BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗
MAI TIẾN DŨNG
SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO
VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT
QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 9/2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗
MAI TIẾN DŨNG
SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO
VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT
QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ
Chuyên ngành: Thú Y
Mã số
TS. VÕ ĐÌNH SƠN
Thảo Cầm Viên Thành phố Hồ Chí Minh
3. Phản biện 1:
TS. NGUYỄN VĂN NGHĨA
Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
4. Phản biện 2:
TS. NGUYỄN VĂN KHANH
Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
5. Ủy viên:
PGS. TS. LÊ VĂN THỌ
Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Họ và tên: Mai Tiến Dũng
Ngày sinh: 03/12/1980
Tác giả
Mai Tiến Dũng
iii
LỜI CẢM ƠN
Xin tri ân giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS LÊ VĂN THỌ
Đã hết lòng tận tình dìu dắt, hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô trong Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Phòng
Đào Tạo Sau Đại Học, Ban Giám Hiệu đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những
kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn
nghiên cứu.
Cảm ơn các em sinh viên Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (Huỳnh
Hữu Lộc) đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Cảm ơn và chia sẻ những thành quả đạt được với cha mẹ, vợ và anh chị em đã
tạo nguồn động viên to lớn cho tôi.
iv
TÓM TẮT
Đề tài “So sánh phương pháp gây tê ngoài màng cứng cao với gây mê để mổ
Chi phí cho một ca mổ nối ruột nếu sử dụng phương pháp gây mê là 166.600
đồng, cao hơn so với phương pháp gây tê ngoài màng cứng cao là 92.000 đồng,
chênh lệch khoảng 74.600 đồng.
vi
SUMMARY
The study "Comparing high epidural anesthesia with general anesthesia
methods for laparotomy and the influence of suture materials, suture techniques to
intestinal resection and anastomosis results in dogs" was carried out from 09/2008
to 06/2009, at the Anatomy and Surgery department, Faculty of Animal Science and
Veterinary Medicine, University of Agriculture and Forestry Thu Duc, Ho Chi
Minh City.
Seventy-two local breed male dogs from 6 - 12 months old, the same weight
were used in this study. The experiments were divided in three trials: (1) Comparing
the effect of high epidural anesthesia and general anesthesia for the laparotomy. (2)
Comparing the effect of continuous and simple interrupted patterns in intestinal
anastomosis. (3) Comparing the effect of natural absorbable suture (chromic catgut
suture) and synthetic absorbable suture (vicryl suture) for suturing intestinal
anastomosis.
The results showed that:
The general anesthesia method was better than high epidural anesthesia for
anesthesia in dogs. No complication during anesthesia. The onset of action of
general anesthesia was quicker than high epidural anesthesia (13.83 versus 353.42
seconds). The mean of anesthesia time were 53.53 minutes/dose for general
Trang chuẩn y
i
Lý lịch cá nhân
ii
Lời cam đoan
iii
Lời cảm ơn
iv
Tóm tắt
v
Summary
vii
Mục lục
ix
Danh mục các bảng
2.2. Một số bệnh lý ở ruột và biện pháp can thiệp
7
2.3. Sơ lược về thuốc mê và thuốc tê
11
2.3.1. Thuốc mê
11
2.3.2. Thuốc tê
16
2.4. Sơ lược về hai loại chỉ may trong mổ nối ruột
2.4.1. Đại cương
19
19
2.4.2. Chỉ Polyglactin 910 (Vicryl)
19
2.4.3. Chỉ Chromic catgut
20
24
2.7.1.1. May liên tục
24
2.7.1.2. May gián đoạn
25
2.7.2. Phương pháp bên-nối-bên (side-to-side anastomosis)
25
2.7.3. Phương pháp tận-nối-bên (End-to-side anastomosis)
26
2.7.4. Các điều kiện cần có của một đường khâu tốt
26
2.8. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lành vết thương
27
2.9. Sơ lược một số công trình nghiên cứu
30
42
3.4. Chăm sóc hậu phẫu
44
3.5. Xử lý số liệu
45
4. KẾT QUẢ - THẢO LUẬN
46
4.1. Nội dung 1
46
4.1.1. Nhịp tim trước, trong khi gây tê ngoài màng cứng tủy sống và gây mê toàn thân
46
4.1.2. Nhịp thở trước, trong khi gây tê ngoài màng cứng tủy sống và gây mê toàn thân
48
x
4.2.5. Các tai biến trong khi mổ
57
4.3. Nội dung 3
59
4.3.1. Thời gian ăn lại của thú sau khi mổ
59
4.3.2. Tình trạng phân và thời điểm đi đại tiện của chó thí nghiệm sau phẫu thuật
60
4.3.3. Thời gian lành vết thương thành bụng sau khi mổ
61
4.3.4. Kết quả mổ kiểm tra chỗ may nối ruột
62
4.4. Chi phí cho một ca phẫu thuật
66
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
40
Bảng 3.3. Sơ đồ bố trí thú với hai loại chỉ may
43
Bảng 4.1. Nhịp tim trung bình của chó trước, trong khi gây tê và gây mê
46
Bảng 4.2. Nhịp thở trung bình của chó trước, trong khi gây tê và gây mê
48
Bảng 4.3. Thời gian khởi phát hiệu lực trung bình sau khi cấp thuốc
49
Bảng 4.4. Thời gian tê và thời gian mê trung bình
51
Bảng 4.5. Thời gian ăn lại trung bình của thú sau khi mổ
52
Bảng 4.6. Thời điểm đi đại tiện trung bình của chó sau khi mổ nối ruột
53
61
Bảng 4.15. Thời gian lành vết thương trung bình ở thành bụng sau khi mổ
62
Bảng 4.16. Kết quả mổ kiểm tra ruột sau khi lành vết thương
64
Bảng 4.17. Chi phí cho một ca mổ nối ruột với liệu pháp gây mê toàn thân
66
Bảng 4.18. Chi phí cho một ca mổ nối ruột với liệu pháp gây tê ngoài màng cứng
66
xii
DANH MỤC CÁC HÌNH
HÌNH
TRANG
Hình 2.1. Nội quan vùng bụng
Hình 2.9. Đường may liên tục đơn giản
22
Hình 2.10. Đường may Connell
23
Hình 2.11. Đường may Cushing
23
Hình 2.12. Phương pháp tận-nối-tận
25
Hình 3.1. Chuẩn bị thú
35
Hình 3.2. Thú mất cảm giác sau khi tiêm thuốc Zoletil
35
Hình 3.3. Vị trí lỗ thắt lưng thiêng
36
Hình 3.4. Cách xác định vị trí lỗ thắt lưng thiêng
Hình 3.12. May nối ruột bằng chỉ chromic catgut (a) và vicryl (b)
44
xiii
Hình 3.13. Vị trí mổ lại trên thành bụng sau khi lành vết thương
44
Hình 4.1. Biểu hiện vô cảm của chó sau khi gây tê
50
Hình 4.2. Biểu hiện vô cảm của chó sau khi gây mê
50
Hình 4.3. Kiểm tra phản xạ đau của thú sau khi gây mê
51
Hình 4.4. Lành vết thương thành bụng
55
Hình 4.5. May nối ruột với kiểu may gián đoạn (a) và kiểu may liên tục (b)
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Với nhu cầu nuôi chó của con người ngày càng tăng nên các giống chó ngoại
được nhập vào Việt Nam kết hợp với những giống chó trong nước tạo nên sự đa dạng
và phong phú. Tuy nhiên do ý thức của người nuôi đối với con vật cưng này chưa
cao, cách thức chăm sóc và phòng bệnh cho chó còn đang ở mức độ giới hạn, hình
thức nuôi thả tự do rất phổ biến, không kiểm soát được những bệnh trên chó. Đây là
vấn đề làm cho nhiều người nuôi quan tâm. Ngoài những bệnh truyền nhiễm, chó còn
có thể mắc một số bệnh ngoại khoa cần phải can thiệp bằng phẫu thuật.
Một trong những bệnh ngoại khoa thỉnh thoảng xảy ra cho vật nuôi là tổn
thương ở ruột, phổ biến nhất là ở đoạn ruột non. Ruột bị hoại tử có thể do bị ngoại
vật hay do tắc ruột, xoắn ruột, lồng ruột hoặc do có khối u ở ruột, những tổn thương
làm đứt mạch máu màng treo ruột (Nguyễn Văn Nhân và ctv,1987), do viêm dính
ruột trên những thú bị thoát vị ruột (hernia), do tai nạn bất ngờ trong sinh hoạt hoặc
tai nạn trong lúc phẫu thuật vô tình cắt đứt ruột rất dễ làm chết thú. Trong những
trường hợp này cách điều trị tốt nhất là phẫu thuật để nối ruột lại. Hiện nay có rất
nhiều kỹ thuật nối ruột đã được giới thiệu như phương pháp tận-nối-tận (end-toend), tận-nối-bên (end-to-side) và bên-nối-bên (side-to-side) (Swindle, 1998;
Bojrab, 1999; Fossum, 2002). Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm khác
nhau. Trong quá trình phẫu thuật, mức độ an toàn và hiệu quả của phẫu thuật phụ
thuộc rất nhiều vào phương pháp vô cảm. Mặt khác loại chỉ cũng như kiểu may gián
đoạn hoặc liên tục đã được ứng dụng để may nối ruột có thể kết quả thu được lại
khác nhau. Do đó, việc nghiên cứu kỹ thuật mổ, phương pháp gây tê ngoài màng
1
cứng cao với gây mê toàn thân để mổ vào xoang bụng, cách may và loại chỉ dùng
để nối ruột sao cho an toàn, hiệu quả là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Dọc theo đường giữa bụng, từ xương ức đến xương mu là một lớp da mỏng có
ít lông nên dễ cạo và vệ sinh sát trùng trước khi phẫu thuật.
Quan sát từ ngoài vào, có phần mô liên kết mỏng. Kế đến là lớp cơ thẳng bụng,
hai cơ này nằm song song với mặt bụng, chạy dài từ xương ức đến phần trước xương
mu. Đường trắng (Linea alba) là một lằn mô liên kết hóa keo, do hai lớp màng cơ của
cơ thẳng bụng và màng gân của cơ nghiên bụng làm thành, tại vị trí này không có
huyết quản lớn, nhưng da và các cơ lân cận có nhiều mạch máu giúp đường mổ mau
lành. Chỉ có các sợi dây thần kinh cảm giác bị cắt nên không sợ bị tê liệt.
2.1.2. Cơ thể học vùng hông
Từ ngoài vào là một lớp da tương đối mỏng, dưới lớp da là một lớp mô liên kết
dưới da.
Sau lớp mô liên kết dưới da, có 3 lớp cơ: Cơ nghiêng bụng ngoài kéo dài từ trên
sống lưng xuống dưới về phía sau; Cơ nghiêng bụng trong chạy từ lưng xuống dưới
về phía trước và chạy gần vuông góc với cơ nghiêng bụng ngoài; Cơ ngang bụng
hướng sợi cơ chạy ngang qua vùng bụng, cơ này nằm trong và tiếp giáp với phúc
mạc. Ở trong cùng là một lớp phúc mạc rất mỏng.
3
(Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/cliented/anatomy/dog_digest.aspx)
Hình 2.1. Nội quan vùng bụng
2.1.3. Ruột
Ruột bắt đầu từ hạ vị, tận cùng ở hậu môn, rất dài nhưng đường kính không
rộng, có vài chỗ phình ra nhưng không lớn lắm. Tùy theo chức năng và kích thước,
ruột được chia thành 2 phần lớn là ruột non và ruột già.
2.1.3.1. Ruột non
Ruột non của chó rất dài so với ruột già, chiều dài trung bình của ruột non ở
chó ta trưởng thành là 222,38cm (Lê Quang Thông, 1999). Ruột non có 2 đường
cả các đoạn ruột non có nhiều vi nhung mao (lông nhỏ) và các lỗ thông ra của các
tuyến ruột. Các lông xếp chi chít nhau như 1 tấm thảm nhung.
Trên thành ruột non còn có các tiểu nang bạch huyết màu trắng, kích thước
khoảng đầu đinh ghim, tụ lại thành từng đám dài từ 3-10 cm gọi là mảng Peyer’s
chạy theo đường cong lớn, hiện diện nhiều ở hồi tràng và tá tràng.
5
Các tuyến của ruột non tiết ra các enzyme tiêu hóa protein, bột đường và chất
béo. Tuyến ruột non được chia làm 2 loại bao gồm tuyến tá tràng (glandula
duodenales) hay tuyến Brunner’s chỉ có ở tá tràng và tuyến ruột (glandula
intestinales) hay tuyến Lieberkühn có ở khắp nơi trên ruột non.
2.1.3.2. Ruột già
Chiều dài trung bình của ruột già ở chó ta trưởng thành là 38,58cm; đường
kính trung bình của kết tràng và trực tràng là 1,85cm (Lê Văn Thọ, 2006). Ruột già
được chia làm 3 đoạn:
- Manh tràng (caecum) là một khúc ruột hình chữ S, nằm ở bên phải và phía
sau xoang bụng. Một đầu tự do, hướng về phía sau, đầu trước liên quan đến 2 cấu
tạo hồi tràng của ruột non và kết tràng của ruột già (ở khoảng sườn chót, bên phải).
- Kết tràng (colon) là đoạn dài nhất của ruột già, gồm một đoạn ruột hình chữ
U, với đáy chữ U hướng lên phía trước. Ở chó kết tràng giống như ở người, được
chia làm 3 phần:
+ Kết tràng lên (colon ascendens) là phần ngắn, nằm bên phải gốc màng treo ruột.
+ Kết tràng ngang (colon transversum) nằm phía trước của gốc màng treo ruột.
+ Kết tràng xuống (colon descendens) nằm ở phía trái gốc màng treo ruột.
Chỗ quẹo giữa phần lên và phần ngang gọi là khuỷu kết tràng phải và giữa phần
ngang và phần xuống gọi là khuỷu kết tràng trái. Phần cuối của kết tràng nối với trực tràng.
- Trực tràng (rectum) là đoạn cuối của ruột già, nằm hoàn toàn trong xoang
2,5 cm
Ruột non:
2,22 m
Tá tràng:
30 cm
Không tràng và hồi tràng:
1,92 m
Ruột già:
40 cm
Manh tràng:
Chiều dài:
7,86 cm
Dung tích:
250 ml
Vị trí: bên phải mặt phẳng giữa, trên vùng rốn.
Kết tràng:
Chiều dài:
Theo Nguyễn Đức Ninh và Hoàng Tích Độ (2001), xoắn ruột thường theo trục
màng treo ruột một vòng, hai vòng, có khi chỉ một quai bị xoắn, có khi gần toàn bộ
hay toàn bộ ruột non bị xoắn. Xoắn theo chiều kim đồng hồ hay ngược lại, càng
xoắn nhiều vòng, càng để lâu thì càng dễ bị hoại tử ruột.
Tắc ruột cơ học là sự ngưng trệ lưu thông của chất rắn, hơi, dịch trong lòng
ruột do sự tắc nghẽn từ góc tá không tràng cho đến hậu môn, các nguyên nhân do tại
bên trong lòng ruột (sỏi mật, bã thức ăn, búi giun, u phân), ngay tại thành ruột (ung
thư đại tràng, ruột non, hẹp lòng ruột, lồng ruột do viêm nhiễm hoặc do sẹo, khối u
máu, lồng ruột), ở bên ngoài thành ruột như ung thư phúc mạc hoặc khối u trong ổ
phúc mạc hoặc áp xe ở phúc mạc, do dính ruột, xoắn ruột (Phạm Văn Lình, 2007).
Vấn đề điều trị cắt một đoạn ruột non là bắt buộc, vì đoạn hoại tử sẽ dần dần
gây thối rữa và dẫn đến viêm phúc mạc nặng, thậm chí một đoạn ruột dài hoại tử
cũng gây ra choáng nặng cho thú.
8
Sự đánh giá tính sống còn của một đoạn ruột đã hoại tử thường rất khó, thông
thường các phẫu thuật viên dựa vào các dấu hiệu sau để xác định sự sống còn của
một đoạn ruột như màu sắc của đoạn ruột có màu xanh hoặc xanh tím khi bệnh lý,
nhưng trong điều kiện bình thường thì ruột màu hồng. Nhìn bên ngoài thành đoạn ruột
hoại tử dày cộm, hơi cứng, mất độ trơn bóng bên ngoài, sự đập của động mạch và
chảy máu khi mổ, ngoài ra còn có mùi hôi thối trong khi quan sát.
Quan sát khả năng nhu động của ruột là một trong những tiêu chí quan trọng
nhất để đánh giá được tính sống còn của đoạn ruột đoạn ruột đã hoại tử.
Lau rửa đoạn ruột có liên quan bằng cách dùng gạc thấm nước muối ấm một
vài phút (15-20phút) có thể phục hồi màu sắc và nhu động, nhưng không đảm bảo
ruột sẽ lành sau khi mổ.
Những kỹ thuật đánh giá khả năng sống của ruột bao gồm dùng phép ghi điện