Quy chế pháp lý về ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần việt nam - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ HỮU TRÍ

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ HỮU TRÍ

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa khọc: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị

HÀ NỘI - 2017


kiểm soát và các thiết chế khác của công ty cổ phần ................................. 7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm ....................................................................... 7
1.1.2. Mối liên hệ ............................................................................................ 8
1.2. Lý luận về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công
ty cổ phần ..................................................................................................... 11
1.2.1. Khái niệm đặc điểm quy chế pháp lý về Ban kiểm soát ................ 11


1.2.2. Các yêu cầu đặt ra đối với quy chế pháp lý về Ban kiểm soát
trong quản trị công ty cổ phần................................................................... 13
1.2.3. Nội dung quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công
ty cổ phần ..................................................................................................... 14
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM
SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM........... 17
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của quy chế pháp lý về Ban kiểm
soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam ......................................... 17
2.2. Thành lập Ban kiểm soát ..................................................................... 21
2.3. Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát ............................................... 34
2.4. Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với các thiết chế khác trong công
ty cổ phần ..................................................................................................... 45
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY
CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG
TY CỔ PHẦN VIỆT NAM ...................................................................... 52
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong
quản trị công ty cổ phần Việt Nam............................................................ 52
3.2. Giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản
trị công ty cổ phần Việt Nam ..................................................................... 54
KẾT LUẬN……………………….…………………………………….…64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………...67


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, chế định liên quan đến quy chế pháp lý về Ban kiểm
soát trong quản trị công ty cổ phần cũng như công ty cổ phần trong những
năm gần đây, được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đã có
những công trình đề cập đến khía cạnh khác nhau về vấn đề này. Có thể kể
đến một số công trình như:
- “Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần”,
Nguyễn Thị Lan Hương, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011)
246 – 251 đề cấp đến một số hạn chế, tồn tại của Ban kiếm soát trong công
ty cổ phần, từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm củng cố vị trí độc lập
của Ban kiểm soát trong kiểm tra, giám sát.
- “Ban Kiểm soát trong quản trị nội bộ công ty cổ phần theo pháp
luật ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Trần Thành Long (2012)
đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về địa vị pháp lý của Ban kiểm
soát trong cơ cấu quản trị nội bộ của công ty cổ phần. Phân tích và đánh giá
thực trạng các quy định pháp luật về Ban kiểm soát trong pháp luật về công
ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay các quy định pháp luật hiện hành liên quan
tới tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát tại Việt nam. Nghiên cứu so
sánh các mô hình hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, các
thông lệ quản trị hiện đại có liên quan đến Ban kiểm soát trong công ty cổ
phần. Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật về Ban kiểm soát trong quản trị nội bộ Công ty cổ phần.
Ngoài ra có thể kể đến các công trình khác như: Nguyễn Đình Cung
“Hoàn thiện chế độ quản trị doanh nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
ở Việt Nam” Tạp chí quản lý kinh tế số 21/2008, tr 42 “; Trần Thanh Tùng,
Vai trò của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, Thời báo kinh tế Sài Gòn,

2



4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu về các quy định pháp luật về
quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần theo Luật
Doanh nghiệp 2014. Từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện
các quy định về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ
phần nói riêng và của Ban kiểm soát nói chung, nhằm đảm bảo việc hoạt
động của Ban kiểm soát cũng như công ty cổ phần đạt hiệu quả tốt nhất.
Ngoài ra, tác giả tập trung nghiên cứu một số công trình khoa học
liên quan đến quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ
phần; các bài viết, sách, tạp chí và các tài liệu khác liên quan đến nội dung
nghiên cứu của đề tài và quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong một số
công ty cổ phần hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đã dựa trên cơ sở phương pháp luật của chủ nghĩa Mác –
Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong mối tương quan
với tình hính kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Trong quá trình nghiên
cứu, tìm hiểu, luận văn còn dựa trên cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh; quan
điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp
phân tích để phân tích các quy định về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát
trong quản trị công ty cổ phần để chỉ rõ, lý giải về nội dung của các quy
định đó. Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm tổng hợp,
kế thừa lại những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đế n quy

4


chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần từ trước đến
nay trên cơ sở sự kế thừa có cho ̣n lo ̣ c. Trên cơ sở các phân tích , bình luận

trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam
Chƣơng 2: Thực trạng quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản
trị công ty cổ phần Việt Nam
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về
Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam.

6


Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ
VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN
VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc điểm của Ban kiểm soát, mối liên hệ giữa Ban
kiểm soát và các thiết chế khác của công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
Quản trị công ty nói chung và quản trị công ty cổ phần nói riêng có
vai trò quan trọng đối với công ty. Việc quản trị công ty tốt sẽ góp phần
đảm bảo sự ổn định hoạt động, nâng cao hiệu quả thị trường, góp phần
quan trọng phát triển công ty. Trong quản trị công ty cổ phần, việc quản trị
tốt mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, cổ
đông và các bên có quyền lợi liên quan khác giúp cho tổ chức bộ máy của
công ty chặt chẽ, hoạt động hiệu quả từ đó nâng cao năng suất, hiệu quả thị
trường. Trong mối quan hệ đó, Ban kiểm soát là một trong những bộ phận
quan trọng trong công ty cổ phần. Vậy Ban kiểm soát là gì?
Có nhiều quan điểm khác nhau về Ban kiểm soát: Có quan điểm cho
rằng: Ban kiểm soát trong công ty nói chung và trong công ty cổ phần nói
riêng được hiểu là một cơ quan quản trị nội bộ trong công ty [9].
Quan điểm khác cho rằng: Ban Kiểm soát (Board of Supervisors) của
một công ty có nhiệm vụ giống như các cơ quan tư pháp trong mô hình tam
quyền phân lập nhằm giúp các cổ đông kiểm soát hoạt động quản trị và

cổ đông của công ty.
- Thứ nhất, trong mối liên hệ với Đại hội đồng cổ đông:
Trong công ty cổ phần, có thể nói, Ban kiểm soát là cơ quan trực
thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra nhằm giúp
Đại hội đồng cổ đông trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy

8


định của Nhà nước, quy định nội bộ, Điều lệ và Nghị quyết, quyết định của
Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị.
Như vậy, trong mối quan hệ với Đại hội đồng cổ đông, Ban kiểm soát
được khai sinh ra bởi Đại hội đồng cổ đông. Do vậy, Ban kiểm soát chịu
trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong việc thực hiện các nhiệm vụ
được giao. Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Đại hội đồng cổ đông là
mối quan hệ cấp trên – cấp dưới hoặc đơn vị - đơn vị chủ quản. Ban kiểm
soát do Đại hội đồng cổ đông thành lập và kiểm soát, đồng thời Ban kiểm
soát có trách nhiệm báo cáo và chịu trách nhiệm báo cáo trước Đại hội
đồng cổ đông kết quả thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền.
- Thứ hai, trong mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Hội đồng quản
trị, Ban giám đốc:
Như đã nêu ở trên, do Ban kiểm soát được “khai sinh” bởi Đại hội
đồng cổ đông nên về mặt địa vị pháp lý, Ban kiểm soát chịu sự quản lý và
có trách nhiệm với Đại hội đồng cổ đông. Do vậy, Ban kiểm soát làm việc
theo nguyên tắc bình đẳng và độc lập với Hội đồng quản trị và Ban giám
đốc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Nói cách khác, Ban
kiểm soát được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tuân thủ quy định của
pháp luật, Điều lệ và các quy định nội bộ của công ty cổ phần. Ban kiểm
soát làm việc theo chế độ tập thể kết hợp với chế độ trách nhiệm cá nhân về
phạm vi công việc được phân công của từng thành viên Ban kiểm soát.

yêu cầu cung cấp tài liệu, thông tin liên quan, cần phải làm việc trực tiếp
với các đối tượng liên quan nên việc gây “ảnh hưởng” tới công việc, kế
hoạch làm việc của Hội đồng quản trị/ Ban giám đốc là điều không thể
tránh khỏi. Tuy nhiên, “mức độ cản trở” tác giả muốn nói ở đây là ở mức
độ khác và cao hơn "ảnh hưởng. Tức việc làm của Ban kiểm soát sẽ gây
cản trở việc thực hiện công việc của bộ phận liên quan trong khi thực hiện
nhiệm vụ của mình. Chẳng hạn như: Trong trường hợp Ban giám đốc đang

10


có kế hoạch làm việc với đối tác để ký kết hợp đồng liên kết, hợp tác với
nhau. Tuy nhiên, mặc dù Ban kiểm soát đã biết trước lịch làm việc nhưng
vẫn yêu cầu Ban giám đốc làm việc và cung cấp tài liệu, thông tin liên quan
trong thời gian đó. Đây chính là việc gây cản trở đối với Ban giám đốc của
công ty trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Thứ ba, trong mối quan hệ với các cổ đông:
Các thành viên Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu và đại
diện cho quyền lợi của cổ đông trong quá trình thực hiện trách nhiệm và
nhiệm vụ của mình, do vậy, Ban kiểm soát phải thực hiện trách nhiệm và
nhiệm vụ của mình, Ban kiểm soát phải thực hiện và giám sát việc tuân thủ,
chấp hành các quy định của pháp luật, Điều lệ và Nghị quyết của Đại hội
đồng cổ đông. Đồng thời Ban kiểm soát chịu sự giám sát của Đại hội đồng
cổ đông, của các cổ đông trong công ty theo sự phân công.
Ban kiểm soát có trách nhiệm bảo mật thông tin, xem xét, đánh giá
tính hợp lý, hợp pháp, trung thực, khách quan trên cơ sở các tài liệu đã
được kiểm tra và qua việc nắm bắt thông tin. Ban kiểm soát có trách nhiệm
báo cáo các cổ đông thông qua Đại hội đồng cổ đông một cách trung thực,
chính xác về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Bên cạnh đó, Ban kiểm soát có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét giải

công ty, cụ thể hơn như việc giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc
trong việc quản lý và điều hành công ty; giám sát việc chấp hành nghị
quyết của Đại hội đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị và kiểm tra các hoạt
động kinh doanh và tài chính của công ty và các nội dung khác theo quy
định của pháp luật và Điều lệ công ty.
- Chủ thể có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ là Ban kiểm soát – tổ
chức do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, hoạt động theo quy định của pháp

12


luật và Điều lệ công ty. Ban kiểm soát gồm có Trưởng ban và các thành
viên là người đáp ứng các tiêu chuẩn do pháp luật và Điều lệ công ty quy
định. Ban kiểm soát được độc lập đánh giá, kết luận, kiến nghị, đề nghị
trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát.
1.2.2. Các yêu cầu đặt ra đối với quy chế pháp lý về Ban kiểm soát
trong quản trị công ty cổ phần
Quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần là
tổng thể các quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát được nhà nước quy định
trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
và các quy định nội bộ công ty ban hành. Nói cách khác, quy chế pháp lý
về Ban kiểm soát là những quy định nhằm xác lập địa vị pháp lý của Ban
kiểm soát trong quá trình hoạt động chức năng kiểm tra, giám sát của Ban
kiểm soát.
Do vậy, để đảm bảo tính hợp pháp, quy chế pháp lý về Ban kiểm soát
trong quản trị công ty cổ phần phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Quy chế pháp lý về Ban kiểm soát do pháp luật nhà nước quy định,
đại diện chủ sở hữu công ty quy định. Như vậy, chủ thể có thẩm quyền ban
hành quy chế pháp lý về Ban kiểm soát là Nhà nước và công ty thành lập ra
Ban kiểm soát. Những quy định về quy chế pháp lý do Nhà nước ban hành

Ban kiểm soát trong công ty cổ phần. Theo đó, nội dung quy chế pháp lý về
Ban kiểm soát bao gồm:
- Thành lập Ban kiểm soát trong công ty cổ phần: gồm các nội dung
liên quan đến điều kiện thành lập; tiêu chuẩn, số lượng thành viên Ban
kiểm soát; đề cử và bầu Ban kiểm soát; miễn nhiệm, bãi nhiệm Kiểm soát
viên và các nội dung khác liên quan.
- Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát: gồm các quyền và nghĩa vụ

14


do pháp luật quy định và do Điều lệ công ty quy định. Một số quyền hạn và
nghĩa vụ cơ bản như:
+ Kiểm soát hoạt động của công ty thông qua tình hình thực hiện các
quy chế của pháp luật và công ty: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính
trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành điều hành hoạt
động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo
tài chính.
+ Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc
quản lý, điều hành hoạt động của Công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo
quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm
cổ đông.
+ Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ
đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra và phải báo cáo giải trình về những
vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ
đông có yêu cầu.
+ Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần: Ban kiểm soát có quyền
đưa ra các đề xuất, kiến nghị lên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ
đông nhằm khắc phục, sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý,
điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần và thực tiễn áp
dụng tại Việt Nam.

16


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM
SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của quy chế pháp lý về Ban kiểm
soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam
2.1.1. Giai đoạn thứ nhất
Kể từ khi Việt Nam bị Pháp chiếm đóng, trên đất nước Việt Nam đã
xuất hiện một số công ty cổ phần của người Pháp. Kể từ đó, pháp luật Pháp
đã du nhập dần dần vào Việt Nam. Việc du nhập các hình thức công ty của
Pháp vào Việt Nam thời kỳ này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu khai thác
khoảng sản, đường sắt và nhu cầu sinh hoạt của người Pháp ở Đông
Dương. Lúc này qui mô của các công ty cổ phần nhỏ, thiếu bóng dáng của
các công ty đại chúng. Do đó vấn đề quản trị công ty cổ phần không trở
thành vấn đề quá quan trọng của luật lệ về công ty. Có thể nói mô hình
quản trị công ty cổ phần hoàn toàn theo truyền thống của Pháp.
Năm 1972 chính quyền Sài Gòn cũ đã ban hành Bộ luật Thương mại
mà trong đó có các hình thức công ty. Bộ luật này có sự kế thừa các luật lệ
về công ty trước đó dưới thời Pháp thuộc. Về nguyên tắc lớn, bộ luật này
nhấn mạnh tới nghĩa vụ và trách nhiệm của các thành viên hội đồng quản
trị. Tại Điều thứ 306 của bộ luật này có qui định kiểm soát các giao dịch có
khả năng tư lợi bằng cách không cho phép công ty ký kết hợp đồng với bất
kỳ thành viên hội đồng quản trị nào của mình mà không được phép của hội
đồng quản trị. Như vậy, mặc dù pháp luật trong giai đoạn này mặc dù
không có quy định cụ thể về Ban kiểm soát, tuy nhiên cũng đã có quy định
liên quan đến việc kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi.

vai trò bị động. Họ nhận các báo cáo do Giám đốc công ty chuẩn bị, xem
xét, đánh giá báo cáo đó rồi đệ trình ý kiến của mình lên Hội đồng quản trị.

18


2.2.3. Giai đoạn thứ ba
Theo Luật Doanh nghiệp 1999, Ban kiểm soát là chế định quản lý bắt
buộc trong công ty cổ phần có trên 11 cổ đông. Ban kiểm soát có từ ba đến
năm thành viên, trong đó ít nhất phải có một thành viên có chuyên môn về
kế toán. Một cổ đông được bầu làm Trưởng ban Kiểm soát.
Ban kiểm soát có các quyền và nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động
kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính;
- Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của công ty; kiểm tra từng
vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi
xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, theo yêu
cầu của cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật này;
- Thường xuyên thông báo với Hội đồng quản trị về kết quả hoạt
động; tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo,
kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông;
- Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp
pháp của việc ghi chép, lưu giữ chứng từ và lập sổ kế toán, báo cáo tài
chính, các báo cáo khác của công ty; tính trung thực, hợp pháp trong quản
lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty;
- Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức quản
lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty;
Nhiệm kỳ Ban kiểm soát, chế độ làm việc và thù lao cho thành viên
Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông
quyết định. Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về


20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status