VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VƯƠNG HOÀNG NHẤT PHƯƠNG
HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
VỀ ĐẤT ĐAI, TÀI CHÍNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VƯƠNG HOÀNG NHẤT PHƯƠNG
HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
VỀ ĐẤT ĐAI, TÀI CHÍNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VƯƠNG HOÀNG NHẤT PHƯƠNG
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và pháp
luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính .............................. 5
1.1.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ............................................................... 5
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa .......................................................... 5
1.1.2. Những ưu điểm và hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa ............................ 8
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa ........................................................... 11
1.2.
Khái quát lý luận về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa .................................. 12
1.2.1. Khái niệm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính ................. 12
1.2.2. Sự cần thiết hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính .............. 13
1.2.3. Các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính ........... 14
1.2.4. Mục đích, ý nghĩa của hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính 16
1.3.
Cơ sở lý luận của pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài
chính .............................................................................................................. 17
1.3.1. Khái niệm pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính 17
2.3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về tài chính
........................................................................................................................ 72
Kết luận chương 2 .................................................................................................... 75
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 78
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTD
:
Bảo lãnh tín dụng
CCN
:
Cụm công nghiệp
DN
:
Doanh nghiệp
DNNVV
:
Thu nhập cá nhân
TNDN
:
Thu nhập doanh nghiệp
UBND
:
Ủy ban nhân dân
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, từ những năm 60 của thế kỷ thứ 20, những quốc gia như Mỹ,
Nhật, Hàn, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ… đã xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
là động lực tăng trưởng, là xương sống của nền kinh tế và xem việc hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ và vừa như là một nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước và họ đã có chính
sách, pháp luật để hỗ trợ các DN này tăng trưởng nhanh, kéo theo sự phát triển của
cả nền kinh tế.
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Phát triển doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch
và Đầu tư giai đoạn 2011-2015, đầu tư của khu vực DNNVV chiếm khoảng 50%
tổng vốn đầu tư toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân; đóng góp 45% GDP và 31% thu
ngân sách Nhà nước. Như vậy, mặc dù chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp và có
những đóng góp lớn đối với nền kinh tế giai đoạn 2011-2015 nhưng những đóng
góp của khu vực DNNVV chưa thực sự tương xứng với tiềm năng khai thác vốn có,
-
Phạm Minh Tuấn (2005), Hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Viện
Quản lý Kinh tế - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
-
Nguyễn Thiện Phong (2008), Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh vùng Đồng bằng sông Cửu
Long, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh.
-
Phạm Quý Đạt (2012), Hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
-
Dương Thị Tuyết Anh (2013), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên
địa bàn thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại
học Đà Nẵng.
-
Nguyễn Trường Sơn (2014), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.
Ngoài ra còn có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, trang thông tin
điện tử, các luận án tiến sĩ, thạc sĩ, các bài tham luận tại hội thảo, hội nghị và các ý
Phân tích tình hình thực hiện hỗ trợ DNNVV về đất đai, tài chính.
-
Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hỗ trợ DNVVV về đất đai, tài
chính từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh.
-
Đưa ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hỗ trợ
DNNVV về đất đai, tài chính.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về hỗ trợ
DNNVV về đất đai và tài chính tại tỉnh Trà Vinh.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Không gian: Các DNNVV trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
Thời gian: Số liệu nghiên cứu DNNVV từ năm 2009 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần chính của luận văn
này được trình bày trong 02 chương với những nội dung cơ bản gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và pháp
luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp
nhỏ và vừa về đất đai, tài chính qua thực tiễn thực hiện ở tỉnh Trà Vinh.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHỆP NHỎ VÀ VỪA
VỀ ĐẤT ĐAI, TÀI CHÍNH
1.1.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việc định nghĩa và xác định tiêu chí DNNVV khác nhau tùy theo từng quốc
gia, khu vực trên thế giới. Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp thường dựa trên
hai nhóm chính, gồm: nhóm tiêu chí định tính và nhóm tiêu chí định lượng.
-
Nhóm tiêu chí định tính được dựa trên những đặc trưng cơ bản của
doanh nghiệp như: cơ cấu quản lý doanh nghiệp đơn giản, không có sự phân chia rõ
về chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng vị trí công việc, trình độ chuyên môn hóa
trong sản xuất kinh doanh còn thấp,… Vì vậy, việc phân loại theo các tiêu chí mang
tính định tính này chỉ thường được dùng làm cơ sở tham khảo trong một số khảo sát
giúp phát triển DNNVV đã cụ thể hóa định nghĩa DNNVV: “DNNVV là cơ sở sản
xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn
đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá
300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương,
trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp
dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói
trên.”
Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát
triển DNNVV (sau đây gọi là Nghị định 56/2009/NĐ-CP) đã định nghĩa và phân
loại về quy mô của doanh nghiệp: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo
quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định
trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm
(tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
6
Quy mô
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Tổng
Số lao
nghiệp và thủy
xuống
đồng trở
người đến
tỷ đồng
200
xuống
200
đến 100 tỷ
người
người
đồng
đến 300
sản
người
II. Công nghiệp
người
đồng
đến 300
người
III. Thương mại
10 người trở
10 tỷ
từ trên 10
từ trên 10
từ trên 50
và dịch vụ
xuống
đồng trở
người đến
tỷ đồng
Qua các quy định nói trên, có thể thấy tiêu chí xác định DNNVV trong pháp
luật Việt Nam luôn dựa trên quy mô vốn hoặc số lao động, nhưng quan niệm về
DNNVV đã thay đổi qua các thời kỳ với xu hướng tăng quy mô vốn và tăng số lao
động.
1.1.2. Những ưu điểm và hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa
a. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có các ưu thế sau:
-
Dễ thành lập, phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn.
DNNVV không yêu cầu nguồn vốn lớn, không đòi hỏi mặt bằng lớn, chi phí
cố định thấp, chỉ cần điều kiện sản xuất, máy móc, trang thiết bị đơn giản, là đã có
thể đăng ký thành lập để sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy nên DNNVV có thể sử
dụng nguồn vốn tự có hoặc vay mượn một ít từ gia đình, bạn bè để phát triển ở hầu
hết các ngành nghề, không giới hạn về mặt địa lý từ khu vực thành thị đến các vùng
nông thôn.
-
DNNVV rất linh hoạt, nhạy bén, dễ thích nghi với sự biến đổi của thị
trường, phù hợp với điều kiện sử dụng các trình độ kỹ thuật khác nhau.
Với ưu thế về vốn đầu tư ít, khả năng thu hồi vốn nhanh, bộ máy quản lý gọn
nhẹ, DNNVV có thể linh hoạt, năng động thích ứng nhanh, dễ dàng thay đổi chiến
lược kinh doanh, chuyển đổi ngành nghề hoặc thu hẹp hoạt động sản xuất – kinh
doanh theo sự biến động của thị trường mà hậu quả gây ra cho bản thân doanh
nghiệp và xã hội không quá lớn. Ngoài ra, do có mối liên hệ tiệm cận, trực tiếp với
thị trường và người tiêu dùng hơn so với các DN lớn nên các DNNVV có thể nhận
biết được “cầu” của thị trường để từ đó cung ứng một lượng hàng hóa, dịch vụ phù
hợp, kịp thời, giá cả hợp lý.
-
Qua thực tế sản xuất kinh doanh, các DNNVV đã có điều kiện học hỏi rất
nhiều kinh nghiệm, tích lũy vốn… để từ đó hoạch định chiến lược phát triển, mở
rộng quy mô hoạt động, và nhiều doanh nghiệp trong số này tăng trưởng tốt, dần
hình thành các DN lớn, tập đoàn kinh tế hùng mạnh.
b. Doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp các hạn chế sau:
- Quy mô nhỏ, năng lực tài chính kém, thiếu khả năng huy động các nguồn
vốn trên thị trường.
Đây được xem là hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNNVV. Do quy mô nhỏ,
nguồn vốn chủ sở hữu ít, DNNVV thường xuyên lâm vào tình trạng thiếu vốn trong
quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là gây hạn chế các chiến lược mở rộng quy
mô hoạt động, áp dụng đổi mới công nghệ...
9
Các tổ chức tín dụng thường e ngại trong việc cấp tín dụng cho nhóm doanh
nghiệp này vì khả năng rủi ro vay, nợ xấu lớn. Các DNNVV cũng khó có khả năng
huy động vốn đầu tư của các nhà đầu tư trên thị trường.
- Cơ sở vật chất, trình độ kỹ thuật, công nghệ thường yếu kém, lạc hậu.
Vì không đủ tiềm lực tài chính nên DNNVV thường tận dụng các mặt bằng,
máy móc, trang thiết bị có sẵn hoặc thuê, mua các dây chuyền sản xuất cũ, lạc hậu.
Tốc độ đổi mới trang thiết bị, công nghệ còn chậm, thiếu đồng bộ là nguyên nhân
khiến nhiều DNNVV vẫn sử dụng đan xen nhiều chủng loại các thiết bị máy móc từ
lạc hậu, trung bình đến tiên tiến, mức độ tương thích giữa chúng không đảm bảo.
Do đó, gây hạn chế hiệu quả vận hành của dây chuyền sản xuất, chất lượng sản
phẩm.
- Nguồn nhân lực, hiệu quả lao động thấp, năng lực quản trị doanh nghiệp
còn yếu kém.
Các DNNVV thường tuyển dụng nguồn lao động tại chỗ, chưa qua đào tạo
đòi hỏi chi phí cao nên có khả năng thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh
nhanh chóng để tồn tại và phát triển mà không cần phải sử dụng biện pháp cắt giảm
lao động. Với đặc điểm phân bố rải rác khắp cả nước nên DNNVV có nhiều thuận
lợi để thu hút một lực lượng lao động đông đảo, đa dạng, rộng khắp trên phạm vi
toàn quốc. Nguồn lao động này không phân biệt về trình độ, tuổi tác, vùng miền,…
Theo đánh giá của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), DNNVV
thu hút, tạo ra 62% việc làm cho người lao động. Vì vậy, DNNVV được công nhận
là một “công cụ, phương tiện” giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất.
b. DNNVV cung cấp cho xã hội khối lượng lớn hàng hóa chất lượng đa dạng về
chủng loại, hình thành mối liên kết với các doanh nghiệp khác, làm tăng hiệu quả và
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Sự ra đời của các DNNVV đã làm cho nền kinh tế trở nên sôi động hơn. Các
DN này không ngừng tìm tòi, sáng tạo để cho ra các sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ
người tiêu dùng. Góp phần hạn chế được sự độc quyền của các DN lớn. Các DNNVV
sẵn sàng tìm kiếm cơ hội ở các thị trường nhỏ, phân khúc mới mà các DN lớn bỏ qua.
Đồng thời, các DNNVV còn đóng vai trò là các vệ tinh cho các DN lớn, thúc
đẩy quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động trong sản xuất, dần hình thành
11
mạng lưới công nghiệp bổ trợ và mạng lưới phân phối sản phẩm. Mối quan hệ liên
kết hỗ trợ nhau trong sản xuất kinh doanh từ cả hai phía này làm tăng hiệu quả hoạt
động của tổng thể các DN trong khối liên kết cũng như cả nền kinh tế.
c. Khai thác, phát huy các tiềm lực kinh tế tại địa phương, góp phần chuyển
dịch cơ cấu nền kinh tế, tạo sự phát triển cân bằng giữa các vùng, đóng góp vào
tăng trưởng GDP.
Theo Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ KH&ĐT), trong giai đoạn 2011 –
2015 có 380.000 DNNVV được thành lập, vượt cao so với mục tiêu là 350.000.
Hiện, các DN này đóng góp khoảng 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách
thiết lập cơ chế pháp lý để bảo vệ, ngăn ngừa và loại bỏ các mối đe dọa, các rủi ro
thị trường khi khởi nghiệp, gia nhập thị trường nhằm tạo sự thông thoáng cho doanh
nghiệp phát triển vững mạnh, thu hút ngày càng nhiều các dự án đầu tư phát triển
kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày
càng sâu rộng hiện nay.
Hỗ trợ DNNVV về đất đai, tài chính là tạo ra các điều kiện thuận lợi, xây
dựng các chính sách ưu đãi phù hợp thuộc từng lĩnh vực đất đai, tài chính trong
tổng thể các chính sách hỗ trợ khác để khuyến khích DNNVV tham gia thị trường,
phát huy nội lực, phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế địa
phương và đất nước.
1.2.2. Sự cần thiết hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính
Có thể nói, bên cạnh các ưu điểm to lớn mà các DNNVV mang lại cho đời
sống kinh tế - xã hội thì các DN nhỏ và tồn tại nhiều hạn chế do xuất phát từ chính
đặc điểm về quy mô nhỏ và vừa của doanh nghiệp. Một trong những vấn đề mà các
DNNVV thường gặp phải và chi phối rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh là
về đất đai và tài chính.
Hiện nay, mới có khoảng hơn 30% DNNVV tiếp cận được các nguồn vốn
tín dụng, số còn lại vẫn gặp khó khăn rất lớn mà nguyên nhân chính là do các tiêu
chuẩn tín dụng của ngân hàng cao quá sức đối với DNNVV. Nếu xây dựng được
chuẩn tín dụng phù hợp hoặc thành lập các quỹ hỗ trợ DNNVV thì sẽ tạo được
thuận lợi rất lớn cho khu vực doanh nghiệp này. Các chính sách thuế, đặc biệt là các
quy định về biểu thuế, cách tính thuế, thủ tục miễn, giảm thuế... còn rất phức tạp,
chưa ổn định, thường xuyên thay đổi trong thời gian ngắn, gây lúng túng cho doanh
nghiệp trong việc thực hiện, gây tâm lý e ngại, không tin tưởng đối với người nộp
thuế, nhất là các DNNVV mới tham gia vào thị trường.
13
Ngoài ra, mặt bằng sản xuất, kinh doanh bao nhiêu năm qua là một trong
Tiến hành cải cách các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai ở các địa
phương theo hướng công khai, minh bạch, tạo tâm lý ổn định cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của DN.
- Hỗ trợ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng
Chính sách hỗ trợ các DN một phần chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng
trong trường hợp các DN này xây dựng kết cấu hạ tầng các KCN, khu kinh tế…
theo quy định pháp luật.
- Hỗ trợ đầu tư hạ tầng cơ sở, mạng lưới giao thông.
Trong trường hợp xét thấy DNNVV thành lập và hoạt động ở các vùng thuộc
danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư hoặc thuộc danh mục lĩnh vực khuyến khích
đầu tư thì nhà nước xem xét hỗ trợ xây dựng hệ thống giao thông, cấp điện, cấp
nước tùy theo từng trường hợp.
b. Về tài chính:
- Chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng
Nguồn vốn được xem là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định mọi
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các DNNVV luôn gặp trở ngại về việc
thiếu hụt vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Sự hỗ trợ của các tổ chức tín dụng
đối với các DNNVV về các gói tín dụng, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, các
chương trình kết nối doanh nghiệp – ngân hàng, nới lỏng điều kiện cho vay vốn
trong giới hạn cho phép sẽ giúp các DNNVV tiếp cận nguồn tín dụng dễ dàng hơn,
đây là một bệ phóng tác động mạnh mẽ đến sự kế hoạch phát triển, thay đổi cơ cấu
công nghệ, mở rộng quy mô... của doanh nghiệp.
-
Chính sách bảo lãnh tín dụng
Nhà nước cũng thể thực hiện các hình thức bảo lãnh tín dụng (bảo lãnh vay
vốn) thông qua các Quỹ BLTD ở trung ương và địa phương để đảm bảo cho các
khoản vay hoặc nghĩa vụ tài chính của DNNVV đối với các ngân hàng thương mại.
khiến nhiều doanh nghiệp đứng trước những cơ hội, vận mệnh cho sự phát triển của
doanh nghiệp của mình họ lại để “tuột khỏi tầm tay” vì không đủ nguồn lực để đổi
mới công nghệ hiện đại, mở rộng quy mô hoạt động.
Việc xây dựng pháp luật hỗ trợ DNNVV về đất đai, tài chính sẽ tác động đến
hoạt động hỗ trợ DNNVV tại Việt Nam được quan tâm, thực hiện một cách thống
nhất, minh bạch, hiệu quả, đúng đối tượng, tránh được việc đầu tư dàn trải, không
16
có chủ đích gây lãng phí công sức, tiền bạc của xã hội. Đây là nền tảng cần thiết để
thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV và nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với các đối thủ khác trong bối cảnh kinh tế hội
nhập quốc tế hiện nay.
1.3.
Cơ sở lý luận của pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai,
tài chính
1.3.1. Khái niệm pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về đất đai, tài chính
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Như vậy, có thể hiểu Pháp luật về hỗ trợ DNNVV là tổng thể quy phạm pháp
luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, có tính xác
định chặt chẽ về mặt hình thức và tính bắt buộc chung nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình tuân thủ và đáp ứng các yêu cầu do pháp luật quy
định về hỗ trợ DNNVV.
Pháp luật hỗ trợ DNNVV trong lĩnh vực đất đai và tài chính là hai chế định
trong tổng thể các quy phạm pháp luật về hỗ trợ DNNVV.
nguồn nhân lực cho DNNVV do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tài chính
ban hành; Quyết định 58/2013/QĐ-TTg Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động
của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV do Thủ tướng Chính phủ ban hành; Quyết
định 601/QĐ-TTg năm 2013 thành lập Quỹ Phát triển DNNVV do Thủ tướng Chính
phủ ban hành; Quyết định 1918/QĐ-TTg năm 2010 về chức năng, nhiệm vụ của
Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV do Thủ tướng Chính phủ ban hành…
Bên cạnh đó, vào năm 2016, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số
35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020
cùng với các chỉ thị, quyết định để triển khai nghị quyết nêu trên, cụ thể: Chỉ thị
26/CT-TTg về triển khai có hiệu quả việc hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; Quyết
định 1239/QĐ-BTC về việc ban hành chương trình hành động của Bộ Tài chính
thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của chính phủ về hỗ trợ và phát
triển doanh nghiệp đến năm 2020…
18