DSpace at VNU: Chất lượng cuộc sống của cán bộ nhân viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội - Pdf 47

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA CÁN BỘ NHÂN VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, HÀ NỘI
Nguyễn Thành Trung1*, Ngô Thị Tâm2, Nguyễn Thị Trang2, Nguyễn Hoàng Long1,
Đặng Đức Nhu1
1
Khoa Y Dược , Đại học Quốc gia Hà Nội
2
Đại học Y Hà Nội

TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm xác định thực trạng chất lượng cuộc sống trong cán bộ
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Tổng cộng có 210 cán
bộ giảng viên được chọn ngẫu nhiên tham gia vào nghiên cứu. Bộ công cụ EQ-5D-5L được sử dụng nhằm
đo lường chất lượng cuộc sống của cán bộ. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đánh
giá mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống và một số yếu tố. Kết quả cho thấy có cán bộ trường có chất
lượng cuộc sống ở mức cao. Kết quả phân tích đa biến cho nhóm cán bộ nam giới và có số năm công tác
từ 5 đến dưới 10 năm cao hơn so với các nhóm khác. Nghiên cứu cho thấy, dù chất lượng cuộc sống của
cán bộ ở mức cao, các nhà lãnh đạo cần có những chiến lược nâng cao CLCS ở các nhóm thấp hơn như
nữ giới hoặc nhóm có số năm công tác ít.
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, cán bộ, trường đại học, eq-5d-5l

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại học đóng vai trò không thể thiếu trong
hệ thống giáo dục của một quốc gia, chịu trách
nhiệm đào tạo và cung cấp cho xã hội nguồn
nhân lực chất lượng cao. Hiệu quả đào tạo của
một trường đại học phụ thuộc vào các cán bộ
đang công tác tại trường đó. Cán bộ có sức
khỏe về thể chất và tinh thần tốt sẽ giúp gia
tăng đáng kể năng suất hoạt động của cá nhân
và của tổ chức [1]. Do đó, hiểu biết về thực

sinh viên năm thứ nhất [5]. Tuy nhiên, chưa có
nghiên cứu nào thực hiện trên đối tượng cán bộ
công tác tại các trường đại học.
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXHNV), thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là
một trong những đơn vị đào tạo và nghiên cứu
trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn lớn
nhất cả nước, với gần 500 cán bộ và 15000 sinh
viên, học viên. Nghiên cứu này được thực hiện
nhằm mục tiêu mô tả thực trạng chất lượng
cuộc sống của cán bộ và giảng viên tại trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội và một số yếu tố liên quan.

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2013
Ngày nhận bài: 01/12/2014
Ngày phản biện: 31/12/2014
Ngày đăng bài: 30/1/2015

Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIV, Số 1 (161) 2015

69


đến tháng 2/2014 tại trường ĐHKHXHNV
2.2 Đối tượng
Cán bộ nhân viên của trường
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang.

ra trạng thái sức khỏe của người được hỏi. Ví
dụ nếu cả 5 khía cạnh đều được đánh giá là
không có vấn đề gì, thì trạng thái sức khỏe của
người được hỏi là 11111. Mỗi trạng thái sức
khỏe tương ứng với một chỉ số tổng hợp được
quy định theo chuẩn quốc tế để đánh giá CLCS

70

(có giá trị từ 0 đến 1 với 0 thể hiện tử vong và 1
thể hiện sức khỏe tốt nhất có thể có) [3]. Trong
nghiên cứu này, thang chuyển đổi của Thái Lan
được sử dụng (do có sự tương đồng về kinh tế
và văn hóa giữa 2 nước).
2.6 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1 và được phân tích bằng STATA 12.0.
Thống kê mô tả bao gồm trung bình, và độ lệch
chuẩn cho biến định lượng và tỷ lệ phần trăm
cho biến định tính được áp dụng. Kiểm định
Mann-whitney và Kruskal – Wallis được sử
dụng để xác định sự khác biệt về CLCS giữa các
nhóm. Hồi quy tuyến tính đa biến được áp dụng
để xem xét mối liên quan giữa CLCS và một số
yếu tố. Mức ý nghĩa thống kê với giá trị α = 0,05.
2.7 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự chấp thuận của hội
đồng đạo đức Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia
Hà Nội. Thông tin các cán bộ cung cấp được
đảm bảo giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục
đích nghiên cứu.

cùng nhiều đối
ít
hề

Khó khăn đi lại do đau


Rất
Tương Chút Không
cùng nhiều đối
ít
hề


Rất
Tương Chút Không
cùng nhiều đối
ít
hề

Khó khăn khi làm việc thường ngày (%)

Khó khăn trong tự chăm sóc bản thân (%)

Chút Không

Rất
Tương ít
hề
cùng nhiều đối


≤ 38 tuổi

60,9

0,83 (0,20)

39 – 49 tuổi

20,3

0,75 (0,19)

≥ 50 tuổi

18,8

0,77 (0,23)

Nam

36,8

0,84 (0,19)

Nữ

63,2

0,79 (0,21)


Sau đại học

78,2

0,80 (0,20)

100,0

0,80 (0,20)

Chung

Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIV, Số 1 (161) 2015

p-value
> 0,05

< 0,05

> 0,05

> 0,05

71


Kết quả bảng 1 cho thấy, nam giới có chỉ số
CLCS cao hơn so với nữ giới có ý nghĩa thống kê
(p

8,2

0,74 (0,18)

< 5 năm

21,1

0,78 (0,18)

5 – < 10 năm

18,8

0,85 (0,19)

10 – < 20 năm

37,6

0,78 (0,22)

≥ 20 năm

22,6

0,79 (0,21)

Kết quả bảng 2 cho thấy đối với các yếu

0,012

≥ 50 tuổi

-0,137

0,132

-0,317

0,042

0,09

0,03

0,032

0,142

Nhóm tuổi (so với ≤ 38 tuổi)

Giới (so với nữ)
Nam

Tình trạng hôn nhân (so với nhóm li dị, độc thân, góa)
Độc thân

-0,032



0,627

-0,281

0,170

Chức vụ hiện tại (so với nhóm chuyên viên)
Giảng viên

-0,038

0,466

-0,139

0,064

Khác

-0,079

0,333

-0,239

0,082

Số năm công tác (so với nhóm < 5 năm)


0,317

0,879

0,000

0,590

1,168

p = 0,01
R2 = 0,076

72

Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIV, Số 1 (161) 2015


Bảng 3 thể hiện sau khi điều chỉnh các yếu
tố, cán bộ là nam giới và có thời gian công tác
từ 5 đến 10 năm có chất lượng cuộc sống lớn
hơn so với các nhóm khác (p
như nữ giới hay các nhóm mới đi làm chưa đến
5 năm... thông qua tăng cường các hoạt động
giúp đỡ, tương trợ cũng như tổ chức các hoạt
động giúp nâng cao tinh thần và sự gắn kết giữa
các cán bộ.
Nghiên cứu này có một số hạn chế. Do đây

là nghiên cứu mô tả cắt ngang nên chưa đánh
giá được xu hướng thay đổi CLCS theo thời
gian. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng mới chỉ
xem xét giới hạn một số yếu tố nhân khẩu học
và nghề nghiệp. Nhóm nghiên cứu khuyến nghị
cần có những nghiên cứu sâu hơn về từng vấn
đề như các mối quan hệ trong cơ quan, trường
học ảnh hưởng tới CLCS hay các hành vi sức
khỏe của cán bộ ảnh hưởng tới CLCS, nhằm
cung cấp các bằng chứng toàn diện nhất cho
các hoạt động dự phòng và can thiệp dài hạn.

V. KẾT LUẬN
Chất lượng cuộc sống của cán bộ trường
ĐHKHXHNV ở mức cao tương đương với
cộng đồng chung. Một số vấn đề hay gặp chủ
yếu là lo lắng buồn phiền và có chút ít đau đớn,
khó chịu. Nam giới có chỉ số CLCS cao hơn so
với nữ giới có ý nghĩa thống kê (p0,05). Phân


24(6): 96-102.
6. Tran BX, Ohinmaa A, Nguyen LT et al.
Determinants of health-related quality of
life in adults living with HIV in Vietnam.
AIDS Care. 2011; 23(10):1236-1245.

QUALITY OF LIFE OF STAFFS AT
UNIVERSITY OF SOCIAL SCIENCES AND HUMANITITES, HANOI
Nguyen Thanh Trung1, Ngo Thi Tam2, Nguyen Thi Trang2, Nguyen Hoang Long1,
Dang Duc Nhu1
1
School of Medicine and Pharmacy, Vietnam National University, Hanoi
2
Hanoi Medical University
A cross-sectional study was conducted to
identify the current situation of quality of life
among staffs at University of Social sciences
and Humanitites, Hanoi and determine some
related-factors. A total of 210 staffs and
lecturers were selected randomly. EQ-5D-5L tool
was used to measure quality of life. Multivariate
linear regression was used to evaluate the
association between quality of life and some
factors. The study showed that staffs had

74

high quality of life. Results of multivariable
analysis suggested that male staffs and staffs


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status