Lời Mở Đầu
Kinh doanh như thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế cao luôn
là một vấn đề cấp bách đặt ra cho các nhà quản lí xí nghiệp.
Không một nhà doanh nghiệp nào lại muốn mình tồn tại trong
trạng thái thua lỗ và nguy cơ phá sản đang rình rập, đe doạ. để
đạt được điều đó, các nhà doanh nghiệp cần phải nắm bắt và
điều chỉnh được mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
trên tất cả các phương diện: nguồn nhân tài nhân lực, kết quả
thu chi... để từ đó có những quyết định đúng đắn kịp thời.
Mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh là phải đạt hiệu
quả cao. Muốn vậy nhà quản lí phải thường xuyên điều tra, tính
toán, cân nhắc, soạn thảo và đưa ra phương án tối ưu. Cơ sở
quan trọng để tìm ra phương án tối ưu là việc đámh giá thường
xuyên kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm ra các
nguyên nhân gây ảnh hưởng, rút ra các thiếu sót còn tồn tại, chỉ
ra những tiềm năng cha được sử dụng, đề ra các biện pháp khắc
phục để không ngừng nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh.
Phân tích hoạt động kinh tế đã trở thành công cụ quan trọng của
khoa học quản lí, công cụ để phát hiện những khả năng tiềm
tàng trong hoạt động kinh doanh. Thông qua việc phân tích một
hiện tượng, một quá trình sản xuất kinh doanh ta nghiên cứu
được các nguyên nhân gây biến động, tìm ra con đường và biện
pháp để cải tiến, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Quá trình chuyển nền kinh tế của nước ta theo cơ chế thị trường
có sự quản lí của nhà nước đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi
mới hệ thống công cụ quản lí kinh tế. Cùng với quá trình đổi
mới, việc làm như thế nào có được thông tin hữu ích về mặt
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để có quyết định đúng
đắn là vô cùng quan trọng. Việc phân tích hoạt động kinh tế đã
giúp cho các nhà quản lí một phần nào đó thực hiện được công
Song với sự nỗ lực của tập thể lãnh đạo và toàn thể cán bộ công
viên trong toàn xí nghiệp, Xí nghiệp đã ngày càng được đổi
mới. Xí nghiệp đã đầu tưư mua thêm nhiều thiết bị nâng có tính
năng tác dụng rất cao trong khâu xếp dỡ hàng hoá. Từ đó đáp
ứng được nhu cầu của thị trường, chủ hàng, nâng cao đời sống
cho cán bộ công nhân viên trong toàn Xí nghiệp. Thực hiện
nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước ngày một cao hơn .
Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước chuyển
đổi nền kinh tế thị trường theo định hướng của Nhà nước. Cảng
Hải phòng đã thực hiện đúng chủ trương đó, tách Xí nghiệp xếp
dỡ Vật cách ra khỏi Cảng Hải phòng. Ngày 03 tháng 07 năm
2002 theo quyết định số 2080/2002/QĐBGTVT, Xí nghiệp xếp
dỡ Vật cách được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Cảng Vật
Cách. Công ty được thành lập với nguồn vốn điều lệ là 12 tỷ
đồng Việt Nam (Trong đó có 30% vốn của Cảng Hải phòng, còn
lại 70% vốn do các cổ đông trong Công ty đóng góp ). Kể từ
ngày 01 tháng 09 năm 2002 Công ty chính thức đi vào hoạt
động .
1.2. Chức năng và nhiệm vụ của xí nghiệp xếp dỡ Vật Cách
1.2.1. Chức năng:
Chuẩn bị đầy đủ về cơ sở vật chất cụ thể như: sức lao động,
trình độ tay nghề của cán bộ công nhân viên chức, phương tiện,
công cụ xếp dỡ, kho bãi để tiếp nhận hàng hoá thông qua cảng
đáp ứng yêu cầu của chủ hàng, chủ phương tiện.
Thường xuyên liên tục làm tốt công tác tiếp thị tạo điều kiện
thuận lợi cho khách hàng, nhằm thu hút được nhiều chủ hàng
đến với cảng, để tạo thêm việc làm cho công nhân, có mức thu
nhập ổn định và tăng thêm nguồn doanh thu cho xí nghiệp.
1.2.2. Nhiệm vụ của cảng Vật Cách:
- Phục vụ cho các chủ hàng, chủ phương tiện hay nói cách khác
2
- Tổng diện tích kho : S = 9.700 m
2
- Phương tiện xếp dỡ: Có 06 cần trục chân đế, sức nâng từ 5 tấn
đến 10 tấn. 03 cần trục bánh lốp sức nâng 25 tấn. 03 Cái nâng
hàng có sức nâng 5 tấn .
- Phương tiện vận chuyển: có 06 xe vận chuyển trọng tải từ 6 tấn
đến 10 tấn .
- Phương tiện xúc gạt: Có 01 Cái .
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, chủ hàng, gần đây Hội đồng
quản trị công ty tiếp tục đầu tư mở rộng cầu, mua sắm thêm một
số thiết bị nâng có công suất lớn, nạo vét luồng, sửa chữa lại
bến bãi, kho chứa hàng và đầu tư vào vấn đề đào tạo nâng cao
trình độ nghiệp vụ, tay nghề cho Cán bộ công nhân viên. Việc
đầu tư này nhằm mục đích thu hút nhiều chủ hàng, năng cao
năng suất xếp dỡ hàng, đảm bảo chất lượng hàng hoá, cái thiện
điều kiện làm việc, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân
viên trong toàn Công ty.
1.3. Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty CP cảng Vật cách
1.3.1. Hệ thống quản lý chung
1.3.1.1 Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty Cổ phần cảng Vật cách
Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là một vấn đề hết sức
quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế, Công ty Cổ phần cảng Vật cách luôn
quan tâm đến việc kiện toàn bộ máy quản lý sao cho phù hợp
với năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty .
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến
chức năng, từ giám đốc công ty đến các phòng, phân xưởng,
đội. Qua đó chức năng quản lý được chuyên môn hoá, tận dụng
được năng lực của các cán bộ chuyên viên đầu ngành trong từng
trách nhiệm thay mặt giám đốc điều hành công ty khi giám đốc
đi vắng, có nhiệm vụ tổ chức điều hành công tác kỹ thuật và sản
xuất công ty, tổ chức nghiên cứu hợp lý hoá sản xuất, cải tiến kỹ
thuật áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong quá
trình khai thác. Giúp giám đốc trong công tác định mức về lao
động, nguyên vật liệu và động lực, cũng nh trong việc đào tạo
nguồn lực thích ứng với sự phất triển của công ty.
ã Phó giám đốc kinh doanh: là người giúp việc cho giám đốc, có
trách nhiệm thay mặt giám đốc điều hành công ty khi giám đốc
đi vắng, có nhiệm vụ tổ chức điều hành công tác kinh doanh và
sản xuất công ty, tổ chức nghiên cứu hợp lý hoá sản xuất, khai
thác hàng hoá. Giúp giám đốc trong công tác định mức về lao
động.
ã Trưởng phòng kỹ thuật- Vật tư: Giúp cho giám đốc về việc
đầu tư thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, quan
hệ với các bạn hàng lựa chọn đầu tư thiết bị công nghệ, nguyên
liệu, giữ cho sản xuất công ty ổn định và có quả cao. Kiểm tra
theo dõi sự ổn định sản xuất của các Tổ sửa chữa trong đội Cơ
giới .
ã Trưởng phòng tổ chức lao động: Tham mưu cho giám đốc về
tổ chức bộ máy quản lý công ty, đề xuất đào tạo cán bộ trước
mắt và lâu dài, quản lý theo dõi và giao nhiệm vụ cho cán bộ
trong phòng kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tiền lương, an
toàn lao động, nâng cấp bậc cho Cán bộ công nhân viên. Xây
dựng kế hoạch nhân lực đào tạo ngắn hạn và dài hạn cho công
ty.
ã Trưởng phòng hành chính quản trị y tế : Thay mặt giám đốc
tiếp khách ban đầu trước khi làm việc với giám đốc. Điều hành
quản lý hệ thống văn bản, tài liệu toàn công ty và lu giữ văn bản
tài liệu. Đề xuất các phương án, trang bị các phương tiện làm
- Tham mưu cho giám đốc về công tác đào tạo, nâng cấp bậc
lương cho cán bộ công nhân viên
- Giải quyết các thủ tục theo chế độ chính sách và đảm bảo
quyền lợi cho người lao động
- Giữ vững kỉ luật lao động và xử lí kỉ luật đối với những người
vi phạm các quy định đã được ban hành
- Tính toán tiền lương hàng tháng cũng nh các khoản phụ cấp
cho cán bộ công nhân viên đúng theo chế độ chính sách
- Lập kế hoạch tổng quỹ lương và tổng kết công tác lao động
tiền lương theo từng năm
ã Ban khai thác kinh doanh
- Tham mu cho giám đốc về mặt tổ chức sản xuất và quản lí
kinh doanh
- Thay mặt giám đốc chỉ huy điều hành mọi hoạt động sản xuất
trong ca
- Theo dõi sản lượng thực hiện của từng ca sản xuất, ngày theo
từng tàu
- Cấp lệnh và giải quyết mọi thủ tục cho khách hàng đăng kí
- Thiết lập chứng từ thu cước của chủ hàng, chủ phương tiện
- Lập kế hoạch giải phóng tàu
- Tổng kết phân tích kết quả sản xuất kinh doanhcủa xí nghiệp
theo định kì
ã Ban kĩ thuật, an toàn lao động
- Tham mưu cho giám đốc toàn bộ phần kĩ thuật, cơ khí, xây
dựng cơ bản kể cả sửa chữa lớn và nhỏ đảm bảo đủ phương tiện
theo yêu cầu sản xuất ở hiện trường
- Có kế hoạch cụ thể để quản lí và sử dụng tốt các phương tiện
hiện có
- Lập kế hoạch bảo dỡng, sửa chữa phương tiện theo đúng định
kì
tiện vận chuyển .
ã Tổ lái đế + Tổ ô tô nâng hàng cần trục: Làm nhiệm vụ nâng
hạ, vận chuyển hàng hoá thông qua cảng .
ã Các tổ bốc xếp: Làm nhiệm vụ bốc xếp hàng hoá thông qua
Cảng.
1.3.1.3 Lực lượng lao động
Lúc đầu khi mới thành lập, xí nghiệp chỉ có 30 cán bộ công
nhân viên. Đến nay, tổng số lao động hiện có là 275 người.
Trong đó:
+ Công nhân trực tiếp sản xuất: 120 người
+ Nhân viên trực tiếp: 125 người
+ Cán bộ nhân viên gián tiếp: 30 người
1. Trình độ chuyên môn:
+ Trên đại học: 2 người
+ Đại học: 70 người
+ Cao đẳng: 9 người
+ Trung cấp : 25 người
+ Công nhân kĩ thuật và lao động thủ công: 121người
2. Độ tuổi lao động:
+ Từ 20 - 30 tuổi: 45 người
+ Từ 30 - 40 tuổi: 122 người
+ Từ 40 - 50 tuổi: 95 người
+ Từ 50 - 60 tuổi: 23 người
1.3.1.4 Những thuận lợi và khó khăn
1. Thuận lợi:
Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của các phương thức
vận tải, đất nước ta do đổi mới cơ chế thực hiện chế độ mở cửa
tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh chóng,
hàng hoá xuất khẩu ngày càng nhiều nhu cầu xuất khẩu tăng lên.
Đứng trước tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cùng với sự quan