i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp theo chương
trình đào tạo Thạc sĩ Lâm nghiệp khóa 17, giai đoạn 2009 - 2011,
Luận văn là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng của nhiệm vụ
cấp thiết mới phát sinh tại địa phương: “Nghiên cứu các giải pháp chống thoái
hóa, phục hồi và phát triển bền vững rừng Luồng tại Thanh Hóa”.
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của Khoa Sau Đại học cũng như của các thầy, cô giáo Trường
Đại học Lâm nghiệp và các cán bộ nghiên cứu Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt
Nam.
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới PGS.TS Trần Văn
Con - TS Đặng Thịnh Triều người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, truyền
đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt
thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn.
Tác giả xin cảm ơn phòng Nghiên cứu Kỹ thuật Lâm sinh, Chi cục Lâm
nghiệp Thanh Hóa, các Ban Quản lý rừng phòng hộ, các công ty Lâm nghiệp tỉnh
Thanh Hóa, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả triển khai đề tài cũng như thu
thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người
thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập và kết quả tính toán là trung thực và được
trích dẫn rõ ràng.
Hà Nội, năm 2011
Tác giả
ii
3.1.2. Điều kiện dân số – kinh tế - xã hội .................................................. 43
3.2. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội huyện Bá Thước ......................... 44
3.2.1. Điều kiện tự nhiên ........................................................................... 44
iii
3.2.2. Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội............................................... 46
3.3. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội huyện Lang Chánh ...................... 49
3.3.1. Điều kiện tự nhiên ........................................................................... 49
3.3.2. Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội ............................................... 51
3.4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của 3 huyện ..... 52
3.4.1. Thuận lợi.......................................................................................... 52
3.4.2. Khó khăn ......................................................................................... 53
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 55
4.1. Sinh khối cây cá lẻ và lâm phần Luồng ................................................ 55
4.1.1. Cấu trúc sinh khối cây cá lẻ Luồng ................................................. 55
4.1.2. Sinh khối lâm phần Luồng tại khu vực nghiên cứu ........................ 60
4.2. Nghiên cứu lượng dinh dưỡng hoàn trả cho đất từ vật rơi rụng và vật
liệu để lại sau khai thác của rừng Luồng ...................................................... 63
4.2.1. Nghiên cứu hàm lượng dinh dưỡng hoàn trả cho đất từ vật rơi rụng.... 64
4.2.2. Nghiên cứu hàm lượng dinh dưỡng hoàn trả cho đất từ vật liệu để
lại sau khai thác ......................................................................................... 68
4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân tới các chỉ tiêu sinh
trưởng và phát triển của rừng Luồng tại huyện Bá Thước ........................... 71
4.3.1. Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng đường kính và chiều cao
của cây Luồng ở Bá Thước ....................................................................... 72
4.3.2. Ảnh hưởng của phân bón đến hệ số sinh măng của lâm phần Luồng
tại huyện Bá Thước ................................................................................... 75
4.4. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm phát triển bền vững rừng
G
Tiết diện ngang thân cây
Hvn
Chiều cao vút ngọn
K
Kali
k
Thời gian phân hủy (năm)
M
Trữ lượng rừng
Mg
Magie
Mk(c)
Sinh khối khô cành sau khi sấy ở 1050C (kg)
Mk(l)
Mt(t)
Sinh khối tươi thân (kg)
Mti
Khối mẫu tươi của bộ phận i (kg)
Mtươi/cây Tổng sinh khối tươi cây cá lẻ (kg)
N
Nitơ
N(cây/ha) Mật độ rừng Luồng
P
Photpho
Si
Silicate
T
Thời gian phân hủy (năm)
Wi
Hàm lượng nước trong bộ phận i (%)
2.3
Điều tra sinh trưởng rừng Luồng
38
2.4
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
Các công thức thí nghiệm bón phân tại Bá Thước –
Thanh Hóa
Cấu trúc sinh khối khô cây cá lẻ Luồng tại khu vực
nghiên cứu
Sinh khối cây cá lẻ Luồng tại khu vực nghiên cứu phân
theo chất lượng (cấp kính)
Tỷ lệ nước trong các bộ phận của cây Luồng ở các cấp
tuổi khác nhau (%)
vii
4.9
So sánh hàm lượng dinh dưỡng hoàn trả cho đất và
lượng dinh dưỡng mang ra khỏi rừng
70
Kết quả phân tích phương sai về ảnh hưởng của phân
4.10
bón đối với chỉ tiêu đường kính ngang ngực và chiều cao
72
của lâm phần Luồng
4.11
4.12
Kiểm tra sự sai khác sinh trưởng D1.3 và Hvn giữa các
73
CTTN
Phân nhóm ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng
đường kính và chiều cao cây Luồng
Tên hình
TT
Trang
2.1
Chu trình vật chất hệ sinh thái rừng
28
2.2
Sơ đồ trình tự các bước nghiên cứu
30
Tổng sinh khối khô cây cá lẻ Luồng ở các bộ phận
4.1
khác nhau
56
4.2
So sánh khối lượng sinh khối tính trên 1ha của 3 huyện
62
năng suất và chất lượng sản phẩm rừng sẽ không đạt hiệu quả cao. Với mục
tiêu của các nhà lâm học là phát triển rừng bền vững, phát huy tối đa được các
chức năng của hệ sinh rừng thì việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp kỹ thuật
lâm sinh tác động phù hợp cho từng đối tượng rừng là việc làm hết sức quan
trọng. Bón phân chính là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh
2
mang lại hiệu quả cao, nó góp phần bổ sung lượng dinh dưỡng thiếu hụt cho
hệ sinh thái rừng một cách nhanh chóng và kịp thời nhất mà bất cứ một loại
cây trồng nào, muốn tăng năng suất và chất lượng cũng đều cần phải có sự tác
động của phân bón.
Luồng (Dendrocalamus barbatus Hsuech et D.Z.Li) là một trong
những loài cây đa tác dụng và có giá trị kinh tế cao. Với đặc điểm dễ gây
trồng, mức đầu tư thấp, khi trưởng thành lại được khai thác hàng năm nên
Luồng đã mang lại thu nhập thường xuyên, đảm bảo lấy ngắn nuôi dài cho
người dân làm nghề rừng. Ngoài ra, rừng trồng Luồng còn có khả năng phòng
hộ tốt nên đã trở thành loài cây trồng rừng chính và đóng vai trò là nguồn thu
nhập lớn ở nhiều địa phương trên cả nước. Thanh Hóa là một địa phương điển
hình có diện tích trồng Luồng lớn nhất cả nước (gần 70.000 ha, với trữ lượng
khoảng 102 triệu cây, chiếm khoảng 55% tổng diện tích Luồng cả nước)[26],
thu nhập từ kinh doanh rừng Luồng có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân
tại đây.
Tuy nhiên, qua thời gian dài kinh doanh dài, nhiều diện tích rừng
Luồng ở Thanh Hóa đã và đang bị thoái hóa. Nguyên nhân chủ yếu là do khâu
trồng và khai thác, sức ép của đời sống nên nhiều hộ dân khai thác không theo
quy trình, quy phạm. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng
cũng như thu nhập của người dân từ rừng Luồng. Khi hiệu quả sản xuất của
cây Luồng trên đơn vị diện tích không cao so với các loài cây trồng khác thì
sinh lý thực vật, đặc biệt là nghiên cứu vai trò và hoạt động của diệp lục thực
vật màu xanh trong quá trình quang hợp để tạo nên các sản phẩm hữu cơ dưới
tác động của các nhân tố tự nhiên như: đất, nước, không khí và năng lượng
ánh sáng mặt trời. Tiêu biểu cho lĩnh vực này có tác giả sau:
- Liebig, J (1840)[39] lần đầu tiên đã định lượng về sự tác động của
thực vật tới không khí và phát triển thành định luật "tối thiểu". Mitscherlich,
E.A. (1954) đã phát triển luật tối thiểu của Liebig, J. thành luật "năng suất".
- Riley, G.A (1944), Steemann Nielsen, E (1954), Fleming, R.H. (1957)
đã tổng kết quá trình nghiên cứu và phát triển sinh khối rừng trong các công
trình nghiên cứu của mình [45].
Việc xây dựng các phương pháp nghiên cứu định lượng, các mô hình
dự báo sinh khối cây rừng được thực hiện từ rất sớm, nhiều công trình nghiên
cứu đã sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong việc xác định như:
Công nghệ viễn thám, hóa học,... Cho đến nay, các nhà khoa học đã xác định
sinh khối bằng việc áp dụng thông qua các mối quan hệ giữa sinh khối cây
5
với các nhân tố điều tra cơ bản, dễ đo đếm như đường kính ngang ngực, chiều
cao cây, giúp cho việc dự đoán sinh khối nhanh chóng, kinh tế hơn.
- Năm 1956, tại Ấn Độ, các tác giả P.S.Roy, K.G. Saxena và D.S.
Kamat đã sử dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) với
các công cụ như: Ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, laze, rada, hệ thống định vị
toàn cầu (GIS)... để điều tra sinh khối, đo đếm lượng Carbon trong hệ sinh
thái và biến đổi của chúng. Với công trình nghiên cứu: "Đánh giá sinh khối
thông qua viễn thám” đã nêu tổng quát vấn đề sản phẩm sinh khối và việc
đánh giá sinh khối bằng ảnh vệ tinh (dẫn theo Lý Thu Quỳnh, 2007)[20].
- Năm 1963, hai tác giả Aruga và Maidi đã đưa ra phương pháp
“Chlorophyll” để xác định sinh khối thông qua hàm lượng Chlorophyll trên
sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ 10 - 50 tấn/ha/năm, trung
bình là 20 tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60 - 800 tấn/ha/năm, trung bình
là 450 tấn/ha/năm (dẫn theo Lê Hồng Phúc, 1996)[15]. Cũng trong năm này,
tác giả Dajoz đã đưa ra một số kết quả về năng suất sơ cấp của một số hệ sinh
thái như sau:
Năng suất mía ở châu Phi: 67 tấn/ha/năm;
Năng suất rừng nhiệt đới thứ sinh ở Yangambi: 20 tấn/ha/năm;
Savana cỏ Mỹ (Penisetum purpureum) châu Phi: 30 tấn/ha/năm;
Đồng cỏ tự nhiên ở Fustuca (Đức): 10,5 - 15,5 tấn/ha/năm;
Đồng cỏ tự nhiên Deschampia và Trifolium ở vùng ôn đới là 23,4
tấn/ha/năm;
Sinh khối của Savana cỏ cao Andrôpgon (cỏ Ghine): 5000 - 10000
kg/ha/năm;
(theo Cromer and Williams, 1982); Leucaena leucocephala ở tuổi 5 là 47
tấn/ha (theo Pandey et al, 1989); Pinus caribaea ở tuổi 6 là 87 tấn/ha
(Madgwick et al, 1977)[48].
Kế tiếp là công trình nghiên cứu của tác giả Anand Narain Singh về
sinh khối của loài Dendrocalamus strictus (1998)[32], đã cho thấy tổng lượng
sinh khối ở rừng trồng 3 tuổi xác định được là khoảng 46,9 tấn/ha; rừng tuổi 5
là 74,4 tấn/ha, trong đó 35% là sinh khối dưới mặt đất. Mặt khác, đối với
những loài tre trồng trên đất mỏ có sinh khối lớn hơn so với các nghiên cứu
trước đây, đạt khoảng 30 - 49 tấn/ha. Ở một số vùng khác, người ta xác định
8
được lượng sinh khối trên mặt đất vào khoảng 0,8 đến 24 tấn/ha (Veblen et
al., 1980; Taylor và Zisheng, 1987; Rao và Ramakrishnan, 1989; Tripathi và
Singh, 1996). Sinh khối trên mặt đất của loài Sasa kurilensis ở Nhật Bản là 90
tấn/ha (Oshima, 1961); Chusquea culeou ở San Pablo, Andes là 158,8 tấn/ha
(Veblen et al., 1980) và Arundinaria alpina ở Kenya là 100 tấn/ha
(Wimbush, 1945).
1.1.1.2. Nghiên cứu về dinh dưỡng rừng trồng
Năm 1996, Shanmughavel và Francis đã nghiên cứu về chu trình dinh
dưỡng trong rừng Bambusa bambos. Khi tiến hành phân tích thành phần dinh
dưỡng trong các bộ phận khác nhau của cây đều cho thấy hàm lượng dinh
dưỡng tăng theo tuổi, đối với lá cây khối lượng các chất dinh dưỡng giảm dần
theo thứ tự N>K>Mg>Ca>P khác so với ở thân, cành, thân ngầm là
K>N>Mg>Ca>P. Khi so sánh với các nghiên cứu về sự hấp thu và hoàn trả
dinh dưỡng ở loài Pinus patula (Bhartari 1986), Dalbergia sissoo (Sharma et
al. 1988), Eucalyptus grandis (Westmann 1978; Turner and Lambert 1983),
and E.globulus (George and Varghese 1990), thì ở Bambusa bambos lượng
dinh dưỡng hoàn trả lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, lượng dinh dưỡng được sử
trọng trong quá trình tuần hoàn vật chất. Dưới tác dụng của các yếu tố môi
trường vật rơi rụng bắt đầu chuyển hóa thành các chất đơn giản đó là mùn.
Đây là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình hình thành đất,
mặt khác mùn là chất có dung tích chứa khí và khả năng giữ nước lớn, vì vậy
mà nó có ý nghĩa rất lớn đối với sinh trưởng, phát triển và thủy văn rừng…
Nghiên cứu đặc điểm vật rơi rụng dưới tán rừng có ý nghĩa quan trọng trong
sản xuất lâm nghiệp và là một trong nhiều cơ sở cho việc tìm ra các giải pháp
kỹ thuật bảo vệ đất, phát huy tốt tiềm năng của những loại rừng. Hiện nay, đã
có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vật rơi rụng của các tác giả trên
thế giới và trong nước được ghi nhận.
10
Một trong những công trình nghiên cứu sơ khai nhất về vật rơi rụng
phải kể đến là công trình nghiên cứu của tác giả Richard P.W (1952), đã
khẳng định rất chính xác rằng chất hữu cơ trong các mô sống ở rừng chiếm 80
- 90% tổng lượng chất hữu cơ, còn lại 10 - 20% chất hữu cơ tồn tại ở vật rơi
rụng và ở trong đất, khi lớp phủ thực vật mất đi, đồng thời điều kiện nhiệt ẩm
cao ở vùng nhiệt đới làm cho vật rơi rụng bị phân giải nhanh chóng thì đất
rừng bị thoái hóa mạnh và không thể phục hồi lại được. Do vậy có thể nói
“Rừng nhiệt đới nuôi đất” [44].
Năm 1965, hai nhà khoa học Rodin và Basilevich [46] đã kết luận cấu
trúc vật rơi rụng gồm cành khô, lá rụng và cây chết, đồng thời kết quả nghiên
cứu đã chỉ ra cấu trúc vật rơi rụng bao gồm:
- Phần tươi: 40 - 50% (ở rừng ôn đới), 20 - 30% (ở rừng nhiệt đới)
- Phần trên mặt đất đã tích lũy lâu năm: 30 - 40 %
- Phần rễ cây chết: 5 - 10%
Năm 1978, tác giả E. Ebermayer đã có những kết luận về ảnh hưởng
của tổ thành rừng đến sản lượng vật rơi rụng và đề cập đến tuần hoàn dinh
= 𝐞−𝐤∗𝐭
(1.1)
Trong đó:
X0: Lượng vật rơi rụng trước khi bắt đầu phân hủy
X: Lượng vật rơi rụng còn thừa lại sau thời gian phân hủy nhất định
t: Thời gian phân hủy (năm)
k: Hệ số phân hủy
Thông qua phân tích hồi quy, tác giả thu được kết quả như sau: Vật rơi
rụng của loại hình thực bì khác nhau thì tỷ lệ phân hủy và thời gian cần thiết
cho phân hủy của phương pháp khung lưới lớn hơn phương pháp túi lưới.
Năm 1988 - 1995, một số tác giả đã áp dụng phương pháp khung lưới tiến
hành phân tích thí nghiệm phân hủy cành khô, lá rụng của rừng nguyên thủy
và rừng mưa nhiệt đới miền núi Tiêm Phong Lĩnh. Theo kết quả thí nghiệm
áp dụng mô thức quá trình phân hủy vật rơi rụng của Olson cho tỷ lệ vật rơi
rụng còn lại (X0/X) và thời gian phân giải (t) có tương quan âm (-) rất rõ: Chu
1.1.3. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón tới sinh trưởng,
phát triển cây rừng
Bón phân là một trong những biện pháp thâm canh rừng hết sức quan
trọng, nó không chỉ góp phần bù đắp lượng dinh dưỡng của đất đã mất đi mà
còn kích thích vi sinh vật đất hoạt động giúp cải thiện kết cấu đất, cải thiện độ
xốp và tăng khả năng giữ ẩm cho đất. Ngoài ra, bón phân còn có tác dụng
tổng hợp đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng, song
mỗi loại phân bón lại có tác dụng riêng đến từng loại cây trồng khác nhau.
13
Vai trò của phân bón đối với đời sống cây trồng là vô cùng quan trọng, song
bón loại phân nào? Tỷ lệ là bao nhiêu đối với từng loại cây rừng theo mục
tiêu kinh doanh? Đây chính là các vấn đề về phân bón đã và đang được các
nhà khoa học trên thế giới và trong nước nghiên cứu. Sau đây là một số công
trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
Vấn đề bón phân cho cây rừng hiện nay đã được nhiều nhà khoa học
quan tâm ở các mức độ khác nhau. Năm 1963, tác giả Turbitxki đã nhận định
rằng các biện pháp bón phân sẽ được hoàn thiện một cách đúng đắn theo sự
hiểu biết sâu sắc nhu cầu của cây, đặc điểm của đất và loại phân bón. Theo
Prianitnikov (1964), phân bón chính là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây
sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây cần có những nghiên cứu
cụ thể để tránh sự lãng phí phân bón không cần thiết. Ngoài ra, Andre Grro
(1967) đã nghiên cứu về vai trò của nguyên tố khoáng đa lượng đối với cây
con gieo ươm, nó có tác dụng giúp cây sinh trưởng tốt, tạo điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển của bộ rễ, làm cho cây cứng cáp, tăng sức đề kháng, giảm
quá trình thoát hơi nước và điều hòa hoạt động sống làm cho cây khỏe mạnh
và tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường (dẫn theo
Nguyễn Thị Phương, 2010)[16].
kết quả nghiên cứu bước đầu đã đem lại những thành tựu quan trọng và có ý
nghĩa trong việc áp dụng các phương pháp xác định sinh khối của các dạng
rừng hiện nay.
- Năm 1986, Hoàng Mạnh Trí với công trình nghiên cứu “Sinh khối và
năng suất rừng Đước”, tác giả đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” để nghiên
cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng Đước đôi (Zhizophora
apiculata) ở rừng ngập mặn ven biển Minh Hải. Đây là đóng góp có ý nghĩa
lớn về mặt lý luận và thực thiễn đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển
nước ta [27].
15
- Năm 1996, trong công trình nghiên cứu “Đánh giá sinh trưởng, tăng
trưởng, sinh khối và năng suất rừng Thông ba lá (Pinus keysia Royle ex
Gordon) vùng Đà Lạt - Lâm Đồng”, tác giả Lê Hồng Phúc đã tìm ra quy luật
tăng trưởng sinh khối, cấu trúc thành phần tăng trưởng sinh khối thân cây. Tỷ
lệ sinh khối tươi, khô của các bộ phận thân, cành, lá, rễ, lượng rơi rụng, tổng
sinh khối cá thể và quần thể rừng Thông ba lá [15].
- Vũ Văn Thông (1998)[25] với công trình “Nghiên cứu cơ sở xác định
sinh khối cây cá lẻ và lâm phần Keo lá tràm (Accia auriculiformis Cunn) tại
tỉnh Thái Nguyên” đã giải quyết được một số vấn đề thực tiễn đặt ra, đó là
nghiên cứu và xây dựng mô hình xác định sinh khối Keo lá tràm, lập các bảng
tra sinh khối tạm thời phục vụ cho công tác điều tra kinh doanh rừng.
- Cũng với loài Keo lá tràm, Hoàng Văn Dưỡng (2000) đã tìm ra quy
luật quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh khối với các chi tiêu biểu thị kích thước
của cây, quan hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô các bộ phận thân cây
Keo lá tràm. Nghiên cứu cũng đã lập được biểu tra sinh khối và ứng dụng
biểu xác định sinh khối cây cá lẻ và lâm phần Keo lá tràm [5].
- Đỗ Như Chiến (2000)[3] với công trình nghiên cứu “Bước đầu nghiên
lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và trong vật
rơi rụng) là 251,1 - 433,7 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô thân là
132,2 - 223,4 tấn/ha.
- Vũ Tấn Phương (2006)[17] khi nghiên cứu về sinh khối cây bụi thảm
tươi tại Đà Bắc - Hòa Bình; Hà Trung, Thạch Thành, Ngọc Lặc - Thanh Hóa
cho kết quả: Sinh khối tươi biến động rất khác nhau giữa các loại thảm tươi
cây bụi: Lau lách có sinh khối tươi cao nhất, khoảng 104 tấn/ha, tiếp đến là
trảng cây bụi cao 2 - 3 m có sinh khối tươi đạt khoảng 61 tấn/ha. Các loại cỏ
như: cỏ lá tre, cỏ tranh và cỏ chỉ (hoặc cỏ lông lợn) có sinh khối biến động
khoảng 22 - 31 tấn/ha. Về sinh khối khô: lau lách có sinh khối khô cao nhất,
17
40 tấn/ha; cây bụi cao 2 - 3 m là 27 tấn/ha; cây bụi cao dưới 2 m và tế guột là
20 tấn/ha; cỏ lá tre 13 tấn/ha; cỏ tranh 10 tấn/ha; cỏ chỉ, cỏ lông lợn 8 tấn/ha.
- Lý Thu Quỳnh (2007)[20], “Nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp
thụ Carbon của rừng Mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang
và Phú Thọ” cho thấy: Cấu trúc sinh khối cây cá lẻ Mỡ gồm 4 phần thân,
cành, lá và rễ, tương ứng với tỷ lệ sinh khối tươi lần lượt là: 60%, 8%, 7% và
24%; tổng sinh khối tươi của một ha rừng trồng Mỡ dao động trong khoảng từ
53,440 - 30,9689 tấn/ha (trong đó: 86% là sinh khối tầng cây gỗ, 6% là sinh
khối cây bụi thảm tươi và 8% là sinh khối của vật rơi rụng).
- Nguyễn Duy Kiên (2007)[11], khi nghiên cứu khả năng hấp thụ
carbon rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho
thấy sinh khối tươi trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn
định, sinh khối tươi tầng cây cao chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75 - 79%; sinh
khối cây bụi thảm tươi chiếm tỷ trọng 17 - 20%; sinh khối vật rơi rụng chiếm
tỷ trọng 4 - 5%.
1.2.1.2. Những nghiên cứu về dinh dưỡng rừng Luồng