PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bác Hồ nói: "Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh tế văn hoá". Sản
phẩm của giáo dục chính là con người, mà con người là mục tiêu, động lực của
sự phát triển đất nước, trong tương lai, đó chính là thế hệ trẻ. Vì vậy việc chăm
sóc giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo
dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ sau này.
Nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, môn tạo hình nói riêng là việc làm
cần thiết để phát huy năng khiếu của trẻ một cách tự nhiên. Trong chương trình
giáo dục mầm non, bộ môn tạo hình là loại hình nghệ thuật phản ánh thế giới
xung quanh cuộc sống con người một cách đa dạng phong phú và hấp dẫn đối
với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo. Thông qua tạo hình trẻ được thử sức mình trong việc
thể hiện và cải tạo thế giới riêng của mình. Hoạt động tạo hình còn phát triển ở
trẻ khả năng quan sát, trí tưởng tượng sáng tạo, khả năng phối hợp giữa mắt và
tay, hoàn thiện một số kỹ năng cơ bản (vẽ, nặn, xé dán cắt ... ). Đặc biệt trong
giờ học vẽ trẻ thích tự tay vẽ được một cái gì đó dù các hình còn đơn giản như
ngôi nhà, cái cây, bông hoa, ô tô ... nhưng mang lại cho trẻ cảm xúc thực sự khi
tạo ra được 1 sản phẩm. Còn đối với những gì trẻ không thích, không hứng thú
thì trẻ sẽ vẽ đại khái cho xong và cảm thấy hài lòng hơn nữa tư duy của trẻ gắn
liền với cảm xúc, ý muốn chủ quan nên trẻ ghi nhớ những gì trẻ cảm thấy thích
thú và say mê thực hiện ý tưởng của mình. Ngoài ra, giờ vẽ còn hình hình thành
ở trẻ những kỹ năng như ngồi ngay ngắn, kỹ năng cầm bút ... , những kỹ năng
rất cần thiết cho trẻ bước vào lớp 1. Xuất phát từ đặc điểm trên tôi thấy nhiệm
vụ quan trọng mà giáo việc cần phải giải quyết khi hướng dẫn hoạt động tạo
hình không phải đơn giản là dạy trẻ vẽ theo 1 ý của riêng cô mà phải tạo cho trẻ
hứng thú thật sự trong giờ học. Có như vậy sản phẩm trẻ làm ra mới đạt kết quả
cao.
Vì vậy, tôi thấy việc tạo hứng thú cho trẻ trong giờ học vẽ là cần thiết. Hiểu
rõ được tầm quan trọng trong việc nhằm kích thích trẻ hoạt động tích cực trong
1
- Xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học. Sau khi đã điều tra thu
thập được đầy đủ số liệu thì tính %, xây dựng bảng số minh hoạ các kết quả
nghiên cứu.
PHẦN II : NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi, đây là giai đoạn tuổi mẫu
giáo, vận động của trẻ đã phát triển mạnh, thích tìm tòi, sáng tạo (Khả năng cầm
bút, thao tác vẽ, cắt, xé dán đã dược hình thành). Một mặt trẻ rất hiếu động
muốn bộc lộ cảm xúc của mình với những người xung quanh. Lúc này môi
trường sống, sinh hoạt của trẻ rộng hơn, mọi sự vật hiện tượng xung quanh trẻ
đều rất mới lạ. Mặt khác vốn tiếng Việt của trẻ còn quá ít. Trẻ chưa thể diễn đạt
nguyện vọng của mình bằng ngôn ngữ mạch lạc. Vì vậy hoạt động vẽ chính là
một thứ ngôn ngữ riêng để trẻ biểu lộ tình cảm, tiếng nói của mình với mọi
người xung quanh. Để tạo ra một sản phẩm đẹp trước hết trẻ phải hiểu về đối
tượng đó, có tình cảm với nó và có kỹ năng tạo ra nó, thì trẻ mới hoàn thành sản
phẩm đó được. Chính từ các hoạt động đó sẽ làm phát triển tình cảm thẩm mỹ
của trẻ.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Khi trẻ chưa biết cảm nhận cái đẹp, thì trẻ sẽ chưa biết yêu cái đẹp, chưa có
mong muốn, hứng thú tạo ra cái đẹp, trẻ sẽ chưa biết quý trọng những sản phẩm
đẹp và cũng là trẻ chưa có được kỹ năng tạo ra những sản phẩm đẹp vậy thì làm
sao mà trẻ có thể hứng thú, mạnh dạn tham gia vào các hoạt động tạo hình được.
Qua tìm hiểu đánh giá thực trạng các hoạt động ở trường mầm non Phu Luông
và trao đổi với đồng nghiệp tôi thấy được một số tồn tại trên thực tế như sau:
- Do số lượng trẻ trong nhóm lớp còn đông, độ tuổi khác nhau nên nhận
thức và kỹ năng vẽ của trẻ không đồng đều.
- Nhiều trẻ còn chưa mạnh dạn, tự giác tham gia vào các hoạt động, trẻ
chưa có nề nếp thói quen, kỹ năng sinh hoạt tập thể. Trẻ hay thích tự ý làm
cũng như đồ dùng học tập của các cháu.
- Lớp học rộng rãi, thoáng mát. Bàn ghế có đủ, phù hợp với lứa tuổi của trẻ
4
- Giáo viên có trình độ chuyên môn nắm vững kỹ năng dạy tạo hình và
nhiều năm dạy mẫu giáo ghép.
2. Khó khăn
- Trẻ còn nhút nhát không tích cực hoạt động.
- Môi trường cho trẻ hoạt động còn nghèo nàn.
- Lớp mẫu giáo ghép nên nhận thức của trẻ không đồng đều.
- Một số trẻ còn mải chơi, không hứng thú tập chung chú ý trong giờ học.
- Nhiều phụ huynh chưa nhận thức được hết về tầm quan trọng của việc học
vẽ nên chỉ chú trọng các môn làm quan chữ cái, toán... và coi học vẽ chỉ là môn
phụ, một số phụ huynh tuy cũng quan tâm tới việc học vẽ của trẻ, song phương
pháp dạy trẻ còn thiếu khoa học như : còn cầm tay trẻ vẽ, hay vẽ cho trẻ tô mầu.
Do đó, tôi thấy cũng khó khăn trong khi rèn trẻ.
* Khảo sát tình hình của lớp trước khi thực hiện đề tài nghiên cứu:
Nội dung
Tổng số
Đầu năm (tháng 9)
Khá
TB
Yếu
7
10
3
20 %
1
24 %
24 %
48 %
4%
trẻ
Có ý thức giữ gìn sản phẩm
25
- Qua khảo sát, tôi thấy kỹ năng vẽ của trẻ không đồng đều, nhiều trẻ kỹ
năng còn yếu và trung bình.
IV. BIỆN PHÁP
Từ những nguyên nhân đã nêu trên với kinh nghiệm thực tế và tâm huyết
của tôi, dưới góc độ là một giáo viên mầm non, tôi mạnh dạn đưa ra "Một số
biện pháp kích thích trẻ mẫu giáo ghép 4- 5 tuổi hoạt động tích cực trong giờ
vẽ".
1. Biện pháp 1: Giáo viên tự học tự bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ sư
phạm.
5
Tham gia đầy đủ các đợt tập huấn chuyên môn do trường và phòng giáo
gia vào các hoạt động sẽ không đạt hiệu quả cao. Khi trẻ có nề nếp tốt thì trẻ sẽ
có sự tập trung chú ý cao, hứng thú, say mê, chú ý quan sát, lắng nghe, có trí
tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động . Trẻ cần có nề nếp trong hoạt động, biết
thực hiện nề nếp giờ nào việc nấy, có thói quen chú ý lắng nghe thì trẻ mới có
thể hiểu được những hướng dẫn, yêu cầu của cô từ đó trẻ mới có được các kỹ
năng cần thiết khi thực hiện các hoạt động. Thời gian đầu tôi phải đưa ra những
nội quy của lớp, yêu cầu trẻ phải cùng nhau nhớ nội quy của cô, thực hiện và
kiểm soát lẫn nhau. Tôi chia lớp ra thành tổ, nhóm nhỏ để dễ kiểm soát và có
điều kiện hướng dẫn các kỹ năng tới từng trẻ. Tôi sắp xếp xen kẽ lẫn những trẻ
nhanh nhẹn gần trẻ nhút nhát, chậm chạp, những trẻ bé với trẻ lớn, giao nhiệm
vụ cho trẻ khá kèm trẻ yếu, trẻ lớn kèm trẻ bé. Có nhận xét động viên kịp thời
những trẻ tích cực có tiến bộ. Hướng dẫn trẻ cách chú ý lắng nghe, hiểu và thực
hiện các yêu cầu của cô, khuyến khích trẻ mạnh dạn trao đổi nhờ cô hướng dẫn
những chỗ chưa biết thực hiện. Tôi cũng tập trung quan sát gần gũi, nhẹ nhàng,
nghiêm khắc rèn trẻ tạo cho trẻ nề nếp, thói quen và kỹ năng thực hiện các hoạt
động. Công việc này tôi đã phối hợp đều tay thường xuyên với giáo viên cùng
lớp, thời gian đầu ngoài những giờ hoạt động học chúng tôi tích cực tổ chức lôi
cuốn trẻ vào các hoạt động chiều thường xuyên nên chỉ sau 1 tháng trẻ đã có
những tiến bộ rõ nét khi tham gia các hoạt động: trẻ có nề nếp, có thói quen,
bước đầu có một số kỹ năng thực hiện các yêu cầu của cô và điều này cũng
khích lệ tôi tích cực tổ chức các hoạt động cho trẻ. Khi trẻ đã có những nề nếp
thói quen kỹ năng thực hiện các hoạt động thì việc tổ chức các hoạt động cho trẻ
không còn gặp nhiều khó khăn như trước, trẻ đã chú ý lắng nghe biết tập trung
tư duy suy nghĩ và thực hiện các yêu cầu của hoạt động. Khi tôi tổ chức cho trẻ
hoạt động theo nhóm trẻ đã biết cách trò chuyện hỏi han thảo luận với nhau
cùng nhau thực hiện các yêu cầu của cô.
3. Biện pháp 3: Tạo cho trẻ hứng thú với hoạt động vẽ.
Thu hút được sự chú ý của trẻ vừa dễ lại vừa khó vì trẻ rất hào hứng trước
những điều mới lạ nhưng dễ chán với những gì quen thuộc. Vì vậy, tôi luôn suy
7
8
Hình ảnh: Trẻ quan sát ca nô, thuyền gấp bằng giấy
Ví dụ: Những giờ học cho trẻ học ngoài trời để tiếp xúc với thiên nhiên
như: Vẽ hoa mùa xuân, vẽ trường mầm non, vẽ vườn hoa, vẽ theo ý thích ... Với
cách thay đổi các hình thức vào bài, các tiết học tôi thấy trẻ có cảm giác sảng
khoái, hứng thú và bài có kết quả cao.
Hình ảnh: Trẻ học ngoài trời
Ngoài việc tạo hứng thú cho trẻ ở tiết học, tôi còn tạo hứng thú cho trẻ ở
mọi lúc mọi nơi, trong giờ đón trả trẻ, hoạt động ngoài trời. Ngoài vẽ, tôi còn
cho trẻ làm đồ dùng đồ chơi ở hoạt động góc. Trẻ tự làm búp bê, sau đó, vẽ trang
trí mặt lạ, làm váy áo để “trình diễn thời trang’’ ...
Được hoạt động, được chơi với sản phẩm của mình làm ra, trẻ rất thích thú
tự hào, kích thích trẻ niềm say mê với môn học.
9
Chính những giờ chơi này, tôi thấy trẻ càng ngày càng thuần thục, đôi bàn
tay khéo léo hơn.
Bên cạnh đó, tôi còn tích hợp vẽ vào các môn học khách như : văn học, chữ
cái, toán ...
4. Biện pháp 4: Hình thành kỹ năng vẽ cho trẻ.
Để trẻ mạnh dạn, hứng thú tham gia vào các hoạt động tạo hình thì việc
hình thành, cung cấp cho trẻ kỹ năng cơ bản để trẻ có hành trang mạnh dạn tự
tin tham gia vào các hoạt động tạo hình là cần thiết. Sau khi khảo sát đầu vào tôi
thấy các kỹ năng tạo hình của trẻ : Kỹ năng vẽ, kỹ năng quan sát nhận xét đánh
Với cách làm như vậy tôi nhận thấy tất cả trẻ đều đã có sự góp sức chung,
trẻ cảm thấy yêu thích hoạt động, không bị tự ti vì mình không biết làm.
Không những thay đổi về hình thức tổ chức, tôi còn thay đổi cả phương
pháp rèn kỹ năng cho trẻ trẻ, có những kỹ năng thì tôi gần gũi hướng dẫn trẻ
theo nhóm, tập thể lớp nhưng cũng có những kỹ năng tôi có thể hướng dẫn tỷ
mỷ cho một số trẻ khá để trẻ hướng dẫn lại bạn trong nhóm nhỏ 2,3 trẻ. Khi
quan sát thấy trẻ hướng dẫn và trao đổi với nhau về cách làm đồ chơi, cách vẽ,
giúp đỡ nhau cùng tạo nên sản phẩm tôi mới thấy được hiệu quả của hình thức
này. Ở lứa tuổi này trẻ rất thích được các bạn chơi với mình, muốn bạn cho nhập
hội, rất muốn thể hiện vai trò của mình trong nhóm.
Nắm được yếu tố tâm lý này nên tôi đã giao nhiệm vụ trẻ trẻ khá trong
nhóm phải hướng dẫn và làm cùng bạn sao cho được sản phẩm theo nhóm. Qua
11
cách hoạt động này tôi nhận thấy trẻ lớp tôi gắn kết nhau hơn, biết cùng bảo
nhau, tự giác hướng dẫn nhau cách thực hiện các yêu cầu của cô. Trẻ cũng mạnh
dạn gần gũi nhau hướng dẫn, có lúc làm hộ nhau, rồi cùng nhau làm, cùng nhau
thực hiện các yêu cầu của cô.
Hình ảnh: Trẻ hoạt động theo nhóm
Ngoài kỹ năng vẽ tôi còn dạy trẻ kỹ năng nhận xét, đánh giá sản phẩm. Khi
dạy trẻ nhận xét tranh của bạn, hay giới thiệu tranh của mình, những lần đầu tiên
cung cấp kiến thức cho trẻ hay gợi ý hướng dẫn trẻ nhận xét về nội dung, mầu
sắc, bố cục bức tranh. Nếu chưa cân đối thì gợi ý cho trẻ vẽ thêm một vài chi tiết
để lần sau trẻ vẽ được đẹp hơn. Nhiều lần như vậy, trẻ sẽ biết nhận xét tranh của
mình. Từ chỗ biết nhận xét tranh của mình, trẻ biết nhận xét tranh của bạn. Vẽ
xong, tôi còn cho trẻ tự đặt tên cho bức tranh của mình.
5. Biện pháp 5: Đồ dùng đẹp đa dạng, phong phú
Muốn trẻ vẽ được một bức tranh đẹp thì đồ dùng của cô như tranh mẫu, vật
Qua các biện pháp nhằm kích thích trẻ hoạt động tích cực trong giờ học vẽ,
tôi nhận thấy trẻ lớp tôi đã có những tiến bộ rõ ràng.
- Trẻ rất thích đi học, vui vẻ hồn nhiên khi tới lớp, yêu mến lớp học của
mình, có ý thức giữ gìn môi trường lớp học.
- Trẻ luôn có hứng thú khi tham gia các hoạt động tạo hình, có một số kỹ
năng hoạt động tạo hình.
- Trẻ luôn mong muốn được tham gia các hoạt động trang trí lớp học, tích
cực tham gia tìm hiểu, xây dựng môi trường lớp học theo chủ đề.
- Trẻ có ý thức ghi nhớ lời cô dặn, luôn tự hào với bố mẹ để giới thiệu các
sản phẩm của mình ở lớp. Phụ huynh cảm nhận được sự tiến bộ hàng ngày của
con ở lớp.
Điều đó được thể hiện rõ qua bảng khảo sát cuối năm :
Đầu năm (tháng 9)
Cuổi năm (tháng 4)
Tổng số cháu 25
Tốt
Khá
TB
Yếu
Tốt
Khá
12 %
52 %
36 %
12 %
0%
3
6
11
5
11
10
3
1
12 %
24 %
sản phẩm
24 %
24 %
48 %
4%
48 %
48 %
4%
0%
Có kỹ năng vẽ
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Hoạt động vẽ trong trường Mầm non là phương tiện phát triển thẩm mỹ cho
trẻ, để trẻ có lòng đam mê với nghệ thuật, hướng tới cái đẹp trong cuộc sống.
Đòi hỏi mỗi giáo viên chúng ta cần chú ý tạo cho trẻ cảm nhận được vẻ đẹp của
thiên nhiên, có cảm xúc với cái đẹp trong cuộc sống, bồi dưỡng 1 số kỹ năng cơ
14
bản cần thiết như: cầm bút, sử dụng các nguyên liệu như màu nước, giấy, hồ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
15
1. Giáo trình tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non - Nhà xuất bản Đại học Sư
phạm. (Nguyễn Ánh Tuyết)
2. Phương pháp hướng dẫn hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo - Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ và Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương
trình (Trẻ 4-5 tuổi; 5-6 tuổi) - Nhà xuất bản giáo dục (2009)
4. Nguồn Internet.
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
TRANG
1
1
16
II. PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
PHẦN II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
III. THỰC TRẠNG CỦA LỚP
6
6
7
10
12
13
14
14
14
15
16
17
17