TAP : n i KHOA HOC ĐHQGHN. KHXH & NV, t.XVIII, N°1, 2002
AN NINH XA HOI: MỢT s o VAN ĐE PHAP LY CAN BAN
Ngỏ H u y C ư ơ n g
Tạp chí Nghiên cứu L u ậ t pháp - Văn phòn g Quốc hội
Hơn bao giờ hết, ngày nay, an ninh xã hội, đan g cuốn h ú t sự chú ý của hầu hết
Cícq.iôc gia trên th ê giới. Nền kinh tế công nghiệp và h ậu công nghiệp đang đòi hỏi
“tấn lá c h ắ n xa hội” cho nhữ ng người lao động. Và các chương t r ì n h an ninh xâ hội
dice xem là nh ữ n g “tấm lá chắn xã hội” đang ngày càng p h á t triể n m ạ n h mẽ ở các
ni(C 'ông nghiệp [1, tr.4-5].
N h ậ n thức được ý nghĩa to lớn của vấn đề an nin h xã hội, trong thời ký công
rgH(P hoá, hiện đại hoá. Đại hội Đại biêu Toàn quốíc lần t h ú IX của Đảng đã nh ân
nạil:
"Khản trương m ở rộng hệ thông bảo hiếm xã hội và an sin h xã hội. Sớm xây
d iig v à thực hiện chính sách bảo hiếm đôi với người lao động th ấ t nghiệp...Thực
fịẻi :ac chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sông mọi thành viên cộng đồng,
bĩ( éPm ^ ao hiểm xã hội đôi với người lao động thuộc các thành p h ầ n k in h tẽ, cứu
t ợ ư hội n h ữ n g người gặp rủi ro, bát hạnh".
Đây thực sự là nhữn g định hưóng cơ bản cho việc thiế t lập chính sách xã hội,
jà\ cựng p h á p luật vê an ninh xã hội để n h ằ m tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
úi công bằng, d ân chủ, văn m in h” ở Việt Nam. Song, qua đây, ch úng ta cũng cần
jhỉi nhìn n h ậ n r ằ n g Đại hội IX của Đảng đã tách “bảo hiểm xã hội” ra khỏi “an
s ni
hội” như hai vấn đê riêng biệt, nhưng có nhừ ng môi liên hệ chưa dược làm
p.Nịoài ra Đại hội còn đê cập tới vân đê “cứu trợ xã hội” trong các định hướng này.
fci t iế các vấn đề nêu t r ê n phải được hiểu như thê nào, môi liên hệ của chúng ra
j£( vi phá p lu ậ t cần p h ản á n h vê chúng như thê nào... đang là nhữn g câu hỏi lớn
(\\ C) câu trả lòi th ẳn g t h ắ n để, không những cho Nghị quyêt của Đảng đi vào cuộc
ÒỊg,mà còn giải quvết một cách khoa học một sô vấn đề pháp luật vê an ninh xã hội.
tương tế q u ả n lý. Năm 1884, hiệp hội giới chủ thiế t lập và q u ả n lý quỹ bảo hiểm rủi
ro nghê nghiệp. Năm 1889, bảo hiểm được mỏ rộng cho cả tuổi già và t à n t ậ t dí) tỉnh
q uản lý và chính quyền tài trở [2, t r . 6 ]. Cách giải quyết như vậy của người Đức đã
lan rộng ra kh ắp nơi trên t h ế giới. Tới năm 1935, lần đầu tiên, hệ thông an ninh xà
hội hay chương trìn h an ninh xã hội được thiết lặp tại Hoa Ký th ô ng qua Đạo luật
vê an ninh xã hội đã nói. Và đây củng là lần đầ u tiên t h u ậ t ngữ a n ninh xã hội được
sử dụng. Ngay sau đó t h u ậ t ngữ này đã được Liên Hiệp Quốc, Tô chức Lao động
quốc tê (ILO) và các quốc gia tr ên t h ế giỏi chấp nhận.
Có nhiêu chê độ hay nhiều cơ chê để bù đắp các rủi ro xã hội n h ư cứu tế, dự
phòng, bảo hiểm xả hội và an ninh xã hội. Tuy nhiên có thể n h ậ n thấy:
- Cứu tê là một chê độ trông cậy vào lòng từ thiện của tư n h â n hoặc sự cứu trợ
của chính quyên. Chê độ n à y không thể t r a n g trải lâu dài và rộng rãi vì nó được xây
dựng trê n cơ sở lòng tốt dơn th u ần.
- Dự phòng là một chê độ tiết kiệm cho tương lai được các tổ chức bảo hiểm
hoặc tương tê tư n h â n p h á t triển, không thể giải quyết được vấ n đê trong p h ạ m vi
toàn xã hội. Hơn nửa, người lao động chỉ trông cậy vào chính m ìn h trong chế độ này
để tr an g trải một sô rủi ro n h ấ t định.
- Bảo hiểm xã hội là một chê độ b ắt buộc sự đóng góp của người lao động, giối
chù và nhà nước để t r a n g trải những rủi ro xã hội. Chê độ nà y bảo đ ảm tái p h â n
phôi lợi n h u ậ n bao t rù m p h ạ m vi cả xã hội [3, t r . 264-265].
Ngày nay an ninh xã hội được xem như một chính sách xã hội n h ằ m tới kê
hoạch p h â n phôi lợi n h u ậ n trong cả nước. Các nhà nghiên cứu an ninh xã hội của
Hoa Ký cho r à n g hiểu biết về lịch sử và nguyên n h â n ra đòi của an ninh xã hội là
quan trọng đôi với việc th ấ u hiểu chương tr ìn h an ninh xã hội hiện tại và định
hướng cho tương lai.
Trước Cách mạng Công nghiệp, Hoa Kỳ là một nước của n h ừ n g người nông
dân. Ngay sau đó, công nghiệp p h á t triể n và sô lượng công n h â n tăn g lên n h a n h
chóng. Sự p h á t triể n như vậy dă làm nâ ng cao mức sông, n h ư n g cùng đã làm p h á t
sinh các rủi ro mới kh iến các gia dinh bị đe doạ trong n h ừn g thòi điểm khó k hàn.
đông con" [ 1 , tr.5].
II. Một sỏ v â n đ ể v ể nội d u n g c ủ a a n n i n h x ả hội
Phải nói, hiện nay ờ Việt Nam, nhiêu ý kiến giải thích n h ầ m lẫn giữa an
ninh xã hội và bảo hiểm xã hội hoặc không th ấy rỏ môi liên hệ giừa chúng, t h ậ m chí
còn (‘ho r ằ n g an ninh xã hội hay an sinh xã hội là khái niệm hẹp hơn của bảo hiểm
xã hội. Vi vậy c h ú n g ta cần tìm hiếu vê vấn đê này trước tiên trong phần nói vê nội
d ung của an ninh xã hội.
1-
Có nhiêu q u a n điểm khoa học cho rằng an ninh xã hội có ba cơ chê căn bản:
1 ) Bảo hiểm xã hội là cơ chê t r ụ cột cho hệ thông an ninh xã hội mà hiện nay Việt
Nam đang xây dựng l u ậ t vê nó ; 2) Cứu tê hay cứu trợ xã hội; 3) Tuỳ nghi [2, tr.9].
Các nhận định đó phù hợp với các giảng giải của ILO rằng an ni nh xã hội gồm nhiêu
yêu tô khác nhau: bảo hiểm xã hội; trợ giúp xã hội; các chê độ được hưởng chu cấp từ
thu nhập chung của quốc gia; chẽ độ hường cho gia đình; và các quỹ phòng xa...[ 1 , tr. 6 ].
Công ước sô" 102 của ILO đà đưa ra 9 nội dung tôi thiểu của an ninh xã hội,
bao gồm: Chăm sóc y tê; trợ cấp ôm đau; trợ cấp t h ấ t nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ
cấp tai n ạ n lao động và bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp
tàn tật; và trợ câp tiên tu ấ t. Các nội dung này được tài trợ thông qua các cơ chê nói
trên và có q uan hệ với nh au. Chẳng h ạn trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
và thai sản có liên q u a n tới chăm sóc y tế. Do đó phải có một chính sách chung vê an
ninh xã hội, t r á n h để cập một cách phiến diện. Nhiêu nước có chương tr ìn h an ninh
xă hội khá dầy đủ, song còn nhiều nước chưa làm được như vậy. Dù sao chương
t rìn h an ninh xã hội có cơ cấu của nó được xây dựng trên nguyên tắc lấy lợi ích của
người lao động lúc làm việc bù đắp cho lúc nghỉ việc, lấy lợi n h u ậ n của những người
khá giả p h â n phôi cho ngưòi kiếm không đủ sông để đáp ứng cho các nhu cầu thiết
yêu của họ.
Vì vậy có lẽ Việt Nam nên xây dựng một chính sách tổng thể cho vấn để an
ninh xã hội và th ể hiện chính sách đó trong một đạo lu ật vê an ninh xã hội, hơn là
đưa ra các chính sách đơn lẻ cho từng mảng nhò của an ninh xã hội và giải quyêt
U.ỚC đẩu tiên t r ê n t h ế giới đưa ra khái niệm về an n i n h xã hội. ở Hoa Kỳ, an ninh
'à hội dược coi là một k h ế ước giữa các t h ế hệ. Điêu đó có nghĩa là tiền thuê của thê
ú đang lao động chi cho n h ữ n g lợi ích của thê hệ đã nghỉ hưu - nh ững người đâ xây
ịxn J đ.ú nước. Và cứ như vậy, các thê hệ chăm sóc lẫn nhau, hưởng lợi ích của
ìla i. "Thê hệ ông cha xây dựng đường xá, cầu cống, b ệ n h viện, trường học, văn hoá,
'ghộ)> chính quyển... cho các t h ế hệ sau hưởng, do đó th ê hệ đang lao động nộp thuê
tí nuòiông cha của mình. Đến khi thê hệ đang lao động nghỉ hưu hay gặp rủi ro thì
hỉ'hệ (on cháu của họ lại đóng góp nuôi họ. Xà hội cứ tiếp nôi theo tru yền thông,
ÔI trọng lẫn n h a u , bảo vệ lẫn nhau, thừa hưởng của n h a u và nhó ơn nhau. Chủ
frjvet ió không cho r ằ n g người lao động phải tự để d à n h tiền đế nuôi bản t h â n
II rn VA gia đình mìn h trong cơn hoạn nạn. T h u ế lấy từ n h ữ n g người lao động hôm
r yđả ‘hi cho các lợi ích của người được hưởng trong chương tr ìn h an ninh xã hội.
0 * (ũnf chính là cách tài trợ cho nhữ ng chương tr ìn h a n ninh xã hội [5].
Philippine k h ông phải là một nước giàu có, n h ư n g đã tuyên bô rõ chính
II aiĩứ xã hội của mình trong Điều 2 của Đạo lu ậ t vê an ninh xã hội năm
S)(ial Security Act of 1997) như sau: “Chính sách của Cộng hoà Philippine là
1 *1) ph*t triển, th ú c đẩy và hoàn thiện dịch vụ an n inh xã hội với việc miễn
sách
1997
th iế t
giảm
An ninh xà hôi: mot sô vãn đê p h á p lý cán bản
ll
t h u ê m ộ t c á c h k h ả t hi và có cơ sở t h í c h hợp với n h u c ầ u c ủ a n h â n d â n t r ê n k h u Ị , ,|. {
(
túng. Đến nay lớp n ày trợ cấp khoảng 105 Đô la Mỹ mỗi t u ầ n cho mỗi người với tít
cả nhữ ng người lao động nghỉ hưu mà đã đóng góp đủ sô năm (44 n ă m đôi với nam
và 39 n ă m đôi với nữ). Lớp th ứ hai được tạo ra năm 1961 dể bảo đ ả m lợi ích thông
qua một chướng trìn h được xây dựng trên cơ sở của t h u n h ậ p để p h ụ thêm vào t ’c
cấp hưu trí nhà nước cơ bản. Năm 1978 lóp thứ hai được cải cách theo hướng của Hba
à c
pánh giá này cho t h ấ y vân đê cứu trợ xã hội được tài trợ chủ yếu t ừ lòng từ
•1 ,ỈTI n h â n dản, khó có th ể là môt chính sách xã hôi thích đán g và lâu bển.
tie 1
Ị u đãi xã hội là cần th iế t bởi nhừng vấn đê xã hội do lịch sử để lại mà chủ yếu
j(n tr anh . Việc tài trợ cho chương trìn h này p h ầ n lớn lấy từ ng ân sách nhà
igoài ra còn có sự dóng góp của các tổ chức và công dân. Song chương trình
(CÓ thể k ế t thúc hoặc t h u lại r ấ t hẹp vào một thòi điểm khi các đôi tượng ưu
- b>ng còn nừa hoặc giám đi. Tuy nhiên, hiện n a y vấn để này vẩn còn là vấn đê
ớĩ fủ a xã hội Việt Na m đang giành được sự q u a n t â m thích đ á n g c ủ a Đảng,
cll(
o
£ n?i đióc công khai, có thê chia t h à n h từng nhóm theo các chương trình nhỏ
ị ? cễ theo dõi và p h á t triển. Quỹ này nhằm mục đích không gì khác hơn là ph ụ c
An ninh xả hội: rnôt sô vấn đê p h á p lý cản bàn
1
vụ lợi ích của người lao động và hơn nữa còn có sự đóng góp của người lao đông quỹ phái được đ ặ t dưới sự giám s á t c h ạ t chẽ từ người lao động.
4-Trong khi xây dựng chương tr ìn h an ninh xã hội, các quốc gia không
chọn những trường hợp cần được đáp ứng hay cần được trợ cấp, mà còn phải
chon những đôi tượng được t h ụ hường trợ cấp. Khó có một quốc gia nào có thá’ *
(lụng dươc một chương t r ìn h an ninh xả hội dủ để trơ cấp đầy đủ moi người l)f/i ■
‘
N
N
*
*
1 ơi
an ninh xã hội, người ta thường chia công d ân trong nước t h à n h t ừ n g giới theo n nghiệp, theo tình t r ạ n g p h áp lý để ưu tiên cho hưởng trợ cấp.
Có thể chia ra bôn giới là n h ữ n g người làm công, nh ững người lao đông
người không nghê nghiệp và gia đình của nhừng người được t h ụ hưởng [ 3 , tr
Đương nhiên nhữ ng người làm công bao giờ cũng được ưu tiên trước, bởi họ âatiị;
những người công hiến cho xã hội và đang nộp thuế. Còn các đối tượng kh ác th f
được săp xếp theo t h ứ tự ưu tiên tuỷ thuộc vào hoàn cảnh thực tê và yêu cầu
của mỗi nước. Từ đó người ta xây d ựng các chê độ pháp lý cho các loại trợ cấii ^ "
•>
>
tắc an sinh xã hội (Tập 1). “Series of M anuals on Social Secu rity ” producei k
Social Security D e p a r t m e n t of ILO (Geneva) in conjunction with Interna i(.v
Training C entre of ILO (Tourine), 1998.
]4
Ngô Huy Cương
II
Đỗ Minh Cương. “Bảo đ ả m xã hội - một sõ vân đê thực tiễn, lý l u ậ n và giải
p háp đôi mới" trong cuốn Một sô vấn để về chính sách bảo đ ả m xã h ộ i ờ nước ta
hiện n a y , Hà Nội, 1993.
Ị)]
Nguyễn Q u a n g Quýnh. L u ậ t lao động và an n in h xã hội (in lần t h ứ 2). Hội
nghiên cứu h à n h chính xuất bản. Sài Gòn 1969.
.;]
FreeAdvice. Com - “Social Security: Basic Fa c ts” - Freeadvice.com/gov m a teria l/ss a - basic - facts - about - social ~ security.htm.
5]
Economic O p p o r t u n i ty I n s t i tu t e - “S t re n gthe n in g Social Se curity for the 21st
C e n tu ry - www.econop.org/ss2000. S u m m a r y . h t m - Nguyên v ă n “Since 1935
Social S e c urity has been the foundation of economic se curity for America’s
workers r e t i r e e s and th eir families”.