B GIO D C V O T O
I H C HU
TR NG I H C S PH M
PHAM THậ MYẻ HặNG
NGHIN CặẽU C IỉM SINH HOĩC
VAè ANH HặNG CUA AIA N
GING U BếP F1TN85 VAè F1TN81
TRệNG XAẻ HặNG VINH, THậ XAẻ
HặNG TRAè,
TẩNH THặèA THIN HU
Chuyờn ngnh: THC VT HC
Mó s: 60 42 20
LU N V N TH C S SINH H C
NGI HNG DN KHOA HC:
PGS.TS. NGUYN B LC
Hu , N m 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung
thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được
công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Phạm Thị Mỹ Hương
ii
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS. TS.
Nguyễn Bá Lộc – Giảng viên trường ĐHSP Huế đã tận tình hướng
dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Quý thầy, Quý cô tham gia giảng dạy,
phòng thí nghiệm khoa Sinh, Phòng Đào tạo sau Đại học trường
ĐHSP Huế đã động viên hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý
1.2.3. Tình hình sản xuất, tiêu thụ đậu bắp ở Việt Nam 20
1.2.4. Tình hình nghiên cứu đậu bắp ở Việt Nam 20
1.3 Vài nét về chất điều hòa sinh trưởng Auxin 23
1.3.1. Khái niệm và phân loại chất điều hòa sinh trưởng 23
1.3.2. Sơ lược về chất điều hòa sinh trưởng Auxin 24
1.4.Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin trong nước, trên thế giới 29
1.4.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin trên thế giới 29
1.4.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng Auxin ở Việt Nam 30
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Hương Vinh, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên Huế 31
1.5.1. Vị trí địa lý [23] 31
1.5.2. Diện tích tự nhiên [23] 31
1
1.5.3. Đặc điểm địa hình, khí hậu [23] 32
1.5.3.1. Địa hình 32
1.5.3.2. Khí hậu 32
1.5.3.3. Thủy văn 33
CHƯƠNG 2 34
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. Đối tượng nghiên cứu 34
2.2. Nội dung nghiên cứu 34
2.2.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của hai giống đậu bắp 34
2.2.2. Xác định ảnh hưởng của AIA đến hai giống đậu bắp 34
2.3. Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin 35
2.3.2. Phương pháp xử lí hạt giống và bố trí thí nghiệm 35
2.4. Quy trình kỹ thuật 35
2.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 36
2.6. Phương pháp xử lý dữ liệu 38
CHƯƠNG 3 39
3.2.4. Hiệu quả kinh tế 67
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
I.KẾT LUẬN 68
1.1. Các đặc điểm của hai giống đậu bắp F1 TN81 và F1 TN85 69
1.2. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng AIA 69
II. KIẾN NGHỊ 69
PHẦN IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
a, b, c, d : Phân nhóm khi xử lý Statistix 9.0
AIA : Acid indo acetic
CT : Công thức
CT1 : Công thức xử lý AIA với nồng độ 5ppm
CT2 : Công thức xử lý AIA với nồng độ 10ppm
CT3 : Công thức xử lý AIA với nồng độ 15ppm
CV% : Hệ số biến động các chỉ tiêu nghiên cứu
ĐC : Đối chứng
Lsd 0,05 : Độ chênh lệch nhỏ nhất có ý nghĩa khi so sánh ở xác suất 95%
M : Khối lượng quả
NXB : Nhà xuất bản
RCB : Randomized complet block
SĐC : So đối chứng
SS : So sánh
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
USDA : Bộ Nông nghiệp Mỹ
X
: Giá trị trung bình
α-NAA : α Naphtyl axetic acid
4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Phương trình 2.1 Phương trình đường chuẩn Protein 38
(Ghi chú : Các công thức giống nhau được biểu thị cùng một chữ cái; các chữ cái khác
nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở mức α= 0,05) 43
Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của AIA đến tỷ lệ nảy mầm 43
(Ghi chú : Các công thức giống nhau được biểu thị cùng một chữ cái; các chữ
cái khác nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở mức α= 0,05) 52
Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của AIA đến số hoa trên cây(hoa/cây) 52
Biêu đồ 3.3 Ảnh hưởng của AIA đến số lượng (quả/cây) 58
Biểu đồ 3.4 Ảnh hưởng của AIA đến khối lượng 100 quả(g) 60
60
(Ghi chú : Các công thức giống nhau được biểu thị cùng một chữ cái; các chữ cái khác
nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở mức α= 0,05) 66
Biểu đồ 3.7 Ảnh hưởng của AIA đến hàm lượng protein của quả 66
(mg/g khối lượng tươi) 66
6
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người xưa có câu” Cơm không có rau như đau không có thuốc “. Đúng vậy,
rau xanh là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi con
người. Nó đóng vai trò như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo
dài tuổi thọ. Hơn nữa, nhiều năm qua các nhà khoa học trong nước và trên thế giới
đã nghiên cứu và phát hiện ra những khả năng kì diệu của một số loài rau trong
phòng ngừa, chữa bệnh nan y. Trong số đó phải kể đến đậu bắp, một trong số các
loại rau ăn quả dễ trồng, và trồng nhiều ở vùng nông thôn.
Đậu bắp là một loại rau ăn quả, thân thảo, có thời gian sinh trưởng ngắn,
chúng được trồng phổ biến tại miền Nam Việt Nam, thích nghi vùng nhiệt đới nóng
ẩm, có thể trồng được quanh năm, tùy theo vùng chúng ta bố trí mùa vụ thích hợp
để cây sinh trưởng phát triển tốt, ít sâu bệnh. Đậu bắp được trồng quanh năm từ
Nam chí Bắc, là loại rau ăn quả dễ chế biến và rất dễ ăn, là thức ăn bổ dưỡng đối
3.2. Đơn vị phân loại
Tên khoa học : Abelmoschus esculentus (L. ) Moench
Lớp hai lá mầm: Dicotyledonae
Phân lớp Sổ: Dilleniidae
Trên bộ Bông : Malvanae
Bộ Bông: Malvales
Họ Bông: Malvaceae
Chi: Abelmoschus
Loài: A. esculentus
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
8
- Xác định được một số đặc điểm sinh học của giống đậu bắp F1TN81 và
F1TN85.
- Xác định vai trò của chất điều hòa sinh trưởng AIA đối với hai giống đậu bắp.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được đặc điểm sinh học làm cơ sở cho việc trồng cây đậu bắp có hiệu quả.
- Xác định ảnh hưởng của AIA đến giống đậu bắp F1TN 85 và F1TN 81 góp
phần bổ sung vào quy trình trồng cây đậu bắp cho năng suất cao.
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm thực vật học của đậu bắp
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố
* Nguồn gốc
Đậu bắp (Abelmoschus esculentus (L.) Moench), bên cạnh đó còn được gọi
theo tên khoa học cũ là ( Hibiscus esculentus L.) (Kumar và cộng sự 2010). Nguồn
gốc phát sinh của cây đậu bắp hiện vẫn đang được tranh cải, có hai giả thuyết ngược
nhau: giả thuyết thứ nhất cho rằng ở Nam Á, giả thuyết thứ hai cho rằng
ở Ethiopia và Tây Phi. Hibiscus esculentus L , loài này được biết là có nguồn gốc từ
vùng cao nguyên Ethiopia, mặc dù sự bắt nguồn và phát nguyên ở đây là không có
gồm hai hình thức tự nhiên được phân biệt bởi sự thích nghi ở các vùng sinh thái
khác nhau. Đầu tiên, var. tetraphyllus, đạt mức tăng trưởng thấp độ cao từ 0 đến
400 m ở các vùng với một mùa khô rõ rệt của Indonesia, Philippines, Papua New
Guinea và New Ireland. Thứ hai, var. punens, mọc ở độ cao từ 400 đến 1600m ở
Philippines và Indonesia (Sở Công nghệ sinh học năm 2009). Các loài A. esculentus
được trồng như một loại rau ở vùng nhiệt đới và nhất vùng cận nhiệt đới của châu
Phi như Ghana, Guinea, Bờ Biển Ngà, Liberia và Nigeria. Các loài hoang
dã A. tuberculatus, liên quan đến A. esculentus, là loài đặc hữu nằm ở độ cao trung
bình khu vực đồi núi ở Ấn Độ (IBPGR 1991). Loài A. ficulneus được tìm thấy trong
một vùng rộng lớn khu vực trải dài từ châu Phi sang châu Á và Úc. Nó xuất hiện
trong khu vực nhiệt đới ở độ cao trung bình với mùa khô kéo dài, tức là vùng sa
mạc Sahel Châu Phi (Theo Niger), Madagascar, Đông Phi, Ấn Độ, Indonesia,
Malaysia và Bắc Úc (Lamont 1999). Hai loài hoang dã A. crinitus và
A.angulosus duy nhất chỉ có nguồn gốc ở Châu Á. Chúng được phân biệt bởi sự
thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau, A. crinitus phát triển ở độ cao trung bình
trong khu vực với mùa khô rõ rệt, là (Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Philippines),
10
A. angulosus phát triển ở độ cao từ 750 và 2000 m ở Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka và
Indonesia (Charrier năm 1984, IBPGR 1991) [35].
* Phân bố ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây đậu bắp được trồng trong khắp cả nước từ vùng đồng bằng
cho đến vùng núi để lấy quả làm rau. Đặc biệt ở Nam Bộ, nơi có điều kiện tự nhiên
phù hợp cho loài cây này phát triển, được trồng phổ biến ở mọi gia đình nông thôn,
người miền Bắc ít biết ăn do đậu bắp có chất nhờn [4], [43].
1.1.2. Yêu cầu về điều kiện sinh trưởng và phát triển
- Nhiệt độ
Cây đậu bắp ưa nhiệt độ cao, thích hợp với nhiệt độ từ 25- 30
0
C, trong
khoảng nhiệt độ này nếu nhiệt độ càng cao thì cây sinh trưởng và phát triển càng
cây, liếp cách liếp 100 cm, chiều rộng của liếp 100 cm, chiều cao của liếp 25-30 cm.
Trung bình số lượng hạt giống cần cho 1000 m
2
đất sản xuất khoảng 250 – 300 g.
* Phân bón [20].
Trước khi bón lót: Rãi đều thuốc trừ sâu Basudin hạt lên mặt liếp với liều
lượng 30kg/ha.
Bón lót: Phân chuồng 15-20 tấn/ha, có thể dùng phân hữu cơ sinh học hoặc
phân rác chế biến thay thế cho phân chuồng với lượng bằng 1/3 lượng phân chuồng.
Bón thúc lần 1: Sau trồng 7-10 ngày, liều lượng: 15-20 kg Urea/ha. Cách
dùng: bón xung quanh, cách gốc 10 cm hoặc pha loãng tưới.
Bón thúc lần 2: Sau khi trồng 25 ngày, liều lượng: 50-100 kg NPK/ha.
Cách dùng: rãi phân giữa hai cây trên hàng, cách gốc 20 cm.
Bón thúc lần 3: Sau bón thúc lần hai 15 ngày, liều lượng: 100-150 kg
NPK/ha. Cách dùng: rãi phân giữa hai hàng, cách gốc 20 cm.
Bón thúc lần 4: Sau bón thúc lần ba 15 ngày, liều lượng: 50-100 kg NPK/ha.
Cách dùng: Rãi phân giữa hai cây trên hàng, cách gốc 20 cm.
Ngoài biện pháp bón vào đất có thể phun qua lá bằng các dung dịch dinh
dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng… Có thể phun qua lá các loại phân như
Multi-K (dùng loại này thì giảm 30- 50% lượng phân kali bón thúc) kết hợp với K-
H hoặc Atonic khoảng 5- 7 ngày/lần sẽ kích thích cây sai quả, năng suất tăng, và chỉ
được tiến hành thu hoạch trái sau khi bón phân ít nhất 7-10 ngày.
* Chăm sóc [39].
Khi cây có 2- 3 lá thật làm cỏ, xới nông, vun nhẹ vào gốc. Khi cây đậu bắp
cao được khoảng 20cm thì xới sâu trên mặt liếp, nhặt cỏ và vun đất đấp vào gốc cho
cây đậu bắp phát triển tốt, hạn chế đỗ ngã. Đậu bắp rất cần nước. Tuy nhiên, đất
phải không bị ngập úng, vào mùa khô mỗi ngày tưới từ 1-2 lần tuỳ thuộc vào độ giữ
12
ẩm của đất và thời tiết lúc trồng. Trong kỹ thuật hiện nay chúng ta sử dụng màng
phủ nông nghiệp để giảm sự mất nước và tưới bằng phương pháp thấm nhằm giảm
và cs 2007, Saifullah và Rabbani 2009). Theo số liệu phân tích của Bộ Nông Nghiệp
Mỹ (USDA) thành phần dinh dưỡng trong 100g ăn được tóm tắt ở bảng 1.1 [25].
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng trong 100g ăn được
Thành phần Giá trị dinh dưỡng Tỷ lệ phần trăm của RDA
Năng lượng 31 Kcal 1.5%
Carbohydrate 7,03 g 5,4%
Protein 2,0 g 4%
Tổng số chất béo 0,1 g 0,5%
Cholesterol 0 mg 0%
Chất xơ 3,2 g 9%
Vitamin
Folate 88 mg 22%
Niacin 1.000 mg 6%
Pantothenic acid 0.245 mg 5%
Pyridoxine 0.215 mg 16,5%
Riboflavin 0,060 mg 4,5%
Thiamin 0,200 mg 17%
Vitamin C 21,1 mg 36%
Vitamin A 375 IU 12,5%
Vitamin E 0,36 mg 2,5%
Vitamin K 53 mg 44%
Điện
Natri 8 mg 0,5%
Kali 303 mg 6%
Chất khoáng
Canxi 81 mg 8%
Đồng 0.094 mg 10%
Magiê 57 mg 14%
Mangan 0,990 mg 43%
Phốt pho 63 mg 9%
(Burkil 1997). Tổng diện tích trồng đậu bắp đã tăng lên trong những năm qua. Trong
1991-1992, tổng diện tích trồng đậu bắp là 220.000 ha và sản lượng đạt 1,88 triệu tấn,
trong khi năm 2006-2007 tăng đến 396.000 ha và sản lượng đạt 4,07 triệu tấn. Trong
giai đoạn 2009-2010 diện tích sản xuất đã đạt 430.000 ha và sản lượng đạt 4,54 triệu
tấn. Ấn Độ là quốc gia lớn sản xuất đậu bắp, đứng đầu trên thế giới chiếm 67,1%
tổng sản lượng đậu bắp trên toàn thế giới, tiếp theo Nigeria 15,4% và Sudan 9,3%
(Varmudy 2011). Tại Ghana, đó là thực vật thứ tư phổ biến nhất sau cà chua, hạt tiêu,
và trứng vườn (Sinnadurai, 1973 và Lamont Jr, 1999).
15
Ở Thái Lan đậu bắp là cây trồng phổ biến được trồng tại hầu hết các vùng
của đất nước. Năm 2003, Thái Lan xuất khẩu một số lượng 3664 tấn quả đậu bắp
tươi và đông lạnh với thu nhập khoảng 8 triệu đô la Mỹ (Green Okara, 2004).
Ở Malaysia xuất khẩu khoảng 4500 tấn / năm (FAO 1998).
Nhập khẩu đậu bắp tươi hoặc ướp lạnh sang Mỹ đang phát triển nhanh chóng về
số lượng, trong khi nhập khẩu thêm đậu bắp được chế biến vẫn còn tương đối thấp.
Theo số liệu thống kê năm 2008 - 2009 sản lượng, diện tích trồng và năng
suất đậu bắp của các nước trên thế giới được tóm tắt ở bảng 1.2.
Bảng 1.2. Sản lượng, diện tích và năng suất đậu bắp của các nước trên thế giới
năm 2008 – 2009
Nước Diện tích ( ha) Sản lượng(tấn) Năng suất ( tấn/ha)
Ấn Độ 432000 4528000 10.50
Nigeria 387000 1039000 2.70
Xu – đăng 21.926 223650 10.20
Irap 22.250 141000 6.30
Bờ Biển Ngà 46000 115867 2.50
Pakistan 15.081 114657 7.60
Ghana 19.500 108000 5.50
AiCập 6800 107000 15.70
Benin 13.658 48060 3.50
Ả rập Saudi 4000 46000 11.50
có nồng độ xử lý 16000 ppm đạt giá trị cao nhất [28].
- Acta Bot, Croatia ( 2006) nghiên cứu” Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh
trưởng thực vật lên chất lượng của loại xơ libe sợi trong Abelmoschus
esculentus (Linn.) Moench”. Một chất xơ hữu ích có thể được tách ra từ thân cây
đậu bắp, nó có thể được se thành sợi và được sử dụng làm dây bện. Các chất xơ có
thể được quay trên máy, được sử dụng trong một hỗn hợp 85% với 15% đay, thích
hợp cho sản xuất giấy và cactong ( Anonymous US1985). Người ta tiến hành kết
hợp sử dụng các nồng độ khác nhau của điều hòa sinh trưởng thực vật (PGRs) NAA
và GA để phun lên lá. Chất xơ được sử dụng trong hỗn hợp với đay đã được ghi
nhận. Công trình này làm nổi bật hiệu ứng sử dụng chất điều hòa sinh trưởng như
gibberelic acid (GA) và acid acetic naphthalene (NAA) về chất lượng của các loại
xơ libe trong A. esculentus. Chất lượng xơ đạt giá trị tốt nhất khi sử dụng kết hợp
nồng độ GA100 mg/ml + NAA50 mg/ml. Nghiên cứu ngâm sợi cho thấy sự gia tăng
chiều dài sợi và độ mảnh cũng cao. Tỷ lệ Runkel cho sợi xử lý phù hợp cho ngành
công nghiệp dệt may. Xem xét các tiêu chí trên, GA100 + NAA 50 mg/ml mang lại
thuận lợi thay đổi để cải thiện chất lượng của sợi. Nghiên cứu này rất có ý nghĩa
trong việc thúc đẩy khai thác một nguồn chất xơ libe thông thường để sử dụng trong
ngành công nghiệp dệt may [24].
- Olasantan, FO (1988) nghiên cứu “ Ảnh hưởng của việc loại bỏ lá lên sự
tăng trưởng và năng suất của đậu bắp (Abelmoschus esculentus) ”. Việc xác định
các giai đoạn tấn công của sâu hại ở từng giai đoạn phát triển của cây có vai trò
quan trọng trong phòng chống và kiểm soát sâu bệnh. Các phương pháp bao gồm
loại bỏ các lá ở 4 tuần sau khi gieo (WS) là giai đoạn đầu ra lá, 6WAS (ở giai đoạn
vừa chớm nở hoa) và 8 WS (ở giai đoạn đậu quả sớm), kiểm soát (không loại bỏ lá),
loại bỏ một phần tư (D
25),
một nửa (D
50),
ba phần tư (D
75)
kg) và phân bón NPK (112 kg và 83 kg) lên sự tăng trưởng, năng suất và sản
lượng của đậu bắp. Kết quả cho thấy việc áp dụng các loại thuốc trừ sâu khác nhau
và phân bón có ảnh hưởng đáng kể (P = 0,05) đến hiệu suất của đậu bắp
(Abelmoschus esculentus). Các ứng dụng kết hợp 100% dịch chiết từ cây neem, 350
ml / ha cypermethrin, 8000 kg / ha phân gia cầm và 112 kg / ha phân bón NPK giảm
số lượng sâu bệnh so với đối chứng. Sự kết hợp của 50% dịch chiết từ cây neem,
18
350 ml / ha cypermethrin, 6000 kg / ha phân gia cầm và 112 kg / ha phân bón NPK
cho năng suất cao nhất về số lượng và trọng lượng của quả đậu bắp. Có thể kết luận
rằng việc áp dụng kết hợp thuốc trừ sâu và phân bón dẫn đến việc số lượng sâu
bệnh hại được kiểm soát chặt chẽ, tăng độ phì của đất và nâng cao năng suất của
đậu bắp trồng tại vùng Oxic Paleustalf.
- Dabiré, Binso và cộng sự ở Tây Phi, nghiên cứu sơ bộ về tỷ lệ côn trùng
gây hại trên đậu bắp Abelmoschus esculentus (L.) Moench ở trung tâm Burkina
Faso, xác định mức độ thiệt hại về năng suất do côn trùng gây hại trên đậu bắp với
việc xử lý tăng dần nồng độ deltamethrin. Kết quả cho thấy côn trùng phổ biến nhất
gây ra bệnh cây bao gồm 2 loài bọ chét bọ cánh cứng Podagrica sp (Coleoptera và
Chrysomelidae) những loài côn trùng gây ra rụng lá lên đến 80% diện tích của
lá. Chúng phá hoại bắt đầu từ 35 đến 45 ngày sau khi đậu bắp ra hoa. Phun
Deltamethrin ở liều 6,25 - 25 g / ha có hiệu quả kiểm soát số lượng côn trùng gây
hại nhưng không có bằng chứng về ảnh hưởng đáng kể đến năng suất quả. Hiệu
quả của deltamethrin chống sự phá hoại của loài Podagrica cũng được báo cáo ở
Nigeria (Anaso và Lale, 2002; Anaso, 2003) [29].
- Singh và Brar nghiên cứu sức đề kháng của 14 giống đậu bắp, báo cáo rằng
trong khi một số giống có khả năng kháng, bên cạnh đó có những giống khác là dễ
bị sâu bệnh [30]. Mặc dù các phương thức đề kháng của các giống là không rõ ràng,
nó có thể là do cấu trúc gen. Tỷ lệ mắc bệnh bọ cánh cứng thay đổi ở các giai đoạn
phát triển của thực vật đối với các giống và mùa vụ. Tỷ lệ mắc bệnh rất thấp trong
giai đoạn sinh dưỡng của cây nhưng nhanh chóng tăng lên trong giai đoạn sinh
sản. Điều này có thể là do sự gia tăng sự phong phú của nguồn thức ăn (nụ hoa, hoa
tế cao, đã xuất khẩu được 90 tấn các loại rau quả, riêng đậu bắp xanh xuất khẩu
được 70 tấn. Năm 2013, dự tính hợp tác xã sẽ sản xuất khoảng 10 ha đậu bắp với
sản lượng trên 3 tấn/ha, trong quý I năm 2013 hợp tác xã đã xuất hơn 60 tấn đậu
bắp xanh ra thị trường nước ngoài chủ yếu thị trường Nhật Bản [39].
1.2.4. Tình hình nghiên cứu đậu bắp ở Việt Nam
- Thí nghiệm tại Khoa Y học cổ truyền, Đại Học Y dược Thành phố Hồ Chí
Minh đã cho thấy cao lỏng được chế từ thân và lá cây đậu bắp có tác dụng hạ đường
20
huyết trên chuột thí nghiệm. Các nhà khoa học đã xác định liều từ 10g đến 40g/kg
thể trọng có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Liều có tác dụng hạ
đường huyết ổn định nhất là 30g/kg thể trọng. Ở liều này, cao lỏng đậu bắp hạ
đường huyết có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 40 phút và kéo dài đến 90 phút. Sau
90 phút, đậu bắp làm hạ 47,34% nồng độ đường huyết so với nhóm đối chứng
không điều trị. Qua so sánh với insulin, tác dụng của đậu bắp không mạnh bằng
insulin, không gây hạ đột ngột như insulin nhưng ổn định hơn và không có nguy cơ
gây tụt huyết áp xuống dưới mức bình thường [2], [3], [18].
- Tác giả Lê Thị Hồng Nhan, Trần Hà Quang, Phan Nguyễn Quỳnh Anh (Đại
học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Thị Ngọc Liễu (Đại học Tôn
Đức Thắng) thực hiện đề tài nghiên cứu thành phần hóa học cơ bản của đậu bắp
(Abelmoschus esculentus) ở miền Nam Việt Nam, khảo sát quy trình tách pectin và
đánh giá tính chất sản phẩm trích từ đậu bắp. Kết quả cho thấy, quả đậu bắp chứa
vitamin C hàm lượng cao và pectin chỉ có thể thu được từ vỏ với hiệu suất thu
khoảng 6-7%. Hàm lượng pectin tùy thuộc độ già của đậu bắp. Quy trình tách
pectin đã được khảo sát và pectin thô sau đó được tinh chế bằng cồn. Pectin từ đậu
bắp có trọng lượng phân tử khoảng 1.65x105 g/mol và có cấu trúc tinh thể cao hơn
dựa trên phổ XRD so với pectin từ các nguồn thực vật khác. Các kết quả này là nền
tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về tính chất và định hướng ứng dụng của pectin
đậu bắp. Hơn nữa, đậu bắp trồng tại Việt Nam cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn
về các thành phần khác để có thể được ứng dụng và phát triển như một nguồn cung
cấp dược liệu rẻ tiền và thông dụng trong nước [15].
hướng tới sản xuất sạch, không dùng thuốc sâu để phát triển vùng rau màu ở vành
đai các đô thị.
- Phạm Trọng Tín thực hiện đề tài “Cải tạo giống đậu bắp địa phương cao cây
năng suất thấp bằng cách lai tạo với giống đậu bắp Nhật lùn thấp cây, năng suất
cao” với mong muốn tìm ra giống tốt, dễ trồng, kéo dài thời gian thu hoạch và nâng
cao năng suất cũng như chất lượng trái nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, nâng
cao thu nhập cho người nông dân, thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu Việt
Nam.
22