Giao Tiếp Của Người Nhật
Đối với người Nhật Bản, hoa anh đào không chỉ tượng trưng cho vẻ đẹp
thanh cao mà còn là nỗi buồn về sự ngắn ngủi, phù du và tính khiêm
nhường, nhẫn nhịn. Cây hoa anh đào đem tặng được xem như biểu
tượng hòa bình của nước Nhật với các nước khác trên thế giới. Hoa anh
đào mọc ở Triều Tiên và Mỹ không có mùi hương. Trong khi đó, ở Nhật
Bản, người ta ngợi ca hương thơm của hoa
anh đào trong những vần thơ.Hoa anh đào
nở báo hiệu mùa xuân đến. Suốt tuần lễ thứ
hai của tháng Tư, lễ hội hoa anh đào được
tổ chức khắp nơi đón mùa xuân mới và mọi
người tụ tập trong các buổi tiệc ngắm hoa
“ohanami” (flower viewing party). Mỗi khi mùa xuân đến, hoa đào như
phủ khắp đất nước Nhật Bản. Cả một màu hồng phấn ôm trọn lấy núi
đồi, lan tỏa khắp phố phường tượng trưng cho một mùa lãng mạn và đẹp
nhất: mùa hoa anh đào.
Trong giao tiếp truyền thống của người Nhật có những quy tắc, lễ nghi
mà mọi người đều phải tuân theo tùy thuộc vào địa vị xã hội, mối quan
hệ xã hội của từng người tham gia giao tiếp. Những biểu hiện đầu tiên
trong quá trình giao tiếp của người Nhật là thực hiện những nghi thức
chào hỏi. Tất cả các lời chào của người Nhật bao giờ cũng phải cúi mình
và kiểu cúi chào như thế nào phụ thuộc vào địa vị xã hội, từng mối quan
hệ xã hội của mỗi người khi tham gia giao tiếp.
Một quy tắc bất thành văn là “người dưới” bao giờ cũng phải chào
“người trên” trước và theo quy định đó thì người lớn tuổi là người trên
của người ít tuổi, nam là người trên đối với nữ, thầy là người trên
(không phụ thuộc vào tuổi tác, hoàn cảnh), khách là người trên... Người
Nhật sử dụng ba kiểu cúi chào sau:
+ Kiểu Saikeirei: cúi xuống từ từ và rất thấp là hình thức cao nhất, biểu
hiện sự kính trọng sâu sắc và thường sử dụng trước bàn thờ trong các
đền của Thần đạo, chùa của Phật giáo, trước Quốc kỳ, trước Thiên
cũng đều mang dấu ấn của sự lịch thiệp, nhã nhặn. Vì người Nhật có ý
thức tự trọng cao nên họ đặc biệt tránh trở thành kẻ lố bịch, không đúng
mực, khiếm nhã khi giao tiếp.
Người Nhật rất chú trọng làm sao cho người đối thoại cảm thấy dễ chịu.
Họ không bao giờ muốn làm phiền người khác bởi những cảm xúc riêng
của mình, cho dù trong lòng họ đang có chuyện đau buồn nhưng khi
giao tiếp với người khác họ vẫn mỉm cười.
+ Khi bước vào tiếp xúc, sau những lời chào hỏi xã giao, với cương vị
chủ nhà, họ thường chủ động đi vào vấn đề cần bàn bạc trước. Lúc câu
hỏi được đưa ra có nghĩa là công việc đã chính thức bắt đầu. Trong
không khí căng thẳng, nếu bạn tạo được tình huống vui vẻ gây cười thì
sẽ tạo được ấn tượng tốt, nhưng nên dừng lại đúng lúc. Người Nhật khi
đang thực thi nhiệm vụ hoặc đang suy nghĩ thì không nên đưa ý kiến
chệch vấn đề đang bàn, nói những câu thiếu thông tin, hỏi về đời tư. Bạn
sẽ bị đánh giá là thiếu nghiêm túc, thậm chí sẽ gây ác cảm với họ.
Dù người Nhật rất khoan dung với người nước ngoài về khoản này,
nhưng sẽ là một lỗi trong giao tiếp nếu không dùng ngôn ngữ lễ phép và
kính ngữ khi dùng tiếng Nhật để nói chuyện với người có địa vị cao hơn.
Kính ngữ “san” có thể dùng khi bạn nói tiếng Anh nhưng đừng dùng nó
để gọi chính mình. Tên người Nhật có họ để phía trước nhưng họ cũng
thường để ngược lại vì lợi ích của người Tây phương trong giao tiếp.
Nụ cười hay tiếng cười của người Nhật có thể là do họ cảm thấy bối rối
hoặc khó chịu, và có thể không mang nghĩa là họ đang vui.
Sẽ là thô lỗ nếu khi không gửi thiệp trong ngày Tết của Nhật khi nhận
được thiệp gửi cho bạn. Nhưng nếu gửi thiệp ấy tới một tang gia chưa
giáp năm là lỗi trong giao tiếp.
Với người Nhật, việc tặng tiền thường bị xem là thô lỗ, tiền mặt là loại
quà cáp quy chuẩn trong đám cưới hay cho trẻ em trong năm mới.
Khi gọi ai đó bằng cách vẫy tay, nên để tay thẳng, lòng bàn tay hướng
xuống, sau đó quạt các ngón tay xuống, việc cong một vài ngón tay