DSpace at VNU: Quan niệm về nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt - Pdf 47

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Thị Bích

QUAN NIỆM VỀ NHÂN SINH TRONG TÍN
NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT

Chuyên ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử
Mã số
: 50102

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ
NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS. Nguyễn Hữu Vui
HÀ NỘI - 2003


2

PHẦN MỞ ĐẦU
1- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ xa xưa của
lịch sử nhân loại và đã tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới. Cho đến nay, tín

quan niệm về nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Vì
vậy, tôi mạnh dạn đi sâu khai thác vấn đề này trong luận văn.
3- MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

Mục đích : Bước đầu nghiên cứu và trình bày những quan niệm về
nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Thông qua việc
khảo sát thực trạng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay, từ
đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những yếu tố tích cực,
khắc phục những yếu tố tiêu cực của quan niệm về nhân sinh trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, góp phần xây dựng nền văn hoá mới
ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ : Để hoàn thành được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt. Trình bày những quan niệm về nhân sinh qua nội dung, nghi lễ
thờ cúng tổ tiên của người Việt.
- Từ thực trạng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay,
rút ra một cách khái quát mặt tích cực và mặt tiêu cực, đề xuất những giải
pháp chủ yếu để góp phần định hướng đúng đắn quan niệm về nhân sinh
trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay.
4- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng: Quan niệm về nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Việt.
Phạm vi nghiên cứu : Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
trong lịch sử và đánh giá thực trạng từ năm 1986 đến nay.
5- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản và
Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo.


6

CHƯƠNG I

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ KHÍA
CẠNH NHÂN SINH CỦA NÓ
1.1- TÍN NGƯỠNG, TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

1.1.1- Tín ngưỡng
Trong lịch sử phát triển của nhân loại có hàng ngàn các loại hình tín
ngưỡng khác nhau, rất phong phú, đa dạng. Song, để có một cách hiểu khoa
học về tín ngưỡng, cần phải xem xét một số quan điểm khác nhau trong giới
nghiên cứu để có thể đi đến khái quát được nét đặc trưng nhất của tín
ngưỡng.
Các quan điểm ngoài mác-xít về tín ngưỡng
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với đại biểu như Pla-tôn, Hê-ghen ...
đã xuất phát từ thực thể tinh thần, “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để lý giải các
hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng. Hê-ghen cho rằng, khởi nguyên của thế giới
là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới ”. Tính phong phú, đa dạng của
thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của “ý niệm tuyệt
đối”. “Ý niệm tuyệt đối” tồn tại vĩnh viễn. Theo nhận xét của Lê-nin, “ý niệm
tuyệt đối” chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách nói khác về
Thượng đế mà thôi. Do đó, quan điểm của các nhà triết học duy tâm là sự
biện hộ cho tín ngưỡng, tôn giáo, họ xem tín ngưỡng, tôn giáo là sức mạnh
thần bí thuộc tinh thần tồn tại vĩnh hằng, là nhân tố chủ yếu đem lại sinh khí
cho con người.
Các nhà triết học duy tâm chủ quan lại cho rằng, tín ngưỡng là thuộc
tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không phụ thuộc vào hiện
thực khách quan.
Các nhà triết học duy vật lại có quan điểm hoàn toàn khác với quan

bản chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện, cái
đẹp, nghĩa là muốn hướng tới những giá trị đẹp nhất trong một hình tượng


8

đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế, những cái đó con người không
đạt được, nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng
đế.
Nhìn chung, các quan điểm trên về tín ngưỡng do điều kiện lịch sử và
do lợi ích giai cấp đã có những hạn chế, thiếu cơ sở khoa học. Quan điểm
duy tâm cho tín ngưỡng là những hiện tượng thần bí, siêu thực, chỉ có thể
cảm nhận và tin chứ không lý giải được. Các nhà triết học duy tâm đã sai
lầm, vì họ đã lấy ý thức, tinh thần để lý giải một hiện tượng cũng thuộc lĩnh
vực tinh thần là tín ngưỡng, tôn giáo.
Quan điểm duy vật của Phoi-ơ-bắc đã chỉ ra nguồn gốc nhận thức của
tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh chống các quan điểm duy tâm, tôn
giáo trong quan niệm về con người, về Thượng đế. Song, trong cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, Phoi-ơ-bắc chỉ phê phán một thứ
tôn giáo cụ thể là đạo Cơ Đốc. Còn tôn giáo nói chung, theo ông, vẫn là điều
cần thiết đối với cuộc sống con người, chỉ có tín ngưỡng, niềm tin mới an ủi
được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong cuộc đời con người. Mặc dù sự
an ủi đó là giả dối, là không có thật, nhưng theo ông, không thể làm gì hơn,
mà đành phải chấp nhận. Phoi- ơ- bắc chưa chỉ ra được nguồn gốc xã hội,
chức năng “đền bù hư ảo” và những mặt tiêu cực của tôn giáo, tín ngưỡng.
Vì vậy, ông đã rơi vào lập trường duy tâm trong việc lý giải vấn đề tôn giáo,
tín ngưỡng.
Để có cách nhìn khách quan, khoa học đối với hiện tượng tín ngưỡng,
cần có phương pháp tiếp cận khoa học, đó là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin

Trong quá trình sử dụng khái niệm “tín ngưỡng”, dần dần C.Mác, Ph.
Ăng-ghen đã phá vỡ cách dùng quen thuộc với hàm nghĩa “tín ngưỡng tôn
giáo”. Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”, C.Mác cho tự do tín
ngưỡng của giai cấp tư sản chẳng qua chỉ là các loại tự do tín ngưỡng tôn
giáo. Chính đảng của giai cấp công nhân muốn giải thoát con người ra khỏi
cái ma thuật của tín ngưỡng tôn giáo. Vì vậy, C.Mác, Ph. Ăng-ghen đã


10

khẳng định, tự do tín ngưỡng có nội dung rất rộng lớn. Người ta không chỉ có
tự do tín ngưỡng của tôn giáo này hay tôn giáo khác, mà còn có tự do tín
ngưỡng không tôn giáo, nghĩa là tự do tín ngưỡng vô thần.
Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin chính là niềm tin của giai cấp vô
sản, là niềm tin khoa học, là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản và quần
chúng nhân dân bị áp bức. Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, C.Mác,
Ph.Ăng-ghen cho rằng : “chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái
cần sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo.
Chúng ta gọi là chủ nghĩa cộng sản là phong trào hiện thực, nó xoá bỏ trạng
thái hiện nay”[33, 51]. Theo C.Mác, vấn đề là ở chỗ phải tổ chức, giáo dục
giai cấp vô sản, làm cho họ có niềm tin vững chắc vào tương lai của xã hội
mới do chính họ tạo lên. Thực tế, đây chính là hình thức đi sâu vào lòng
người, trở thành lý tưởng và niềm tin của chủ nghĩa cộng sản.
Nếu các nhà triết học duy tâm lấy ý thức, tín ngưỡng tôn giáo để giải
thích lịch sử, coi tín ngưỡng, tôn giáo là phạm trù vượt qua lịch sử, lấy sự
thay đổi của tín ngưỡng, tôn giáo để phân định lịch sử nhân loại, thì các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác đã lấy lịch sử để giải thích tín ngưỡng và đi đến kết
luận khoa học: Tín ngưỡng cũng là một hiện tượng lịch sử, là sự phản ánh




12

lần thứ VIII. Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội, tr. 14; tr.55.
15.1 - Đảng cộng sản Việt Nam (1998): Chỉ thị số 27, CT/TW về việc thực
hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang lễ hội Hà Nội.
15.2- Đảng cộng sản Việt Nam (1998): Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCH TW
khoá VIII. Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội, tr. 60.
16- Đảng cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội, tr.89; tr.208.
17- Đảng cộng sản Việt Nam (2003): Văn kiện Hội nghị TW lần thứ 7 khoá
IX. Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội, tr .52.
18- Phạm Văn Đồng (1994): Văn hoá và đổi mới. Nxb Chính trị Quốc gia Hà
Nội, tr. 75.
19- Trần Văn Giàu (1996): Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ
XIX đến cách mạng tháng Tám. Tập 1, (Hệ ý thức phong kiến và sự
thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử), Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, tr. 169.
20- Nguyễn Duy Hinh (1996): Tín ngưỡng Thành Hoàng làng Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
21- Đỗ Trinh Huệ (2000): Văn hoá- tín ngưỡng gia đình Việt Nam qua nhãn
quan học giả L. Cardiere. Nxb Thuận Hoá, Huế.
22- Hiến pháp Việt Nam (1995): Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,tr.10;tr.39;
tr.159.
23- Đỗ Quang Hưng (1999): “Tôn giáo tín ngưỡng trong đời sống văn hoá
hiện đại”, Cộng sản ( 15), Hà Nội, tr. 24-27.
24- Vũ Ngọc Khánh (1994): Tín ngưỡng làng xã, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà
Nội.
25- Vũ Ngọc Khánh (2001): Tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Nxb Văn hoá
dân tộc, Hà Nội.

38- L. Phơ Bách: “Bản chất chung của tôn giáo” trong Về tôn giáo, Tập 1,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1994, tr.103.


14

39- Phạm Quỳnh Phương (2000): “Thờ cúng tổ tiên- tín ngưỡng và đạo lý
dân tộc”, Văn hoá nghệ thuật, ( 2), Hà Nội, tr. 43-47.
40- Lê Xuân Quang (1996): Thờ thần ở Việt Nam, tập 1+ 2, Nxb Hải Phòng.
41- Phạm Ngọc Quang (2000): “Vai trò tín ngưỡng dân gian trong đời sống
tinh thần của người Việt Nam” trong “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng
dân gian ở Việt Nam” . Nhà in HVCTQG Hồ Chí Minh - Trung tâm
khoa học về tín ngưỡng, tôn giáo .
42- Lưu Kiến Quân (1997): “Quan niệm về tín ngưỡng của C. Mác- Ăng
ghen”, Thông tin lý luận, ( 3), tr. 9-10.
43- Trần Đăng Sinh (1998): “Bước đầu tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Hoạt động khoa học, ( 8), Hà Nội,
tr.27-28.
44- Trần Đăng Sinh (2000): “Tín ngưỡng và tôn giáo- những điểm tương
đồng và khác biệt”. Nghiên cứu lý luận,( 1), tr. 52-54.
45- Trần Đăng Sinh (2002): Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay. Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, tr.32-33; tr.34
46- Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 BCH TW Đảng
khoá IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.121-122.
47- Hồ Sĩ Tân: Thọ Mai Gia Lễ (bản dịch viết tay). Tư liệu Học viện Phật
giáo Việt Nam tại Hà Nội.
48- Ngô Hữu Thảo (1997): “Góp phần tìm hiểu các khái niệm tôn giáo và tín
ngưỡng”, Thông tin lý luận,( 10), Hà Nội, tr. 39-42.
49- Ngô Đức Thịnh (1996): Tín ngưỡng và văn hoá dân gian. Đề tài cấp Bộ,

60- Đặng Nghiêm Vạn (1996): Về tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr .315-316; tr. 317.
61- Đặng Nghiêm Vạn (1998): Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở
Việt Nam, (sách tham khảo), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
62- Đặng Nghiêm Vạn (1998): Bản chất và biểu hiện tôn giáo “. Triết
học(1), Hà Nội, tr.17-20.
63- Tân Việt (2001): Một trăm điều bàn về phong tục Việt Nam, Nxb Văn
hoá dân tộc, Hà Nội.


16

64- Nguyễn Hữu Vui (1993): “Tôn giáo và đạo đức nhìn từ mặt triết học”,
Triết học ( 4), tr. 43-47.
65- Nguyễn Hữu Vui (1990): Chủ nghĩa vô thần khoa học. Tủ sách trường
Đại học Tổng hợp, Hà Nội
66- Nguyễn Hữu Vui (1991): “Vai trò của tôn giáo cần được nhìn từ góc độ
triết học và xã hội học”. Tạp chí khoa học, ĐH Tổng hợp ( 6),
Hà Nội, tr. 1- 4.
67- Nguyễn Hữu Vui (1992): “Về vấn đề đánh giá vai trò của tôn giáo”. Triết
học ( 3), Hà Nội, tr. 29-32.
68- Nguyễn Hữu Vui và Trương Hải Cường (2003) : Tập bài giảng tôn giáo
học. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.34.
69- Nguyễn Hữu Vui (1995): “Thử cắt nghĩa về hiện tượng tôn giáo và tín
ngưỡng có chiều hướng tăng lên hiện nay”. Tạp chí khoa học, ĐHQG
Hà Nội ( 1), tr. 37-41.
70- Nguyễn Hữu Vui (2001): Đổi mới công tác lý luận về tôn giáo ở nước ta
hiện nay (Đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 55 năm cách
mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9). Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
71- Về tôn giáo (1994): tập 1. Viện nghiên cứu tôn giáo, Nxb Khoa học xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status