Quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp qua công tác thanh tra (tt) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TĂNG THỊ THIỆM

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP QUA CÔNG TÁC THANH TRA

Chuyên ngành
Mã số

Quản lý kinh tế
62.34.04.10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS Nguyễn Văn Thạo
2. PGS. TS Đoàn Hương Quỳnh

HÀ NỘI - 2017



PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở Việt Nam hiện nay đang nắm giữ những tài sản
chiến lược quan trọng nhất của đất nước có lợi thế kinh doanh so với các thành phần
kinh tế khác.Tuy nhiên, kết quả hoạt động của DNNN chưa thực sự tương xứng với
tiềm năng, lợi thế và chi phí đầu tư, chưa đáp ứng được sự kỳ vọng của người dân và
nhà nước. Những thua lỗ, thất thoát vốn và tài sản nhà nước của các doanh nghiệp, các

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian: Các doanh nghiệp có vốn nhà nước, trong đó
tập trung tại các Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty, các ngân hàng thương mại có vốn
nhà nước chiếm tỷ lệ chi phối được Thanh tra Chính phủ thanh tra trong thời gian qua.
+ Phạm vi về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý và sử dụng
vốn, nguồn số liệu thứ cấp giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016. Giải pháp đề xuất cho
đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án được xử lý trên cơ sở phương pháp luận lịch sử và lôgíc.
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp
- Phương pháp mô hình hóa để đánh giá xu hướng phát triển của việc quản lý, sử
dụng vốn nhà nước trong thời gian tới.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận về quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn nhà
nước tại doanh nghiệp. Tìm hiểu kinh nghiệm mô hình quản lý và sử dụng vốn nhà
nước tại các doanh nghiệp trên thế giới, tham khảo áp dụng tại Việt nam. Góp phần
phân tích đánh giá đúng tình hình (kết quả và hạn chế) việc quản lý và sử dụng vốn nhà
nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam những năm vừa qua, nguyên nhân của tình hình này,
nhất là của những hạn chế, yếu kém, dưới lăng kính của các kết luận thanh tra. Đề xuất
một số phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước
tại doanh nghiệp ở Việt Nam trong những năm tới, đáp ứng một trong những yêu cầu
cấp thiết của nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, cơ
chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, tình hình sử dụng vốn nhà nước tại các
2


doanh nghiệp.



reform in China” với nội dung chính là tổng kết công cuộc cải cách DNNN tại Trung
Quốc, kể từ những năm cuối thế kỷ 19 và đề xuất giải pháp quản lý vốn nhà nước tại
doanh nghiệp Trung Quốc. Theo tác giả, có tám khó khăn chủ yếu trong cải cách
DNNN.Về phương thức quản lý vốn nhà nước trong các DNNN, một trong các giải
pháp quan trọng tác giả đưa ra là Chính phủ cần phải thay đổi chức năng chính của
mình, chuyển từ chức năng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, phân bổ các đầu vào và
các nguồn quỹ, ban hành các hướng dẫn cho các DNNN sang chức năng quản lí các
công việc công cộng. Chính phủ vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ sở hữu hoặc vai trò của
cổ đông trong một số DNNN trong khi tránh sự can thiệp không mong muốn đối với
quản lí của doanh nghiệp.
- Nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về quản trị DNNN ở Việt Nam
cũng có những đóng góp quan trọng để chúng ta tham khảo. Trong đó, nổi bật là: Tài
liệu Hội thảo “Vietnam: Retaining Stability, Enhancing the Competitive Edge, and
Reaping the Growth Potential - Việt Nam giữ vững sự ổn định, tăng cường lợi thế cạnh
tranh và gặt hái tiềm năng tăng trưởng” được thực hiện bởi Quỹ tiền tệ thế giới và
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức vào ngày 18/4/2013 tại Hà Nội. Phần 4 của
Hội thảo có tiêu đề “Reform of SOEs in Viet Nam - Cải cách DNNN ở Việt Nam”,
người trình bày Thornton Matheson. Nội dung tài liệu đánh giá cao thành tựu của Việt
Nam trên con đường đổi mới, tự do hóa kinh tế để trở thành một thị trường mới nổi
trong đó có cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước. Bài tham luận đưa ra một số khuyến
nghị để cải cách DNNN như: Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm, định lượng rủi
ro tài chính từ việc tái cơ cấu DNNN, tạo sân chơi bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp
tư nhân, chấm dứt tài trợ tín dụng cho DNNN, yêu cầu các DNNN có lợi nhuận cao
phải trả cổ tức cho nhà nước, tập trung vào ngành công nghiệp mà nhà nước chi phối,
cải cách mua sắm đầu tư công, quảng bá tái cơ cấu DNNN có hiệu quả, tăng cường
giám sát của chính phủ, nâng cao hiệu lực hiệu quả của công tác kiếm toán, kế toán, cải
thiện công cụ phá sản doanh nghiệp. Việc cổ phần hóa các DNNN có thể làm cải thiện
thị trường chứng khoán Việt Nam.

nghiệp như: Đề tài “Hệ thống hoá và đánh giá hệ thống văn bản pháp luật hiện hành
về vấn đề sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào kinh doanh” (năm 2006); Đề tài nghiên
cứu “Cơ chế chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá”
(năm 2010); Đề tài nghiên cứu“Cải cách phương thức quản lý, giám sát phần vốn nhà
nước tại doanh nghiệp” (năm 2009).…Các công trình khuyến nghị một số giải pháp
nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn nhà nước ở nước ta.
Các tác giả đưa ra những vấn đề lý thuyết và thực tiễn tại Việt Nam về quản lý
vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, nghiên cứu các mô hình quản lý vốn được áp
dụng trên thế giới và có thể làm tham khảo cho Việt Nam, đánh giá thực trạng quản lý
vốn nhà nước tại các DNNN, khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt
động này.
Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu khoa học về vai trò của hoạt động
thanh tra quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Điển hình là các công trình: Đề tài “Thanh tra cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
7


nước - Thực trạng và những bài học kinh nghiệm” của tác giả Lê Hồng Lĩnh; Đề tài
"Hoạt động thanh tra doanh nghiệp nhà nước của Thanh tra Chính phủ - thực trạng và
giải pháp" của tác giả Phạm Đăng Dũng; Đề tài “Thanh tra việc quản lý, sử dụng tài
sản nhà nước từ thực tiễn hoạt động của Thanh tra Chính phủ thời gian qua” (2016)
của tác giả Đậu Thị Hiền.
Các tác giả đưa ra một số vấn đề chung về hoạt động thanh tra tài sản, tài chính
doanh nghiệp, đánh giá thực trạng về hiệu lực, hiệu quả hoạt động này trong thời gian
vừa qua. Qua đó, phần lớn các tác giả đều đánh giá hoạt động này mặc dù góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhưng còn rất nhiều hạn chế cần khắc
phục. Với mỗi công trình, trên các khía cạnh nghiên cứu, các tác giả đưa ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh tra tài chính doanh nghiệp nhà nước.
1.3. Đánh giá kết quả nghiên cứu đã đạt được và những vấn đề cần phải tiếp
tục nghiên cứu

thẳng vào những vấn đề yếu kém về tình hình quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại
doanh nghiệp. Như vậy, nghiên cứu về quản lý và sử dụng vốn của nhà nước đầu tư tại
doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty lớn dưới góc nhìn cả ở
tầm vĩ mô và vi mô còn hạn chế, đặc biệt là việc sử dụng vốn được đánh giá qua thanh
tra chấp hành chính sách pháp luật của doanh nghiệp. Luận án có mục tiêu nghiên cứu
để khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu này.
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VNN
TẠI DOANH NGHIỆP
2.1. Tổng quan về doanh nghiệp có vốn nhà nước
2.1.1. Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; chủ sở hữu của những cổ phần đó là cổ đông.
* Công ty cổ phần có vốn của nhà nước: là công ty cổ phần, trong đó có một
hoặc nhiều chủ sở hữu là nhà nước, các chủ sở hữu khác là các thể nhân, pháp nhân
ngoài nhà nước.
2.1.2. Công ty trách nhiệm hữu hạn: là loại hình công ty đối vốn, có tư cách
pháp nhân, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp (trách nhiệm hữu hạn).
2.1.3. Doanh nghiệp nhà nước
Theo quan điểm chung nhất, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà
9


nước nắm quyền chi phối về vốn, có quyền quyết định đối với những vấn đề quan trọng
của doanh nghiệp như: chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, phân phối và hưởng thụ
kết quả.
2.2. Vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
2.2.1. Khái niệm vốn kinh doanh
Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản đem vào hoạt động sản xuất kinh doanh

luật và chủ trương của Đảng và nhà nước. Để đánh giá tính hiệu lực, người ta thường
đánh giá tình hình thực tế hoạt động chấp hành các quyết định của nhà nước với tư cách
là chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
- Hiệu quả với tư cách nhà nước là chủ sở hữu vốn, nhà đầu tư: được đánh giá
bằng yêu cầu phải tối đa hóa lợi nhuận, phát triển và bảo toàn vốn, mở rộng quy mô, thị
trường mở rộng, khả năng cạnh tranh được tăng cường. Về đánh giá về hiệu quả kinh tế,
người ta thường dùng các chỉ tiêu: doanh thu, lợi nhuận, các chỉ số ROA, ROE, hệ số
khả năng thanh toán, hệ số nợ…
Hai mặt lợi ích trên phải thống nhất với nhau, hoặc không được mâu thuẫn nhau.
2.4. Cơ chế kiểm tra giám sát của nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại
doanh nghiệp
Có rất nhiều hình thức giám sát: Giám sát từ bên trong và giám sát từ bên ngoài.
- Việc giám sát từ bên trong doanh nghiệp bao gồm hệ thống các quy định kiểm soát
nội bộ và cơ cấu tổ chức bộ máy vận hành một cách có hệ thống để đạt được mục tiêu
quản lý. Hình thức này do doanh nghiệp tự tổ chức thực hiện.
- Việc giám sát từ bên ngoài: có hai hình thức là giám sát gián tiếp và giám sát trực
tiếp. Hình thức giám sát gián tiếp là theo dõi từ bên ngoài thông qua thông tin báo cáo
của doanh nghiệp như báo cáo tài chính, công khai thông tin, báo cáo thống kê, các báo
cáo khác...Hình thức giám sát trực tiếp là hình thức kiểm tra, thanh tra trực tiếp tại
doanh nghiệp.
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC QUA CÔNG
TÁC THANH TRA GIAI ĐOẠN 2010-2016
3.1. Khái quát về các doanh nghiệp có vốn nhà nước ở nước ta
Theo Báo cáo số 428/BC-CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ, tổng tài sản của
652 doanh nghiệp (bao gồm 07 tập đoàn kinh tế, 76 tổng công ty nhà nước, 20 công ty
hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con và 549 công ty độc lập có 100% vốn
11



Việc thanh tra đối với doanh nghiệp của Thanh tra Chính phủ được thực hiện
12


trong các trường hợp: Thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính
phủ quyết định thành lập; Thanh tra vụ việc khác do Thủ tướng Chính phủ giao; Thanh
tra lại vụ việc đã được Bộ trưởng kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp
luật khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
3.2.2. Kết quả thanh tra quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Giai đoạn 2010 - 2016, toàn ngành thanh tra tiến hành 1.313.702 cuộc thanh tra.
Trong đó có 61.495 cuộc thanh tra hành chính và 1.252.207 cuộc thanh kiểm tra chuyên
ngành. Thanh tra đã phát hiện thiếu sót, sai phạm và kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà
nước 177.344 tỷ đồng, 48.388 ha đất; xử phạt vi phạm hành chính 45.244 tỷ đồng; xuất
toán, loại khỏi giá trị quyết toán và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 155.337 tỷ
đồng và 14.262 ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 10.331 tập thể, 27.575
cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 429 vụ việc, 565 người.
Trong giai đoạn 2010 – 2016, trong quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh
nghiệp, Thanh tra Chính phủ đã phát hiện sai phạm trên 41.173 tỷ đồng, kiến nghị thu
hồi về ngân sách nhà nước 3.402 tỷ đồng, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý và kiến
nghị khác trên 37.772 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra tiếp tục xem xét, xử lý 25 vụ, 49
đối tượng.
3.2.3. Thực trạng về hệ thống pháp lý về quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại
các doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2016 của Việt Nam
Pháp luật về tổ chức DNNN, về quản lý và sử dụng vốn nhà nước, về mô hình
quản lý vốn nhà nước ngày càng được hoàn thiện. Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế thế giới, Chính phủ đã ban
hành nhiều văn bản hướng dẫn về thành lập mới, tổ chức lại và giải thể công ty nhà
nước, khung pháp lý đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước, các quyết định thành lập và
phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của từng tập đoàn kinh tế nhà nước. Chính phủ

được tăng cường, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu được xác định ngày càng rõ, việc
phân tách chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan chính
quyền, các bộ ngành ngày càng rõ rệt. Tuy nhiên, trong hoạt động này còn bộc lộ nhiều
yếu kém cần khắc phục, được phát hiện qua thanh tra như:
- Trong các quyền chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, một số quyền
quan trọng như quyết định thành lập mới công ty TNHH một thành viên do nhà nước
làm chủ sở hữu, quyết định chiến lược, mục tiêu kế hoạch kinh doanh chưa được thực
hiện nhiều trong thực tế. Các mục tiêu chính trị- xã hội- công ích chưa được quan tâm,
chưa xác định thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu và chưa xác định rõ (đặc biệt là các
14


doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng không được phê duyệt kế hoạch thực hiện các
nhiệm vụ an ninh quốc phòng và mục tiêu phát triển kinh tế; thực hiện sản phẩm, dịch
vụ công ích qua các năm chưa được xác nhận quyết toán, chưa được cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt việc hoàn thành nhiệm vụ thực hiện trách nhiệm cung ứng sản phẩm
dịch vụ công ích… Các quyền được thực hiện nhiều là trong thực tế là ban hành cơ chế,
chính sách, quy định quyết định về cơ cấu, tổ chức, cấu trúc vốn, quản trị doanh nghiệp,
cử người đại diện ra quyết định quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở đa số các doanh
nghiệp có VNN được thanh tra, đều có sai phạm trong việc thực hiện các quyền này.
- Về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp: các doanh nghiệp quyết định tăng vốn
điều lệ không đúng thẩm quyền, không đúng trình tự thủ tục, sai mục đích, không đúng
đối tượng. Ở một số doanh nghiệp thì vốn điều lệ không được góp đúng theo tiến độ,
nên các doanh nghiệp không đủ vốn hoạt động, phải huy động vốn vay, làm tăng rủi ro
tài chính. Thu tiền bán vốn nhà nước, nhiều doanh nghiệp còn chiếm dụng dưới hình
thức để lại bổ sung quỹ điều lệ khi chưa có ý kiến đồng ý của Thủ tướng Chính phủ
hoặc dùng để mua sắm tài sản, tạm ứng cho các dự án sai mục đích hoặc chậm nộp về
SCIC.
- Việc bàn giao quyền quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cho SCIC còn chưa
được thực hiện đồng bộ giữa các bộ ngành địa phương. Thành phố Hà Nội giai đoạn

phân bổ không đúng các khoản chi phí trả trước…Ngược lại, ở các doanh nghiệp có lãi
cao thì có xu hướng giấu lãi. Thủ thuật thường được áp dụng đã bị phát hiện qua thanh
tra là hạch toán thiếu doanh thu, trích trước các chi phí không đúng quy định, trích khấu
hao nhanh vượt mức cho phép…
3.3. Tình hình sử dụng vốn nhà nước và tuân thủ chế độ quản lý tài chính và
chế độ kế toán tại doanh nghiệp
- Tình hình tuân thủ chế độ quản lý doanh thu, chi phí: Ở hầu hết các doanh nghiệp
được Thanh tra Chính phủ thanh tra về việc chấp hành chính sách pháp luật về quản lý
và sử dụng vốn nhà nước đều xảy ra tình trạng quản lý doanh thu và chi phí không đúng
các quy định về tài chính, kế toán và pháp luật thuế, thậm chí gây thất thoát, lãng phí
vốn nhà nước.
- Việc quản lý sử dụng nguồn vốn, quỹ: Qua thanh tra cho thấy, nhiều doanh nghiệp
trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế sai quy định, chiếm dụng vốn của các quỹ
chuyên dùng, không trích hoặc chiếm dụng, sử dụng sai nguồn vốn quỹ hoặc chậm nộp
tiền về Quỹ hỗ trợ và sắp xếp doanh nghiệp hoặc chiếm dụng hoặc chi sai mục đích tiền
thu từ việc thoái vốn nhà nước, chậm nộp lợi nhuận đầu tư ở nước ngoài về Việt nam.
Việc sử dụng các quỹ sai mục đích hoặc sử dụng khi không có nguồn cũng diễn ra ở rất
16


nhiều doanh nghiệp lớn được thanh tra.
- Việc huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn vay: Các doanh nghiệp có vốn nhà
nước huy động nguồn vốn qua các kênh chủ yếu như vay ngân hàng và các tổ chức tín
dụng, phát hành trái phiếu, vay vốn trái phiếu chính phủ, vay nợ nước ngoài. Các doanh
nghiệp có cổ phần, vốn góp của nhà nước hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn vay, có hệ
số nợ cao và đặc biệt là dùng vốn vay để đầu tư vào lĩnh vực rủi ro, mất khả năng cân
đối, do sử dụng vốn không hiệu quả nên nhiều khoản vay không có khả năng thanh toán
đúng hạn.
- Về việc đầu tư ra ngoài ra ngoài ngành kinh doanh chính: Qua thanh tra, phát hiện
nhiều sai phạm trong việc đầu tư ra ngoài của các doanh nghiệp như: đầu tư ra ngoài với số

3.4.1. Những kết quả đạt được
- Về mô hình và cơ chế chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp:
Chuyển đổi hình thức hoạt động của các doanh nghiệp sang mô hình tập đoàn, tổng
công ty, công ty mẹ-con, nhằm đa dạng hóa mô hình quản lý vốn nhà nước, chuyển từ
mô hình quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang mô hình doanh nghiệp. Việc thành
lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước để thực hiện chức năng chủ sở
hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp là bước tiến quan trọng để đổi mới phương thức
quản lý vốn, chuyên môn hóa và xóa bỏ sự can thiệp mang tính hành chính vào việc sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước
tại các doanh nghiệp. Và đặc biệt là tách biệt giữa chức năng quản lý nhà nước của các
cấp hành chính với chức năng kinh doanh của các doanh nghiệp, hướng dần đến chuẩn
mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp. Khuôn khổ pháp lý về thoái vốn nhà nước và
chuyển đổi hình thức doanh, về phân loại DNNN được ban hành và điều chỉnh nhiều,
các quy định về giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với DNNN trong việc chấp hành pháp
luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu; quy định về giám sát tài chính đối với
doanh nghiệp có vốn nhà nước...ngày càng được hoàn thiện.
- Về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sau sắp xếp đổi mới
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh năm 2015 của các
doanh nghiệp cổ phần đều tăng so với năm trước khi cổ phần hóa
3.4.2. Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
3.4.2.1. Hạn chế
- Về hành lang pháp lý hoạt động của các ngân hàng: Các quy định của pháp luật về
quy chế cho vay, phân loại nợ đối với các tổ chức tín dụng còn nhiều sơ hở, bất cập,
chưa cụ thể. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay hình thành ở mức cao trong thời
gian dài, trong khi hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp còn hạn chế. Việc áp đặt
18


lãi suất trần cho vay chưa phù hợp với các quy luật kinh tế thị trường, khiến nhiều ngân
hàng vượt trần bằng các thủ thuật chi lãi ngoài, làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động



lương thực, nguyên vật liệu có tác động xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, lạm phát làm cho các nhà đầu tư bị hạn chế về năng lực tài chính.
Một bộ phận không nhỏ các DNCVNN ngoài việc thực hiện mục tiêu là tìm kiếm
lợi nhuận, phải thực hiện mục tiêu an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, hoạt động trong
lĩnh vực sinh lời thấp.
* Nguyên nhân chủ quan
- Một số chủ trương, định hướng về mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp có vốn
nhà nước còn chưa rõ ràng.
- Mô hình quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp còn chưa phù hợp: Việc xác
định đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước còn nhiều lúng túng, nhất là đối với doanh
nghiệp nhà nước là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Chưa thực sự tách
bạch chức năng kinh doanh và chức năng quản lý nhà nước. Hiện nay còn tồn tại quá
nhiều cơ quan chủ sở hữu, trong đó còn nhiều bộ, ủy ban nhân dân tỉnh vừa thực hiện
chức năng quản lý nhà nước vừa làm đại diện chủ sở hữu. Với mô hình SCIC, trình độ
và năng lực của người đại diện chưa đáp ứng được yêu cầu thực. Điều đặc biệt lưu ý là,
chưa có ranh giới rõ ràng phân định và phân loại các doanh nghiệp để xác định quyền
và trách nhiệm sở hữu vốn giữa các cơ quan được phân công (Bộ, Ủy ban nhân dân
tỉnh, Công ty mẹ của các TĐ, TCT có vốn nhà nước, SCIC).
- Hệ thống pháp lý quy định về quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại các doanh
nghiệp còn nhiều sơ hở.
- Công tác tham mưu, chỉ đạo, đề xuất của các Bộ, ngành liên quan giúp Chính phủ
ban hành các văn bản pháp quy để thực hiện chức năng quản lý nhà nước còn thiếu, bất
cập, chưa sát và chưa phù hợp với thực tế; sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan và cơ
quan thanh tra chưa có hiệu quả.
- Công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát nội bộ và của các cơ quan ban ngành để
phát hiện kịp thời trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế.
- Trình độ năng lực và đạo đức công vụ của không ít lãnh đạo cơ quan quản lý nhà
nước và cán bộ lãnh đạo quản lý doanh nghiệp còn hạn chế.

đối với doanh nghiệp kinh doanh, là nguồn lực tài chính cho nhà nước thực hiện các
mục tiêu về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội và thực hiện công
bằng xã hội; Phân bổ nguồn vốn nhà nước hợp lý, có trọng tâm trọng điểm, sử dụng vốn
nhà nước tập trung vào những ngành, lĩnh vực tư nhân không làm được, không được
làm và không muốn làm, góp phần tái cơ cấu nền kinh tế hợp lý.
4.2.3. Phương hướng, nhiệm vụ
21


Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; Phân công, phân
nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý vốn; Tăng cường hiệu quả,
hiệu lực của công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra quản lý và sử dụng vốn nhà nước
4.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước
4.3.1. Nhóm giải pháp về mô hình chủ sở hữu vốn nhà nước
- Thành lập cơ quan giám sát tài chính là một cơ quan chức năng có đủ quyền lực,
độc lập. Đảm bảo các DNNN và chủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi”
đã đề ra.
- Cần đánh giá và rút kinh nghiệm từ mô hình SCIC: Qua thanh tra cho thấy hiện
tượng “quá tải” đã và đang xảy ra với tổng công ty trong bố trí người đại diện chủ sở
hữu. Khi thành lập cơ quan chuyên trách quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, cần
tăng cường hiệu lực của cơ quan này để hạn chế tình trạng đó. Cơ quan đại diện chủ sở
hữu đối với phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã cổ phần hóa thông qua người
đại diện phần vốn nhà nước đôn đốc các doanh nghiệp đã cổ phần hóa thực hiện nghiêm
các quy định và phải có tinh thần trách nhiệm cao.
- Tổng kết việc thí điểm thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý của tập đoàn kinh tế
nhà nước: Trước mắt, Chính phủ nên tạm ngừng việc thành lập mới các tập đoàn kinh tế
nhà nước và tiếp tục chấn chỉnh tổ chức, hoạt động của các tập đoàn đã được thành lập.
- Hoàn thiện mô hình và thể chế về quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu vốn nhà nước tại
các doanh nghiệp
4.3.2. Nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước

dự án lớn, các phương án sản xuất kinh doanh có sử dụng nguồn vốn lớn của nhà nước,
để tránh tình trạng xảy ra hậu quả rồi mới thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Có như vậy
mới thực hiện được yêu cầu “phòng ngừa sai phạm” mới được thực hiện tốt. Tập trung
thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm vào các doanh nghiệp có nhiều bức xúc
được các phương tiện thông tin truyền thông đưa tin hoặc đang có đơn thư khiếu nại tố
cáo về các sai phạm trong việc thực hiện quản lý và sử dụng tài chính gửi các cơ quan có
thẩm quyền. Tập trung thanh tra vào các DNNN đặc trưng cho một nhóm doanh nghiệp
có mô hình hoạt động tổ chức tương đồng, có thể quan tâm thêm đến giá trị vốn nhà
nước doanh nghiệp đó đang nắm giữ, vị trí, vai trò của doanh nghiệp đó về lĩnh vực đó
trên địa bàn hoặc số lao động mà doanh nghiệp đó đang có. Tổ chức thực hiện việc
thanh tra tài chính doanh nghiệp đúng các quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra, quy
chế làm việc của cơ quan; khắc phục tình trạng chậm ban hành kết luận thanh tra, biên
bản kiểm tra đối với doanh nghiệp.
- Xây dựng đội ngũ công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra tài chính trong
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status