i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu là do tôi thực hiện và các số liệu trong
luận văn này là trung thực, các thông tin tham khảo đều có trích dẫn nguồn tài liệu.
Một số nội dung trong luận văn này có liên quan đến và là một phần của đề tài
“Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm lươn đồng
Monopterus albus quy mô nông hộ” do Viện Nghiên cứu NTTS 3 chủ trì mà tôi cũng
là thành viên nghiên cứu và được phép sử dụng các số liệu để báo cáo.
Nha Trang, ngày 30 tháng 10 năm 2008
Người viết cam đoan Hồ Thị Bích Ngân
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình và những
giúp đỡ hữu ích của nhiều tập thể và cá nhân.
Nhân đây tôi xin được chân thành tri ân Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa
và các thầy cô của Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang và các thầy
cô tham gia giảng dạy lớp Cao học NTTS 2005. Những kiến thức quý giá mà thầy cô
đã giảng dạy là nền tảng để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp cũng như những
công việc chuyên ngành trong tương lai.
Đặc biệt, tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Hoàng Tùng (Khoa Công
nghệ Sinh học, Trường Đại học Quốc tế TP HCM). Thầy đã có những hướng dẫn quý
báu giúp tôi trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu và giúp tôi hoàn thiện luận văn
đất, chúng tôi tiến hành thí nghiệm với bốn nghiệm thức mật độ nuôi khác nhau (0,5;
1; 2; 3 kg/m
2
- cỡ giống 40 con/kg) và ba nghiệm thức sử dụng thức ăn (thức ăn tươi,
thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp). Kết quả thí nghiệm cho thấy mật độ nuôi có
ảnh hưởng đến tăng trưởng của lươn và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi (P<0,05).
Sử dụng thức ăn tươi và chế biến đều mang lại hiệu quả về mặt sinh trưởng và kinh tế
của lươn nuôi là như nhau và cao hơn nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp
(P<0,05). Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút kết được mô hình nuôi lươn trong bể
nylon có mô đất với mật độ nuôi thích hợp nhất là 1 kg/m
2
, có thể sử dụng thức ăn tươi
hoặc thức ăn chế biến. iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Phần 1: TỔNG QUAN 3
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LƯƠN ĐỒNG 3
1.1.1. Thế giới 3
1.1.2. Việt Nam 6
1.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LƯƠN ĐỒNG 10
Phần 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN LƯƠN DÙNG LÀM THÍ NGHIỆM .12
2.1.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 12
2.1.2. Nguồn lươn dùng làm thí nghiệm 12
2.2. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 13
3.4.2. Ảnh hưởng của loại thức ăn đến sinh trưởng của lươn 34
3.4.3. Ảnh hưởng của loại thức ăn đến tỷ lệ sống của lươn 37
3.5. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI VÀ LOẠI THỨC ĂN 37
3.5.1. Ảnh hưởng của mật độ đến các chỉ tiêu sản xuất và hiệu quả kinh tế 37
3.5.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến các chỉ tiêu sản xuất và hiệu quả kinh tế 41
3.6. THẢO LUẬN 43
3.7. ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NUÔI THƯƠNG PHẨM LƯƠN ĐỒNG 45
3.7.1. Lựa chọn địa điểm 45
3.7.2. Bể nuôi và chuẩn bị bể nuôi 45
3.7.3. Nguồn nước và chế độ thay nước 46
3.7.4. Thả lươn giống 46
3.7.5. Phương pháp cho ăn và chế độ chăm sóc quản lý 47
3.7.6. Thu hoạch 47
Phần 4: KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thành phần amino acid của thịt ốc bươu vàng tươi 9
Bảng 2.1. Kết quả khảo sát các yếu tố môi trường tại địa điểm nghiên cứu 12
Bảng 2.2. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp và 19
Hình 3.6. Thời gian nuôi hồi phục lươn đến khi chúng ăn mồi 27
Hình 3.7. Tỷ lệ sống và thời gian ăn mồi của lươn nuôi hồi phục bằng 27
Hình 3.8. Tăng trưởng của lươn nuôi ở các mật độ khác nhau 29
Hình 3.9. Hệ số biến thiên về khối lượng của lươn 30
Hình 3.10. Tỷ lệ (%) các nhóm khối lượng lươn lúc thu hoạch 31
Hình 3.11. Tỷ lệ sống của lươn nuôi ở các mật độ khác nhau 32
Hình 3.12. Tăng trưởng của lươn nuôi ở các nghiệm thức thức ăn khác nhau 34
Hình 3.13. Hệ số biến thiên về khối lượng của lươn 35
Hình 3.14. Tỷ lệ (%) các nhóm khối lượng lươn lúc thu hoạch 36
Hình 3.15. Tỷ lệ sống của lươn nuôi ở các nghiệm thức khác nhau 37
Hình 3.16. Chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận ở các nghiệm thức khác nhau 40
Hình 3.17. Tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận biên 41
Hình 3.18. Chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận ở các nghiệm thức khác nhau 42
Hình 3.19. Tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận biên ở các nghiệm thức khác nhau 43
1
MỞ ĐẦU
Lươn đồng (Monopterus albus) sống chui rúc trong bùn, phân bố tự nhiên trong
các thủy vực nước ngọt khắp nước ta. Đây là đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao,
giá trị xuất khẩu, giàu dinh dưỡng và được người tiêu dùng ưa chuộng. Nuôi lươn là
hoạt động sản xuất cần ít vốn đầu tư, có thể thực hiện ở nhiều loại công trình như bể
ximăng, ao lót bạt hay bồn nuôi trên cạn. Ngoài ra, có thể tận dụng công lao động nhàn
rỗi trong gia đình và nguồn thức ăn sẵn có, rẻ tiền ở địa phương như tôm, cá tạp, ốc
bươu vàng, phụ phế phẩm lò mổ để nuôi lươn. Nuôi lươn thích hợp với việc phát
triển giúp xóa đói giảm nghèo, cải thiện thu nhập. Vì vậy, lươn đồng được xem là đối
tượng nuôi thủy sản của nông dân nghèo vùng nông thôn.
Lươn đồng đã được nuôi ở một số quốc gia châu Á như Philippine, Indonexia,
Trung Quốc… Ở nước ta, trong vài năm trở lại đây, nhiều hộ dân vùng An Giang, Cần
Ý nghĩa của đề tài: cung cấp thêm dữ liệu và thông tin thực tiễn về kỹ thuật
nuôi lươn đồng. Nếu thành công, đề tài sẽ tạo ra nghề nuôi mới góp phần đa dạng hóa
đối tượng nuôi cho địa phương.
3
Phần 1: TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LƯƠN ĐỒNG
1.1.1. Thế giới
Nghề nuôi trồng thủy sản có mức tăng trưởng nhanh nhất trong các lĩnh vực sản
xuất lương thực, thực phẩm. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 8,9% kể từ
năm 1970 so với tỷ lệ ở khai thác là 1,2% và 2,8% ở nghề nuôi các động vật trên cạn
(FAO 2004)[19]. Theo dự đoán của Ye (1999)[47] thì đến năm 2030 cần phải có 130
triệu tấn sản phẩm thủy sản cung ứng cho nhu cầu tiêu dùng của thế giới và nuôi trồng
thủy sản sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng đủ mức sản lượng này. Nghề
nuôi trồng thủy sản nước ngọt đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đáp ứng cho
người dân nông thôn, đặc biệt là người nghèo với các đối tượng nuôi phong phú như
cá chép, mè, trôi, tôm càng xanh, cá chình, cá rô phi… Lươn đồng (Monopterus albus)
cũng là một đối tượng nuôi khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Nghiên cứu về
lươn đồng được tiến hành từ rất sớm với nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố.
Các nghiên cứu về lươn (Monopterus albus) chủ yếu tập trung về hình thái,
sinh lý, sinh thái, kiểm soát bệnh, di truyền ở mức độ phân tử, đa dạng nguồn gen
(Chen et al. 1968, Lu et al. 2006, Tang et al. 1974, Tao et al. 1993, Wei et al.
2006…)[16, 27, 39, 40, 43]. Nghiên cứu về nuôi và sinh sản nhân tạo đối tượng này
còn hạn chế do đặc tính đào hang, thở khí trời và có hiện tượng chuyển đổi giới tính
trong suốt quá trình thành thục. Mặc dù vậy, lươn đã được nuôi phổ biến khắp Trung
Quốc trong nhiều thập kỷ qua từ nguồn giống tự nhiên và sinh sản tự nhiên. Cho đến
nay thì việc nghiên cứu cũng như trong thực tiễn sản xuất về sinh sản nhân tạo và nuôi
thương phẩm lươn ở quốc gia này có nhiều tiến bộ đáng kể (Wei et al. 2006)[43].
lươn đồng, giai đoạn 1 năm tuổi. Kết quả chỉ ra rằng, hệ số thành thục tăng và hàm
lượng melondialdehyde (MDA)- sản phẩm của quá trình peroxy hóa Lipid- trong
huyết tương giảm một cách có ý nghĩa (P<0,05) ở khẩu phần có bổ sung vitamin E liều
lượng cao. Khẩu phần có bổ sung vitamin A và C cao cũng có kết quả tương tự, tuy
nhiên sự sai khác này thì không có ý nghĩa về mặt thống kê. Kháng thể Ig M trong
huyết thanh tăng một cách có ý nghĩa ở khẩu phẩn được bổ sung vitamin C mức cao.
Sự tập trung Canxi ở xương cho thấy có ý nghĩa khi có sự bổ sung vitamin D và A,
trong khi hàm lượng photpho ở xương thì không bị ảnh hưởng bởi khẩu phần với các
mức vitamin.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tỷ lệ nở của lươn
(Monopterus albus) cho thấy, nhiệt độ tối ưu cho giai đoạn này là 25-28
0
C. Và ảnh hưởng
5
của pH trong phạm vi từ 5,5-9,5 đến tỷ lệ nở của trứng thì không có sự khác biệt có ý
nghĩa. Đồng thời tỷ lệ nở của trứng cao hơn ở phương pháp ấp có nước chảy nhẹ so với
nước tĩnh. Tỷ lệ nở cũng giảm khi hàm lượng amonia tăng (Shaowu et al. 2004)[37].
Guan et al. (1996)[20] thử nghiệm sinh sản nhân tạo lươn đồng bằng cách tiêm
chất kích thích sự tiết kích dục tố của tuyến yên (LH-RHa). Kết quả không có sự khác
nhau có ý nghĩa giữa 3 mức liều lượng LH-RHa sử dụng là 0,1; 0,2 và 0,3 g LH-RHa
/g lươn. Kết quả cũng cho thấy tỷ lệ thụ tinh cao hơn có ý nghĩa ở dung dịch thụ tinh
0,3% NaCl so với 3 dung dịch khác là 0,5%, 1% NaCl và nước. Thời gian nở của trứng
là 140h ở nhiệt độ nước 28-30
0
C. Sử dụng loài Tubifex spp làm thức ăn để ương ấu
trùng cho tốc độ tăng trưởng cao hơn động vật phù du và thức ăn nhân tạo.
Luo (2007)[28] nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan đến sự tiêu
thụ thức ăn và sinh trưởng của lươn đồng (Monopterus albus) nhằm đưa ra phương
nghiên cứu chuyên ngành thủy sản ở miền Bắc cũng có nghiên cứu về loài lươn sống ở
phía Bắc nhưng chưa được công bố. Theo Ngô Trọng Lư (2007)[7] thử nghiệm nuôi
sinh sản lươn trước đây đã được Trạm Nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng thực hiện
và thu được 300 lươn giống, cỡ 8-12 cm sau 2 tháng nuôi 20 con lươn bố mẹ trong
mùa sinh sản. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trên vẫn không áp dụng được vào thực
tiễn vì thực tế hiện nay nguồn giống cho nuôi thương phẩm được khai thác từ tự nhiên.
Trong các sách hướng dẫn kỹ thuật nuôi lươn, các tác giả thường đề cập đến kỹ thuật
sinh sản nhân tạo lươn ở Trung Quốc là sử dụng não thùy thể, HCG, LRH-A để kích
thích lươn đẻ (Ngô Trọng Lư 2007; Việt Chương & Nguyễn Việt Thái 2007)[7, 12].
Một số nhà khoa học của Trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu đặc
điểm sinh học sinh sản và dinh dưỡng của lươn đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long
nhằm cung cấp thông tin cho việc phát triển kỹ thuật sinh sản nhân tạo và nuôi thương
phẩm cũng như làm tư liệu cho giảng dạy. Kết quả nghiên cứu khẳng định lươn là loài
ăn động vật thông qua chỉ số RLG (relative length of gut - dao động từ 0,25 – 1,03 và
trung bình là 0,65). Kết quả cũng cho thấy, lươn cái có chiều dài cơ thể nhỏ hơn 30
cm, lươn đực >50 cm, những con lươn có kích thước từ 30-50 cm là những con lưỡng
tính. Chiều dài cơ thể và khối lượng lươn cái thành thục là lớn hơn 25 cm và 16 g. Sức
sinh sản của lươn dao động từ 143-6.813 trứng/con mẹ và mùa vụ sinh sản của lươn là
mùa mưa (Nguyen Anh Tuan et al. 2007; Lý Văn Khánh et al. 2008)[31, 5]. Đo Thi
Thanh Huong et al. (2008)[18] thử nghiệm sinh sản nhân tạo lươn đồng bằng cách
tiêm kích dục tố HCG (ở 3 mức liều lượng là 1000 UI/kg, 1500 UI/kg và 2000 UI/kg)
và chất kích thích sự tiết kích dục tố LH-RHa (ở 3 mức liều lượng 50, 100 và 150
g/kg). Kết quả nghiên cứu cho thấy, lươn ở tất cả các nghiệm thức đều đẻ nhưng với
tỷ lệ khác nhau. Lươn được tiêm LH-RHa với liều lượng 150 g/kg có tỷ lệ đẻ cao
nhất 75%. Tỷ lệ nở cao nhất 86% ở nhóm tiêm HCG với liều lượng 2000 UI/kg. Kích
7
cỡ trung bình của lươn bột mới nở là 1,7 ± 0,1 cm và sau 7 ngày là 2,9 ± 0,1 cm. Đồng
thời cũng có thông tin, trường đại học Cần Thơ đã bước đầu sinh sản nhân tạo lươn
tiến từ tài liệu hướng dẫn của IIRR et al (2001)[23]. Trong nuôi thương phẩm lươn
đồng, chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí sản xuất. Việc giảm chi phí thức ăn
đồng nghĩa với việc tăng thêm lợi nhuận cho sản xuất. Ốc bươu vàng được xem là một
trong những nguyên liệu thức ăn rẻ tiền và có chất lượng. Chúng có thành phần dinh
dưỡng tương tự như nguyên liệu cá với hàm lượng Protein thô trên 54% vật chất khô.
Hertrampf and Piedad-Pascual (2000)[22] cho rằng ốc bươu vàng có thể trở thành
nguồn protein triển vọng nhất để thay thế một phần hoặc hoàn toàn cá tạp trong sử
8
dụng làm thức ăn nuôi thủy sản. Orapint et al. (2004)[32] nghiên cứu sử dụng ốc bươu
vàng thay thế thành phần cá tạp trong thức ăn nuôi tôm càng xanh. Thí nghiệm tiến
hành thay thế 0, 25, 50, 75, 100% protein của thành phần cá bằng protein của ốc bươu
vàng trong chế biến thức ăn cho tôm càng xanh. Kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng ốc có
thể thay thế hoàn toàn cá tạp trong giai đoạn ngắn ít hơn 2 tháng. Trong thực tế, ốc có
thể thay thế thành phần cá tạp ở tỷ lệ 25% protein mang lại hiệu quả nhất.
Vào những năm cuối thập kỷ 80, ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata) đã
được nhập vào Việt Nam để làm thực phẩm cho người và động vật nuôi. Nhiều hộ đã
phát triển nuôi ốc theo hướng này và để xuất khẩu. Do có vòng đời ngắn, dưới điều
kiện môi trường sống phù hợp, chúng xâm nhập vào hệ sinh thái và nhanh chóng sinh
sôi, phát tán khắp các vùng của Việt Nam. Ốc bươu vàng là một trong những loài gây
hại mạnh nhất ở nước ta. Chúng có thể ăn được hầu hết các loài thực vật, gây ra mối
đe dọa nghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học và trở thành địch hại trên nhiều loại
cây trồng, đặc biệt là lúa và rau muống (Chương trình Birdlife 2006)[1]. Ốc bươu vàng
ăn khỏe, mau lớn và sinh sản rất nhanh (2 tháng tuổi là bắt đầu đẻ trứng). Ốc phân bố
ở nhiều loại thủy vực: ao, đầm lầy, kênh mương, ruộng lúa. Do vừa thở được bằng
mang dưới nước vừa thở được bằng phổi trên cạn nên chúng có thể sống được ở những
điều kiện khắc nghiệt như nước tù đọng thiếu oxy, mật độ dày. Hiện nay, biện pháp
chủ yếu được dùng để diệt trừ ốc bươu vàng trên đồng ruộng là bắt bằng tay. Cũng có
một số thuốc hóa học diệt ốc bươu vàng hiệu quả nhưng ít được sử dụng do giá thành
hoàn cảnh giá nhiên liệu cũng như các chi phí đầu vào của nghề khai thác tăng như hiện
nay, cá tạp đảm bảo chất lượng (không ương) có giá không dưới 8.000 đồng/kg.
Với những ưu điểm của nghề nuôi lươn so với các hoạt động nuôi trồng thủy
sản khác như không cần nhiều vốn đầu tư, không cần diện tích đất rộng, tận dụng được
công lao động nhàn rỗi trong gia đình, dễ nuôi, lợi nhuận khá lươn được xem là đối
tượng nuôi của người nghèo. Tuy vậy, hoạt động nuôi thương phẩm lươn đồng ở nước
ta rất phát triển nhưng sự phát triển này là tự phát, kỹ thuật nuôi chưa hoàn thiện nên
còn nhiều rủi ro. Các nghiên cứu về nuôi đối tượng này còn hạn chế, các tài liệu
nghiên cứu đã được công bố về nuôi lươn rất ít hoặc khó tiếp cận bởi bản quyền và
vấn đề ngôn ngữ vì hầu hết các công trình nghiên cứu về lươn đồng Monoterus albus
đều do các nhà khoa học Trung Quốc thực hiện và chỉ được công bố trên các tạp chí
địa phương bằng tiếng Hoa. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu nuôi lươn thương phẩm
để xác định thông số kỹ thuật cơ bản như mật độ nuôi, thức ăn, hình thức, môi trường
10
nuôi….là rất cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tác giả tiến hành thực hiện
nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi và thức ăn đến lươn đồng nuôi tại Ba Tri, Bến
Tre để có cơ sở xây dựng mô hình và kỹ thuật nuôi phù hợp.
1.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LƯƠN ĐỒNG
Lươn đồng (Monopterrus albus) phân bố tự nhiên ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt
đới Châu Á, từ phía bắc Ấn Độ và Miến Điện đến Trung Quốc (USGS 2000)[42].
Lươn đồng phổ biến ở hầu hết các quốc gia như Malaysia, Nhật, Inđônexia,
Băngladesh (Talwar et al. 1991)[38], Thái Lan (Thongrod et al. 2004)[41] và Việt
Nam. Chúng cũng phân bố ở trung và nam Mỹ, Châu Phi, Châu Úc (ISSG 2005)[24].
Lươn cũng được tìm thấy ở Hawaii, Florida và Georgia (Mỹ) và được cho là đã du
nhập vào nước này vào những năm đầu thập niên 1990 (Bricking 2002, Hamilton
2006)[14, 21].
Vị trí phân loại (Talwar et al. 1991, USGS 2000)[38, 42]
Ngành: Chordata
1991)[42, 38]. Bằng việc đào hang trong đất ẩm, lươn có thể sống một thời gian dài
mà không cần nước. Quá trình này thường diễn ra vào mùa hè khô, có thể coi như lươn
ngủ hè (Talwar et al. 1991)[38]. Chew et al. (2005)[17] đã nghiên cứu quá trình trao
đổi chất nitơ và bài tiết trong thời gian này của lươn nhằm tìm hiểu cơ chế giúp chúng
có thể chống lại sự ngộ độc NH
3
do cơ thể sinh ra.
Lươn đẻ trứng trong tổ nơi vùng nước cạn, số lượng trứng có thể lên đến 1.000
trứng/lần đẻ. Một trong hai hoặc cả hai bố mẹ thường bảo vệ tổ và con non. Mùa vụ
sinh sản của lươn có thể diễn ra quanh năm nhưng tập trung chủ yếu vào những tháng
mùa mưa [24, 42, 54].
Ở lươn có hiện tượng chuyển đổi giới tính: tất cả lươn ở giai đoạn nhỏ đều là
con cái, sau khi thành thục có hiện tượng chuyển đổi giới tính xảy ra, một số con cái
chuyển thành con đực. Những con đực này cũng có thể chuyển thành con cái khi mật
độ con cái thấp. Thời gian cần thiết cho quá trình chuyển đổi này khoảng 1 năm [50].
Bricking (2002)[14] cũng khẳng định những con lươn con mới nở cho đến khi thành
thục đều là con cái. Sau đó, chúng chuyển sang giai đoạn trung gian, thời gian này
khoảng một năm và từ đây chuyển thành những con đực.
12
Phần 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN LƯƠN DÙNG LÀM THÍ NGHIỆM
2.1.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 10/2007 đến 08/2008
- Địa điểm nghiên cứu: Trại thí nghiệm của đề tài sản xuất giống và nuôi lươn đồng
(Viện Nghiên cứu NTTS 3) tại bưng Lạc Địa, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Bưng Lạc Địa là vùng đất trũng giữa đồng rộng khoảng 118 ha thuộc xã Phú
Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Lạc Địa trước đây vốn rất hoang sơ với cây cối mọc
những con lươn qua được giai đoạn này đều rất khỏe và rất ít hao hụt cho đến khi thu
hoạch. Tổng số lươn đã sử dụng cho tất cả các thí nghiệm là là 400 kg.
13
Điều tra về đặc điểm
nguồn lươn giống ở Ba Tri
Thử nghiệm về
mật độ
Nội dung nghiên cứu
Đề xuất mô hình nuôi lươn đồng đạt hiệu quả về kỹ thuật và kinh tế
0,5
kg/m
2
- Mùa vụ
- Phương
pháp
- Ngư cụ
- Kích cỡ
giống
Nuôi hồi
phục
- Mật độ
- Vật liệu
trú ẩn
1
kg/m
2
2
hành bao gồm 2 yếu tố mật độ và thức ăn với bốn mức mật độ nghiên cứu là 0,5
kg/m
2
; 1 kg/m
2
; 2 kg/m
2
và 3 kg/m
2
và 3 loại thức ăn sử dụng thí nghiệm là thức ăn
tươi, thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp.
Các nghiên cứu được tiến hành ở quy mô thí nghiệm, các nghiệm thức được bố
trí tuân theo các nguyên tắc ngẫu nhiên hoàn toàn. Hình 2.3. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
14
2
. Bể được cố định hình dạng nhờ các cọc gỗ: tre, tràm,
trâm bầu và các nẹp tầm vong, tre. Đáy bể có lỗ thoát nước hình tròn, được làm bằng
ống nhựa PVC, đường kính 8-10 cm. Lỗ thoát nước này được đóng chặt bởi nút cây
quấn nylon. Trước khi tiến hành thí nghiệm chúng tôi đã chuẩn bị bể thí nghiệm theo
15
các bước được mô tả trong tài liệu của IIRR et al (2001)[23]. Các vật liệu gọi chung là
mô đất chỉ được sắp xếp ở ½ bể, phần còn lại để trống, cụ thể như sau:
Dưới đáy bể đặt một lớp đất sét dày khoảng 10 cm, loại đất này được lấy từ mặt
ruộng. Sau đó, xếp 10 cm rơm đã được thả ngâm trong ao khoảng một tuần lên phía
trên. Tiếp theo là lớp thân chuối dày 10 cm. Các thân chuối này đã được chặt trước 2
tuần, cắt nhỏ và phơi khô. Kế đến là lớp phân bò khô, cũng dày 10 cm và trên cùng là
lớp đất ruộng dày 10-20cm. Hình 2.4. Chuẩn bị bể thí nghiệm Hình 2.5. Thân chuối khô
Cho nước vào bể, nguồn nước mặt lấy từ ao lắng, mực nước cao hơn lớp đất
trên cùng 15-20 cm, và để cho các vật liệu trong bể phân hủy trong 1 tuần.
Tháo cạn nước và cho nước mới vào. Việc này được lặp đi lặp lại trong khoảng
4 tuần, cho đến khi váng bọt không còn xuất hiện.
Trước khi thả lươn vào nuôi thì thì kiểm tra các yếu tố môi trường nước (pH,
nhiệt độ, NH
Hình 2.6. Bể thí nghiệm Hình 2.7. Nơi trú ẩn của lươn
2.3.3. Nguồn nước và chế độ thay nước
Nước được lấy từ kinh cấp nước dẫn nước từ các nhánh sông Ba Lai vào ao
lắng thông qua việc đóng mở cống. Sử dụng cùng một nguồn nước mặt từ ao lắng để
thay nước cho bể lươn nhằm đảm bảo các yếu tố môi trường của những bể thí nghiệm
được tương đồng
Chế độ thay nước: 2-3 lần/tuần, vào buổi sáng. Mỗi lần thay 100% nước.
2.3.4. Phương pháp cho ăn và chế độ chăm sóc quản lý
Cho ăn: 1 lần/ngày vào lúc chiều tối. Khẩu phần thức ăn 5-8% khối lượng thân,
có sự điều chỉnh thức ăn theo nhu cầu sử dụng. Thức ăn trong thí nghiệm về mật độ là
thức ăn chế biến bao gồm thịt ốc bươu vàng kết hợp với thức ăn viên Cargill 30% đạm
dùng cho cá (tỷ lệ 2:1) được xay nhuyễn, trộn với chất kết dính (bột gòn hoặc bột keo)
trước khi cho vào sàng ăn. Bổ sung vitamin C (liều lượng 5 g/kg thức ăn), men tiêu
hóa (liều lượng 1-2 g/kg thức ăn) vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho lươn và giúp
tiêu hóa thức ăn tốt. Thức ăn dư được loại bỏ khỏi bể vào lúc sáng sớm để tránh làm ô
nhiễm môi trường nước.
Thường xuyên theo dõi những dấu hiệu bất thường của lươn để có biện pháp xử
lý kịp thời.
2.3.5. Quan trắc các thông số môi trường
Nhiệt độ và pH được xác định 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều bằng nhiệt kế
và máy đo cầm tay. Định kỳ 2 lần/tháng thu mẫu phân tích chỉ tiêu nitrite, amonia và
H
2
S. Các mẫu nước được đo thu, bảo quản và phân tích bằng máy phân tích mẫu nước
17
18
a. Thí nghiệm về mật độ nuôi:
Thí nghiệm này gồm có bốn nghiệm thức về mật độ nuôi ở bốn mức mật độ
300, 400, 500 và 600 con/bể. Đơn vị thí nghiệm là bể được làm bằng bạt không thấm
nước có diện tích 4 m
2
. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Bốn nghiệm thức thí
nghiệm về mật độ trên được so sánh, đánh giá với nghiệm thức đối chứng (mật độ thả
400 con/bể, loại lươn đã qua thuần hóa).
b. Thí nghiệm về vật liệu trú ẩn
Thí nghiệm được tiến hành với hai nghiệm thức là mô đất và dây nylon. Mỗi
nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Đơn vị thí nghiệm là bể bạt diện tích 4 m
2
. Mật độ thả
300 con/bể. Nghiệm thức với vật liệu trú ẩn là mô đất (gọi chung bao gồm: đất ruộng +
rơm + thân chuối + phân bò + đất ruộng như trong trình bày phần 2.3.2) nhằm so sánh
với nghiệm thức có vật liệu trú ẩn là dây nylon cũng chính là nghiệm thức thí nghiệm
về mật độ nuôi ở mức 300 con/bể được nêu ở bên trên.
Vật liệu trú ẩn là dây nylon được chuẩn bị như sau: dây nylon đen, cắt thành
từng đoạn dài khoảng 50 cm. Sau đó, buột túm chúng lại thành từng bó, bỏ vào trong
bể làm chổ trú ẩn cho lươn. Mực nước trong bể sử dụng vật liệu trú ẩn là dây nylon
cũng tương tự như bể với vật liệu trú ẩn là mô đất 40-50 cm. Thí nghiệm kéo dài trong
1 tháng (05/03/2008-04/04/2008).
2.5. THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ
Nghiên cứu này nhằm xác định mật độ nuôi thích hợp cho nuôi thương phẩm
lươn đồng trong bể bạt.
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi gồm có 4 nghiệm thức là
0,5 kg/m