành
để hạn chế tác hại của tiếng ồn máy bay, nhưng số lượng hành khách
ngày một tăng cao kèm theo số chuyến bay tăng lên khiến vấn đề
tiếng ồn máy bay vẫn chưa thể khắc phục. Tại Thành phố Hồ Chí
Minh, đặc biệt là khu vực tại quận Gò Vấp, máy bay thường bay cố
định qua khu vực các Phường 5, 6 và 10 là vùng nằm trong “phễu
bay”, sân bay Tân Sơn Nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng là sân
bay đón nhiều chuyến bay cất/hạ cánh nhất tại VN với tần suất mỗi
ngày có khoảng 400 chuyến bay cất và hạ cánh.
* Nguồn ồn từ phương tiện tàu hoả
Theo Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, trên
địa bàn Thành phố có khoảng 14 km đường sắt bắt đầu từ ga Sài Gòn
đến địa phận quận Thủ Đức, đi qua các Quận 3, Phú Nhuận, Gò Vấp,
16




a. Thực trạng pháp luật về xử lí vi phạm pháp luật trong hoạt động
kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong
hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn có thể gánh chịu các loại trách
nhiệm pháp lí sau:
-

Trách nhiệm hành chính

-

Trách nhiệm dân sự

-

Trách nhiệm hình sự

b. Thực tiễn thi hành quy định pháp luật về xử lí vi phạm pháp luật
đối với hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường ngày càng
diễn ra thường xuyên vì Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển kinh
tế. Pháp luật quy định việc xử lý các vi phạm rất nghiêm nhưng việc
thực hiện lại chưa nghiêm túc.
* Trách nhiệm dân sự:
Trách nhiệm dân sự được hiểu là bồi thường thiệt hại về tài
sản, sức khoẻ của con người, về môi trường do hành vi vi phạm gây
ra.
* Trách nhiệm hành chính:
Trong trường hợp xác định được mức độ tiếng ồn do cá

phủ về xác định thiệt hại môi trường mới chỉ quy định về xác định
thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại với môi trường đất, nước
và các loại động, thực vật hoang dã quý hiếm mà chưa có quy định
về xác định thiệt hại cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối
với những tổ chức, cá nhân khi bị thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính
mạng do ô nhiễm tiếng ồn gây ra.
*Trách nhiệm hình sự:
Thực tiễn cho thấy các vi phạm trong lĩnh vực môi trường,
đặc biệt là vi phạm về tiếng ồn đều bị xử lý hành chính là chủ yếu,
19


rất ít các vụ việc xử lý vi phạm bị đưa ra toà để chịu trách nhiệm
hình sự. Bởi thực tế công tác đánh giá mức độ nghiêm trọng đủ để
cấu thành tội phạm hình sự là rất khó.
* Trách nhiệm kỷ luật
Theo quy định tại khoản 02 Điều 160 Luật Bảo vệ môi
trường 2014 thì trách nhiệm kỷ luật thường được áp dụng đối với
những người có trách nhiệm trong việc quản lý môi trường. Tuy
nhiên thực tiễn hiện nay do nhiều nguyên nhân mà cho đến nay việc
áp dụng trách nhiệm kỷ luật liên quan đến môi trường vẫn chưa được
thực hiện triệt để và còn mang tính hình thức.
2.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả điều chỉnh pháp luật về bảo vệ môi trường trong kiểm soát ô
nhiễm tiếng ồn
1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật
Để hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, cần
thực hiện một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất: Kiểm soát ô nhiễm nói chung và kiểm soát ô
nhiễm tiếng ồn nói riêng cần được tiếp cận theo hướng đó là kiểm

trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch
BVMT: Hiện nay, pháp luật vẫn chưa quy định rõ nội dung về đánh
giá tác động môi trường tiếng ồn nên có thể sẽ bị các chủ thể có trách
nhiệm xem nhẹ khi lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh
giá tác động môi trường hay kế hoạch BVMT. Hơn nữa, trong đánh
giá môi trường chiến lược thì việc thẩm định báo cáo đánh giá môi
trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường là rất quan trọng,
nhưng quy định như pháp luật môi trường hiện hành sẽ gây nên hiện
tượng vừa đá bóng, vừa thổi còi. Do vậy: một là, cần quy định đánh
giá tác động tiếng ồn là một nội dung trong các báo cáo đánh giá môi
trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch
21


BVMT; hai là, cần quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý rõ ràng đối
với Hội đồng thẩm định cũng như cơ quan, tổ chức được xin ý kiến
trong trường hợp không thực hiện đúng trách nhiệm của mình gây ra
thiệt hại cho môi trường nhằm tăng cường trách nhiệm của các Hội
đồng cũng như các cơ quan, tổ chức này trong thẩm định.
Thứ năm, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chủ thể có
thẩm quyền trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn. Theo đánh giá của
nhiều chuyên gia thì vấn đề quản lý nhà nước về môi trường hiện nay
còn lỏng lẻo, khi cán bộ, công chức thực thi pháp luật môi trường vi
phạm thì việc xử lý trách nhiệm pháp lý vẫn chưa được triệt để, chưa
đảm bảo tính răn đe.
Thứ sáu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về ô nhiễm tiếng
ồn. Pháp luật hiện hành chưa quy định về vấn đề này do cho rằng,
việc xác định thiệt hại đối với tiếng ồn là không dễ dàng do đặc tính
của tiếng ồn là tính khuếch tán, lan truyền, vô hình… Khi xác định
được ô nhiễm, đó sẽ là cơ sở cho tổ chức, cá nhân được yêu cầu bồi

đã có quy định cụ thể về những vấn đề này ở các mức độ khác nhau.
Mặc dù có nhiều quy định còn chưa hoàn thiện đồng thời thực tiễn
thực thi pháp luật về vấn đề này vẫn còn bất cập, thiếu hiệu quảdo
còn thiếu các công cụ, dụng cụ chuyên dụng để thực hiện việc kiểm
tra, thanh tra.
3. Phân tích các quy định pháp luật về xử lý vi phạm ô
nhiễm Tiếng ồn, theo đó chủ thể gây ô nhiễm tuỳ theo mức độ có thể
bị xử lý trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm
hình sự hoặc trách nhiệm kỷ luật. Bên cạnh đó cũng phân tích những
bất cập trong việc thực hiện pháp luật về vấn đề này.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status