BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ ĐỨC TÍN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH
PHỦ NƢỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Công trình được hoàn thành tại :
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Thị Minh Tuyết
Phản biện 1: Tiến sĩ Nguyễn Thị Hường
Phản biện 2: Tiến sĩ Trương Văn Sinh
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học
viện Hành chính Quốc gia.
đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn công tác QLNN đối với các tổ
chức PCPNN tại tỉnh; tổ chức bộ máy quản lý các tổ chức PCPNN
chưa được kiện toàn; nhân sự chưa đảm bảo tính chuyên môn nghiệp
1
vụ; cơ chế quản lý chưa thống nhất từ trung ương đến địa phương;
công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế; chức năng, nhiệm vụ của
các cơ quan QLNN về đối với các tổ chức PCPNN còn chồng chéo,
việc phối hợp quản lý còn lỏng lẻo.
Chính vì vậy, việc cần phải nghiên cứu cơ sở lý luận về
QLNN đối với hoạt động này, kết hợp với việc đánh giá thực trạng
công tác quản lý hoạt động các tổ chức PCPNN tại Kiên Giang hiện
nay và từ đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Kiên Giang là
rất cần thiết và mang tính thời sự.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, Học viên chọn
đề tài: “Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” làm luận văn tốt
nghiệp Thạc sỹ Quản lý công, nhằm mục đích nghiên cứu thực
trạng công tác QLNN đối với các tổ chức PCPNN đang hoạt động
tại tỉnh Kiên Giang và từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao
hiệu lực QLNN đối với các tổ chức PCPNN.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Nhằm tìm hiểu vai trò, tính chất, loại hình hoạt động, lĩnh
vực hoạt động, công tác QLNN đối với các tổ chức PCPNN, Học
viên đã nghiên cứu một số tài liệu nghiên cứu về các tổ chức
PCPNN. Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
và thực tiễn tại Kiên Giang, Học viên mong muốn được nghiên cứu
được pháp luật Việt Nam cho phép, cụ thể là lĩnh vực viện trợ nhân
đạo, từ thiện và phát triển chứ không nghiên cứu các tổ chức PCPNN
hoạt động trên các lĩnh vực khác như tôn giáo, nhân quyền.
- Về không gian: Các tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn
lãnh thổ Việt Nam.
- Về thời gian: Đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu thực trạng
trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016, đồng thời đề xuất giải
3
pháp cho thời gian tới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận
văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của
phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh;
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về về đối ngoại nhân dân
và tổ chức PCPNN.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng trong quá
trình nghiên cứu luận văn này là:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
- Phương pháp xử lý thông tin và xử lý số liệu
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp một cách khái quát có hệ thống về QLNN
đối với tổ chức PCPNN, đưa ra cái nhìn tổng thể, khách quan, đa
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý
nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC
TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƢỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG
TẠI VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn
1.1.1. Tổ chức phi chính phủ
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức phi chính phủ.
Một số nước coi tất cả các tổ chức không thuộc về Chính phủ là tổ
chức PCP; trong khi đó ở một số nước khác các tổ chức PCP là
những chủ thể có tư cách pháp nhân, các tổ chức không thuộc Chính
phủ như: Các Viện, các tổ chức tư nhân, công cộng hoặc các Quỹ.
Tóm lại, có thể thấy tổ chức phi chính phủ hiểu theo một cách
chung nhất là các tổ chức Hội, Quỹ VHXH, Hội từ thiện, các tổ chức
phi vụ lợi, phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp
không thuộc khu vực nhà nước tham gia vào các hoạt động hỗ trợ
phát triển và hoạt động không vì lợi nhuận. Nghĩa là, mọi khoản lợi
nhuận nếu có thì không được và không thể phân phối theo kiểu chia
lợi nhuận.
1.1.2. Tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt
Nam
Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang
tính độc lập tương đối với Chính phủ, hoạt động phi lợi nhuận trong
khuôn khổ pháp luật dưới sự quản lý của nhà nước.
động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam.
1.2. Sự cần thiết quản lý nhà nƣớc đối với các tổ chức phi
chính phủ nƣớc ngoài hoạt động tại Việt Nam
1.2.1. Đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt
động theo đúng định hướng và pháp luật
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN
7
là nhằm hướng dẫn các tổ chức này hoạt động phù hợp với định
hướng của Việt Nam, phù hợp với những yêu cầu, nhiệm vụ phát
triển KT-XH của công cuộc đổi mới và phù hợp với văn hóa truyền
thống của dân tộc Việt Nam. QLNN cũng là để đảm bảo cho các tổ
chức PCPNN hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và những chính
sách hiện hành của Việt Nam, đồng thời không trái với pháp luật
quốc tế.
1.2.2. Phát huy mặt tích cực của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Không chỉ nhằm mục đích quản lý, QLNN còn nhằm mục đích
tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức PCPNN hoạt động và phát
huy những tác dụng tích cực của mình và qua đó thu hút tối đa mọi
nguồn lực đóng góp cho sự phát triển KT-XH của Việt Nam.
1.2.3. Hạn chế tác động chưa tích cực của các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức PCPNN nhằm
bảo vệ lợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, bí mật quốc gia; ngăn ngừa
rò rỉ thông tin và ngăn ngừa phòng chống sự xâm nhập của các yếu
tố độc hại từ bên ngoài.
1.3. Nội dung quản lí nhà nƣớc đối với các tổ chức phi
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Để vận động viện trợ đối với các tổ chức PCPNN, Chính phủ đã
ban hành Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg, ngày 27/12/2006
về“Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ
nước ngoài giai đoạn 2006-2010”; Quyết định số 40/2013/QĐ-TTg,
ngày 10/7/2013 về “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện
trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2013-2017”. Trên cơ sở
Quyết định của Thủ tướng, các tỉnh, thành phố căn cứ tình hình thực tế
tại địa phương ban hành các Quyết định về Chương trình xúc tiến vận
động viện trợ phù hợp với nhu cầu của tỉnh.
9
Việc quản lý nguồn viện trợ trước đây được thực hiện theo
Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg, ngày 26/04/2001 của Thủ tướng
Chính phủ. Tuy nhiên, sau hơn 8 năm thực hiện Quyết định này đã
bộc lộ một số bất cập do hệ thống pháp lý liên quan của Việt Nam và
thực tiễn hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPNN đã có nhiều thay
đổi. Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 22/10/2009 Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 93/NĐ-CP của Chính phủ kèm theo Quy
chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN để làm cơ sở pháp lý cho
việc QLNN về nguồn viện trợ PCPNN.
1.3.4. Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý đối với
các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Bộ máy tổ chức quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN ở
nước ta hiện nay cơ bản đã được hình thành, bao quát từ trung ương
đến địa phương. Tuy nhiên đó không phải là mối quan hệ chi phối
ngành dọc mà là giữa trung ương và địa phương có sự liên kết và
thực hiện chế độ báo cáo thường kỳ.
bằng tổng kết đánh giá là một phương thức được nhà nước sử dụng
như một công cụ quản lý để kiểm tra, đánh giá hoạt động của tổ chức
PCPNN theo định kỳ. Đây là biện pháp rất cần thiết để đúc kết, rút ra
được các bài học, các kinh nghiệm cần thiết cho công tác QLNN đối
với hoạt động của các tổ chức PCPNN sau này.
Ở một phương diện khác, hoạt động tổng kết đánh giá còn nhằm
mục đích xác định được xu thế phát triển của các tổ chức PCPNN, nhu
cầu thực tế của địa phương; các kết quả, hiệu quả mà các tổ chức
PCPNN đã làm được và hiệu quả tích cực của nó đối với cá nhân hay
đối với toàn xã hội để từ đó vạch ra kế hoạch, chiến lược cụ thể.
1.4. Kinh nghiệm quản lí nhà nƣớc đối với các tổ chức phi
chính phủ nƣớc ngoài hoạt động tại một số tỉnh/thành phố và giá
trị tham khảo cho tỉnh Kiên Giang
1.4.1. Kinh nghiệm quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi
11
chính phủ nước ngoài hoạt động tại một số tỉnh/thành phố
Kinh nghiệm tại thành phố Hồ Chí Minh
Tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua QLNN về
hoạt động của các tổ chức PCPNN đã được nhiều kết quả đáng ghi
nhận, có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Một là, Quản lý thông qua giấy phép hoạt động, Giấy đăng ký
hoạt động của tổ chức PCPNN; quản lý qua các đối tác Việt Nam.
Hai là, Quản lý nhà nước về việc tiếp nhận và sử dụng nguồn
viện trợ của các tổ chức PCPNN.
Ba là, Quản lý cán bộ, nhân viên làm việc cho các tổ chức
PCPNN.
Bốn là, Hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý.
trên địa bàn
Từ những kinh nghiệm của 3 tỉnh, thành phố trên, tỉnh Kiên
Giang có thể rút ra một số kinh nghiệm để áp dụng vào việc QLNN
đối với các tổ chức PCPNN như sau:
Một là, Phải xây dựng hoàn thiện hệ thống văn bản qui phạm
pháp luật về QLNN đối với các tổ chức PCPNN hoạt động tại tỉnh.
Hai là, Xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch vận động
viện trợ sát với thực tiễn nhu cầu của địa phương.
Ba là, Xây dựng bộ máy quản lý và đào tạo trình độ cho đội
ngũ cán bộ làm công tác QLNN về PCPNN thật khoa học, hợp lý, đủ
năng lực để thực thi công việc; chú trọng đến việc phối hợp giữa các
sở, ban ngành trong công tác quản lý.
Bốn là, Thường xuyên kiểm tra, giám sát thông qua các hoạt
động của các tổ chức PCPNN như: Kiểm tra giấy phép hoạt động,
giấy đăng ký hoạt động; thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện
các chương trình dự án, tình hình quản lý và sử dụng viện trợ
PCPNN tại các đơn vị, địa phương nơi có các chương trình dự án
đang được triển khai.
13
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC
TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƢỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
2.1. Khái quát về tỉnh Kiên Giang và các tổ chức phi chính
phủ nƣớc ngoài hoạt động tại tỉnh Kiên Giang
2.1.1. Khái quát về điều kiện phát triển tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, thuộc
tính cộng đồng trên quy mô huyện hay cụm xã.
- Dự án giải quyết việc làm, dạy nghề cho thanh niên.
- Dự án cho vay vốn quay vòng (tài chính vi mô).
- Dự án mô hình sinh kế.
- Dự án xây dựng năng lực.
Về lĩnh vực hoạt động
Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN hoạt động trên địa
bàn tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 đến năm 2016 cũng được phân
thành các nhóm sau: Xây dựng giao thông nông thôn; hỗ trợ y tế; hỗ
trợ giáo dục; môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu; vấn đề xã hội;
đào tạo nghề, tạo việc làm.
2.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các tổ
chức phi chính phủ nƣớc ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang
2.2.1. Tổ chức triển khai thực hiện các văn bản pháp qui đối
với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên
Giang
Tỉnh Kiên Giang đã ban hành Quyết định số 1200/QĐ-UBND
ngày 5/6/2012 của UBND tỉnh về thành lập Ban Công tác vận động,
điều phối và sử dụng viện trợ PCPNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
Quyết định số 893/QĐ-UBND ngày 11/4/2013 về ban hành Quy chế
15
quản lý và sử dụng tài trợ trong nước và viện trợ phi chính phủ nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Trên cơ sở các quyết định, để quản lý sự hiện diện và hoạt
động của các tổ chức PCPNN tại Kiên Giang, nhiều hình thức
quản lý khác nhau đã được các cơ quan QLNN về hoạt động
2.2.4. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý đối với các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang
Tại tỉnh Kiên Giang, việc quản lý các hoạt động PCPNN trên
địa bàn tỉnh Kiên Giang được giao cho 7 đơn vị theo Quyết định số
1200/QĐ-UBND ngày 05/6/2012 của UBND tỉnh Kiên Giang. Ngày
11 tháng 4 năm 2013, UBND tỉnh Kiên Giang đã ban hành Quyết
định số 891/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế làm việc của lập
Ban Công tác vận động, điều phối và sử dụng viện trợ nước ngoài và
phi chính phủ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang phân công trách nhiệm và
quyền hạn đối với từng thành viên của Ban theo lĩnh vực mình phụ
trách.
2.2.5. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lí đối với
các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại tỉnh Kiên
Giang
Các Sở, ban ngành và địa phương bước đầu đã xây dựng và
chỉ định đầu mối trong công tác PCPNN tại đơn vị (do đồng chí lãnh
đạo đơn vị hoặc lãnh đạo Văn phòng phụ trách).
Công tác đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia
QLNN về hoạt động của các tổ chức PCPNN ngày càng được quan
tâm. Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ trực tiếp làm việc, phối
hợp với các tổ chức PCPNN cũng ngày càng được nâng cao.
2.2.6. Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật đối với các
tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang
Tại Kiên Giang, việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ
chức PCPNN và tiếp nhận viện trợ của các tổ chức PCPNN cũng
17
được quan tâm thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như:
chức PCPNN bước đầu được quan tâm.
2.3.2. Những hạn chế
Một là, về mặt thủ tục pháp lý: có những quy định không còn
phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tế nhưng vẫn chưa được sửa
đổi, bổ sung kịp thời.
Hai là, hạn chế về tổ chức bộ máy: bộ máy QLNN về hoạt
động của các tổ chức PCPNN tại Kiên Giang chậm được kiện toàn,
triển khai hoạt động quản lý vẫn còn chồng chéo.
Ba là, hạn chế về năng lực cán bộ: đội ngũ cán bộ quản lý
hoạt động của tổ chức PCPNN chưa đáp ứng yêu cầu cả về trình độ,
kỹ năng, nhất là trình độ ngoại ngữ, kiến thức về quan hệ quốc tế và
kỹ năng trong quan hệ với các tổ chức PCPNN.
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế
Một là, một số địa phương vẫn còn tâm lý không muốn hợp
tác, tiếp nhận viện trợ PCPNN do quan niệm hoạt động của các tổ
chức PCPNN là rất phức tạp.
Hai là, cơ sở pháp lý/thể chế và chính sách huy động viện trợ
đối với tổ chức PCPNN trong thời gian qua còn chưa đầy đủ, thiếu ổn
định và thiếu sự nhất quán.
Ba là, việc nhận thức trong tổ chức thực hiện các văn bản
QLNN đối với các tổ chức PCPNN ở các địa phương còn hạn chế đã
gây ra nhiều khó khăn trong quản lý.
Bốn là, năng lực và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý hoạt
động của các tổ chức PCPNN tại Kiên Giang còn nhiều hạn chế.
19
CHƢƠNG 3
phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN
phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phải
luôn quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm, đường lối của
Đảng về công tác đối ngoại nhân dân và công tác PCPNN trong toàn
bộ quá trình quản lý nhà nước
3.2.2. Định hướng của tỉnh Kiên Giang đối với các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn
Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo của Đảng, tại Kiên Giang
lãnh đạo Tỉnh ủy và UBND tỉnh luôn xác định rõ hoạt động của các
tổ chức PCPNN là tất yếu khách quan. Hoạt động của các tổ chức
PCPNN đã có những đóng góp nhất định trong quá trình phát triển
KT-XH của tỉnh. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực nhạy cảm, có thể
bị lợi dụng để gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình chính trị, công
việc nội bộ, xâm hại an ninh và chủ quyền quốc gia. Đặc biệt khi tỉnh
Kiên Giang là một địa bàn có vị trí chiến lược, là tỉnh có đông đồng
bào dân tộc Khmer nên công tác quản lý phải được chặt chẽ hơn.
3.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với các tổ
chức phi chính phủ nƣớc ngoài hoạt động tại Kiên Giang
3.3.1. Rà soát, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản qui
phạm pháp luật quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài phù
hợp với thực tế tỉnh Kiên Giang
Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cần tiếp tục chỉ đạo các sở
ngành, các địa phương quán triệt các chủ trương chính sách và các
quy định của pháp luật về công tác PCPNN cho cấp Ủy và chính
quyền các cấp. Ban hành các văn bản chỉ đạo liên quan đến việc
QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN phù hợp với đặc
thù riêng của tỉnh.
22
Một là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia quản lý
tổ chức PCPNN.
Hai là, nâng cao nhận thức của nhân viên Việt Nam và người
nước ngoài làm việc cho các tổ chức PCPNN.
3.3.5. Tiến hành thường xuyên hoạt động thanh tra, kiểm
tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài và xử lý nghiêm các vi phạm
Tại Kiên Giang, trong thời gian tới để tăng tính hiệu quả trong
hoạt động kiểm tra, giám sát cần được quan tâm tới một số việc như:
Một là, hoàn thiện cơ chế phối hợp kiểm tra, giám sát: cần có
sự phân công rõ rệt trong kiểm tr, giám sát của các cơ quan quản lý
nhà nước và cơ quan đầu mối phụ trách tại địa phương.
Hai là, cần tăng cường công tác đi cơ sở: là cơ sở để tổng hợp
phân tích, từ đó đưa ra được giải pháp cụ thể, nhằm hạn chế quản lý
về mặt hành chính, chỉ dựa vào báo cáo. Thông qua cơ sở mà nắm
bắt tình hình hoạt động các tổ chức PCPNN một cách sát thực.
Ba là, nâng cao hiệu quả công tác giám sát: huy động sự tham
gia của các đoàn thể và người dân, à những người trực tiếp hưởng lợi
từ các hoạt động, các dự án viện trợ của các tổ chức PCPNN
Bốn là, xử lý nghiêm những vi phạm của các cá nhân, các tổ
chức PCPNN. Các sai phạm đều phải có hình thức chế tài, xử lý cụ
thể, đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Năm là, xây dựng cơ chế khen thưởng rõ ràng, động viên kịp
thời và chính xác.
KẾT LUẬN
Sự phát triển mạnh cả về số lượng và lĩnh vực đầu tư của các