VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
K
PHẠM VĂN TÍN
ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ CHO CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN KHU CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TẬP TRUNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
I.
TS LÊ MAI THANH
(CNTT) nói chung và công nghiệp công nghệ thông tin nói riêng của
Việt Nam đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ so với những ngành kinh
tế khác và được đứng vào nhóm các nước có trình độ và triển vọng
phát triển tiên tiến của thế giới. Rõ ràng lĩnh vực CNTT đang và sẽ là
động lực quan trọng thúc đẩy Việt Nam trong tiến trình đuổi kịp các
nước tiên tiến khác trong khu vực và trên thế giới. Trong giai đoạn
vừa qua, tăng trưởng bình quân của toàn ngành CNTT đạt khoảng
15%/năm, ngành công nghiệp phần mềm còn có tốc độ phát triển cao
hơn, tới 33%/năm [36, tr.3].
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều
chính sách, pháp luật về ưu đãi đầu tư nhằm mục đích là thu hút vốn
đầu tư vào những lĩnh vực, trong đó ưu tiên, khuyến khích và ưu đãi
những ngành sử dụng công nghệ cao phù hợp với chiến lược công
1
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) của Việt Nam.
Thành phố Hà Nội với vai trò là Thủ đô và cũng là trung tâm
chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả nước cũng đã
đưa ra những chính sách ưu đãi đầu tư theo hướng khuyến khích đầu
tư tạo những bước chuyển biến tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô, trong đó đặc biệt quan tâm vấn đề ưu đãi đầu tư
trong lĩnh vực CNTT nói riêng.
Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng bộ Thành phố
Hà Nội nhiệm kỳ 2015-2020 có xác định rõ định hướng trọng tâm
phát triển Thủ đô 5 năm (2015-2020) trong đó có đẩy mạnh phát triển
kinh tế tri thức, đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn với cơ cấu lại kinh
tế Thủ đô bảo đảm mục tiêu phát triển nhanh, bền vững. Phấn đấu đạt
mức tăng trưởng từ 8,5% - 9%. Để đạt được mức tăng trưởng cao đáp
ứng định hướng đề ra, một trong những giải pháp là đẩy mạnh tăng
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài
viết đề cập đến ưu đãi đầu tư nói chung và ưu đãi đầu tư tại các khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế hay ưu đãi đầu tư theo các
lĩnh vực, ngành nghề nói riêng.
- Giáo trình “Luật Đầu tư” của Trường Đại học Luật Hà Nội
(2011), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, đề cập những vấn đề cơ bản
của pháp luật đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, Luật Đầu tư năm 2005;
- Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư nước ngoài với công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. NXB Khoa học xã
hội.
- Nguyễn Thị Diễm Hường (2008), “Pháp luật hiện hành về
ưu đãi đầu tư”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh. Luận văn đã làm rõ các quy định của hệ thống pháp
luật ưu đãi đầu tư của Việt Nam và WTO liên quan đến ưu đãi đầu
tư, có giá trị tham khảo.
3
Các Luận văn của Học viện Khoa học Xã hội liên quan đến
đề tài luận văn này, bao gồm:
- Nguyễn Văn Cảnh (2016), Ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành
phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Luận văn Thạc sỹ Luật học.
- Đỗ Thị Hạnh (2015), “Ưu đãi đầu tư theo pháp luật Việt
Nam, từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng”, Luận văn Thạc sĩ Luật học.
- Đào Thu Hương (2012), Pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu
tư nước ngoài. Luận văn Thạc sỹ Luật học.
Như vậy, dưới góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu
CNTT tập trung Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Thực tế áp dụng các chính sách pháp
luật ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT hoạt động tại khu
CNTT tập trung tại Hà Nội từ năm 2013 đến nay (khi khu CNTT tập
trung đầu tiên của Hà Nội được Bộ Thông tin và Truyền thông công
nhận và đi vào hoạt động).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu triển khai trên cơ sở các quan
điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về chính sách và pháp luật về
ưu đãi đầu tư; sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp
so sánh luật học; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp
thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Những đóng góp về khoa học
- Góp phần làm rõ sự cần thiết và căn cứ hoàn thiện các quy
định của pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT.
5
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn
thiện hệ thống pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp
CNTT.
6.2. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn nêu tổng quan các quy định của pháp luật hiện
hành về ưu đãi đầu tư, ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT.
- Luận văn cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện
hành thì thuật ngữ “ưu đãi đầu tư” chưa có khái niệm thống nhất,
chưa được định nghĩa hay giải thích cụ thể ở một vănn bản nào mà
chủ yếu quy định về nội dung chính sách ưu đãi đầu tư [18, tr.6].
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “ưu đãi” theo nghĩa chung nhất
là “chú trọng, dành cho những quyền lợi, điều kiện tốt hơn những đối
tượng khác” [39, tr.1732]. Theo Từ điển tiếng Việt, “đầu tư” là việc
“bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán
hiệu quả kinh tế, xã hội” [22, tr.301].
Luật Đầu tư số 67 năm 2014 được ban hành ngày 26/11/2014
không giải thích về “đầu tư” mà nêu khái niệm “dự án đầu tư” tại
khoản 2 Điều 3 như sau: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn
trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ
thể, trong khoảng thời gian xác định”. Khoản 5 Điều 3 giải thích
thuật ngữ “đầu tư kinh doanh” như sau: “ Đầu tư kinh doanh là việc
nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông
qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần,
phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng
hoặc thực hiện dự án đầu tư”.
7
Tuy vậy, tổng quan hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam
hiện nay chưa định nghĩa thuật ngữ “ưu đãi đầu tư” một cách thống
nhất, mà chỉ dừng lại ở việc quy định về nội dung chính sách ưu đãi
đầu tư. Theo đó, thuật ngữ “ưu đãi đầu tư” được sử dụng trong văn
bản pháp luật Việt Nam hiện nay có thể được hiểu là những lợi ích
vật chất có thể tính toán, xác định được nhà đầu tư hay doanh nghiệp
được hưởng khi mà họ thỏa mãn đủ các điều kiện nhất định; ưu đãi
đầu tư là những lợi thế kinh tế có thể lượng hóa được mà Chính phủ
CNTT. Để hiểu rõ những nội dung ưu đãi mà Nhà nước dành cho nhà
đầu tư phải nghiên cứu nhiều văn bản pháp luật như các quy định ưu
đãi về thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, miễn hay giảm tiền thuê
đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…
và các văn bản hướng dẫn thi hành khác.
Như vậy, ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT theo
pháp luật Việt Nam là việc nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách
nhằm khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực CNTT bằng hệ thống
những quy phạm pháp luật, tạo những điều kiện thuận lợi, những ưu
đãi dành cho doanh nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài
nước vào lĩnh vực CNTT và trên cơ sở đó tạo ra lợi thế so sánh với
các lĩnh vực khác, với các quốc gia khác.
1.1.2. Vai trò của ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp
công nghệ thông tin
Ưu đãi đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển
kinh tế của quốc gia trong việc thu hút vốn đầu tư, tạo điều kiện cho
nhà nước chủ động cơ cấu lại nền kinh tế thông qua việc ban hành và
áp dụng các biện pháp ưu đãi đầu tư, tạo sự đồng bộ trong hệ thống
pháp luật đầu tư Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế[18,tr.8].
Pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT sẽ tạo cú
hích mạnh mẽ đến cộng đồng các nhà đầu tư trong và ngoài nước,
9
nhằm phát triển ngành công nghiệp CNTT thành một ngành kinh tế
mũi nhọn ở Việt Nam theo định hướng của Đảng và nhà nước.
Thứ nhất, thực hiện ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp
công nghệ thông tin theo pháp luật Việt Nam góp phần đẩy mạnh thu
hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực công nghiệp công
dục, giao thông vận tải, các sản phẩm nội dung số, phát thanh, truyền
hình, công nghiệp giải trí…
1.1.3. Mối quan hệ giữa ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư đối với
các doanh nghiệp công nghệ thông tin và các doanh nghiệp khác
Quá trình nghiên cứu các biện pháp ưu đãi đầu tư cho thấy có
các biện pháp ưu đãi đầu tư như: (1) Các ưu đãi về tài chính - chủ
yếu là ưu đãi về thuế TNDN, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, khấu
hao tài sản; (2) Các ưu đãi liên quan đến miễn, giảm tiền thuê đất,
tiền sử dụng đất...
Như vậy, ưu đãi đầu tư được hiểu là nhà nước dành những
quyền lợi, điều kiện cho nhà đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề hoặc
ở khu vực địa bàn nhất định tốt hơn những đối tượng khác. Ưu đãi
đầu tư chú trọng về quyền lợi vật chất chủ yếu là lĩnh vực thuế (thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế XNK) và phí
giao (đất, cho thuê đất) cho nhà đầu tư.
Các biện pháp hỗ trợ đầu tư được quy định ở mục 2, Chương
III Luật Đầu tư năm 2014 như hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án; hỗ trợ
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiếp cận
mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất ra khỏi
nội thành, nội thị; hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ;
hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; hỗ trợ nghiên cứu và
phát triển là giúp thêm cho tất cả nhà đầu tư có dự án đầu tư, hỗ trợ
tạo môi trường thuận lợi để nhà đầu tư triển khai dự án có hiệu quả
[18, tr 12].
11
ngắn khoảng thời gian chờ đợi kéo dài cho các chủ đầu tư. Cải tiến và
tạo cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa chính quyền các cấp trong việc
triển khai các thủ tục giao đất, cho thuê đất để các doanh nghiệp thực
hiện dự án. Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, cấp thoát nước, thông
tin liên lạc, viễn thông trong có tác động tích cực đến sự phát triển
của doanh nghiệp công nghệ thông tin trong các khu CNTT tập trung.
1.2.1.3. Các ưu đãi về thuế
* Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong thời gian qua, hệ thống thuế Việt Nam đã được cải
cách tích cực. Các doanh nghiệp công nghệ thông tin được nhà nước
ưu đãi hoặc miễn giảm các sắc thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế xuất nhập khẩu…
* Đối với thuế xuất,thuế nhập khẩu
Sản phẩm của doanh nghiệp CNTT ngoài việc được sử dụng
trong nội địa, còn được các doanh nghiệp xuất khẩu ra nước ngoài
thu về ngoại tệ cho đất nước. Nhà nước đã có những ưu đãi nhất định
trong lĩnh vực thu thuế xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp CNTT
trong khu CNTT tập trung như miễn thuế nhập khẩu trang thiết bị đối
với những sản phẩm chưa sản xuất tại Việt Nam khi thành lập doanh
nghiệp; các sản phẩm phầm mềm xuất khẩu được hưởng thuế xuất
khẩu là 0%.
1.2.1.4. Các ưu đãi khác
Các doanh nghiệp CNTT trong khu CNTT tập trung còn
được ưu đãi về việc thực hiện các thủ tục hành chính và thủ tục hải
quan trong quá trình thành lập và hoạt động và thuế thu nhập cá nhân
của của người làm trong lĩnh vực CNTT.
13
14
quyết định chủ trương đầu tư; dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử
dụng từ 500 lao động trở lên; doanh nghiệp công nghệ cao, doanh
nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ [31].
1.3.2.Về ưu đãi tài chính đối với doanh nghiệp công nghệ
thông tin
Nhà nước đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
(TNDN) số 14/2008/QH12 ngày 03/06/2008. Trong đó quy định việc ưu
đãi thuế TNDN tại chương III, gồm các điều từ Điều 13 đến Điều 18.
Chính phủ cũng đã banh hành nghị định số 218/2013/NĐ-CP
ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế
thu nhập doanh nghiệp. Ưu đãi thuế TNDN được quy định tại
Chương IV Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính
phủ. Trong đó có doanh nghiệp CNTT như đã nêu ở mục 1.2. của
luận văn này.
1.3.3. Địa bàn ưu đãi đầu tư
Được quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp năm 2008 như sau: Địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội
đặc biệt khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Như vậy,
doanh nghiệp CNTT chỉ được miễn, giảm thuế TNDN, thuế xuất
nhập khẩu khi hoạt động trong khu CNTT tập trung hoặc hoạt động ở
các khu vực địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo quy
định của Chính phủ quy định về phân loại đô thị.
1.3.4. Ưu đãi về đất đai
Khoản 1 Điều 22 Nghị định 154/2013/NĐ-CP quy định nhà
đầu tư “được lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất,
08/11/2013 của Chính phủ quy định: “Khu công nghệ thông tin tập
trung là khu tập trung các hoạt động nghiên cứu - phát triển, đào tạo,
sản xuất và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin, cung
16
cấp hạ tầng, cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin cho các tổ chức,
doang nghiệp và các hoạt động khác liên quan đến công nghệ thông
tin” [5, tr, 1].
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định ưu đãi về tài chính
đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu công nghệ
thông tin tập trung Hà Nội
UBND thành phố Hà Nội căn cứ các quy định hiện hành của
hệ thống pháp luật đã có những hỗ trợ, ưu đãi cho tổ chức, doanh
nghiệp hoạt động tại khu CNTT tập trung, trong đó có các quy định
về ưu đãi tài chính.
2.2.1. Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp
Từ năm 2008, việc ban hành Luật thuế Thu nhập doanh
nghiệp số 14/2008/QH 12, có hiệu lực (01/01/2009) và Nghị định
124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN 2008, ưu đãi
thuế TNDN đối với doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và
cả doanh nghiệp sản xuất đầu tư trong khu công nghiệp đều bị bãi bỏ.
Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ
quy định doanh nghiệp được hưởng ưu đãi đầu tư tuỳ theo lĩnh vực
đầu tư. Điều 15 Nghị đinh 218/2013/NĐ-CP quy định ưu đãi đầu tư
được căn cứ theo lĩnh vực đầu tư, thống nhất với quy định của Luật
Đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cơ quan quản
lý nhà nước trong việc xác định thuế TNDN. Tùy từng lĩnh vực đầu
và khuyến khích đầu tư của Nhà nước đối với các đối tượng sử dụng
đất cần ưu đãi theo pháp luật về đầu tư.
Các quy định về ưu đãi đầu tư của Luật đất đai năm 2013
được quy định tại Điều 110: miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê
đất. Đối với doanh nghiệp CNTT hoạt động trong khu CNTT tập
trung được quy định miễn, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được thực
hiện tại Khoản 1 Điểm a: “Sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh
18
doanh thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư theo
quy định của pháp luật về đầu tư, trừ dự án đầu tư xây dựng nhà ở
thương mại” [27].
2.4. Thực trạng áp dụng một số biện pháp ưu đãi khác
đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu công nghệ
thông tin tập trung Hà Nội
2.4.1. Về khấu hao tài sản
Quy định về trích khấu hao tài sản cố định được hướng dẫn
chi tiết tại Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/03/2013 của Bộ
Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài
sản cố định. Theo đó: “Doanh nghiệp tự quyết định phương pháp
trích khấu hao, thời gian trích khấu hao tài sản cố định theo quy định
tại Thông tư này và thông báo với cơ quan thuế trực tiếp quản lý
trước khi bắt đầu thực hiện” [Điều 13, Khoản 3].
2.4.2. Ưu đãi thuế thu nhập cá nhân
Đối với thuế thu nhập cá nhân của người làm trong lĩnh vực
CNTT,
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày
thì phải được hoạt động trong môi trường pháp lý thuận lợi như nhau.
3.1.2.Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp
công nghệ thông tin trong các khu công nghệ thông tin tập trung
đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
21
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế: Hoàn thiện pháp luật về ưu
đãi đầu tư nói chung và ưu đãi đầu tư trong khu CNTT tập trung nói
riêng không tách rời hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư nói
chung.
Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền
thông chủ trì soạn thảo Nghị định nhằm hướng dẫn thi hành, cụ thể
hóa các văn bản luật về đầu tư CNTT để thay thế Nghị định
154/2013/NĐ-CP.
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật về ưu đãi
đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu công
nghệ thông tin tập trung Hà Nội
Nhìn chung, hệ thống pháp luật về ưu đãi đầu tư của Việt
Nam từ Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật đất
đai… đều mới được ban hành trong giai đoạn từ năm 2013 trở lại đây
khi Việt Nam đã hội nhập sâu vào thương mại toàn cầu nên đã cập
nhật kịp thời “luật chơi thương mại” chung trên thế giới. Các vấn đề
về ưu đãi đầu tư như ưu đãi theo lĩnh vực, ngành nghề, ưu đãi theo
vùng miền…đã phần nào đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư và định
hướng phát triển của đất nước
3.2.1. Kiến nghị cụ thể hoàn thiện các quy định pháp luật
về ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu
23