Quản lý nhà nước về hộ tịch của UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………………

BỘ NỘI VỤ
…………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN MINH CHIẾN

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HỘ TỊCH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

……………………

…………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN MINH CHIẾN


thuận lợi để tôi đƣợc tham dự và hoàn thành khóa học Thạc sĩ chuyên ngành
quản lý công.
Luận văn sẽ không hoàn thành đƣợc nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình
từ PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn tôi hoàn thành
Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu cùng các
thầy cô trong Học viện Hành chính Quốc gia đã trang bị cho tôi những kiến
thức để làm cơ sở cho tôi thực hiện thành công Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn tập thể Lãnh đạo Sở Tƣ pháp tỉnh Kiên Giang
và bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập số
liệu và phân tích thực trạng về quản lý nhà nƣớc về hộ tịch của Ủy ban nhân
dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Học viên: Trần Minh Chiến


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI............................................................................... 1
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN ....................... 3
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU................................................ 5
3.1. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................. 5
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .......................................... 5
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu .......................................................................... 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 5
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 6
5.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................ 6
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................... 6

tịch ............................................................................................................... 50
1.4.4. Văn hoá, lối sống, ý thức pháp luật về hộ tịch của ngƣời dân trên địa
bàn ............................................................................................................... 51
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 52
CHƢƠNG 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HỘ TỊCH
CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN
GIANG HIỆN NAY ...................................................................................... 53
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH HÀNH CHÍNH, KINH TẾ,
XÃ HỘI VÀ DÂN CƢ CÓ ẢNH HƢỞNG TỚI QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG.............................. 53
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên ............................................................................. 53
2.1.2. Đặc điểm hành chính, kinh tế, xã hội................................................ 53
2.1.3. Đặc điểm dân cƣ................................................................................ 54


2.2. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HỘ TỊCH Ở
TỈNH KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN TỪ 2010 ĐẾN NAY ........................... 55
2.2.1. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch
..................................................................................................................... 55
2.2.2. Tổ chức, triển khai, hƣớng dẫn thực hiện pháp luật về hộ tịch ........ 56
2.2.3. Công tác phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch, bảo đảm yếu tố vật
chất cho công tác quản lý nhà nƣớc về hộ tịch ........................................... 57
2.2.4. Đánh giá chung ................................................................................. 57
2.3. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HỘ TỊCH CỦA UỶ BAN
NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG GIAI
ĐOẠN TỪ 2010 ĐẾN NAY .......................................................................... 59
2.3.1. Tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý ................................................. 59
2.3.2. Tổ chức triển khai, phổ biến giáo dục pháp luật và hƣớng dẫn thực
hiện pháp luật về hộ tịch ............................................................................. 60
2.3.3. Quản lý dữ liệu về hộ tịch và những thay đổi về hồ sơ hộ tịch ........ 62

nhận thức và ý thức của ngƣời dân về đăng ký hộ tịch............................... 97
3.2.4. Tăng cƣờng cơ sở vật chất, kinh phí, trang bị phục vụ hệ thống đăng
ký hộ tịch ..................................................................................................... 98
3.2.5. Phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể trong quản lý nhà
nƣớc về hộ tịch ở cấp xã ........................................................................... 101
3.2.6. Đẩy mạnh công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt
động quản lý nhà nƣớc về hộ tịch ............................................................. 104
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ............................................................................ 107
KẾT LUẬN .................................................................................................. 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Quản lý nhà nƣớc về hộ tịch là một trong những hoạt động quản lý dân
cƣ quan trọng, chủ yếu của nền hành chính mà mọi quốc gia, dù ở bất kỳ chế
độ chính trị, với trình độ phát triển nào cũng đều quan tâm. Việc quản lý hộ
tịch chính xác, kịp thời, đầy đủ sẽ giúp cho Nhà nƣớc có đƣợc thông tin đầy
đủ về tình hình biến động, các thông tin nhân thân cơ bản của dân cƣ, từ đó có
thống kê, đánh giá để hoạch định chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội phù hợp với đặc điểm dân cƣ ở từng địa bàn, từng giai đoạn. Ở Việt Nam,
quản lý nhà nƣớc về hộ tịch đƣợc xác định là hoạt động cốt lõi, ban đầu trong
chuỗi các hoạt động quản lý dân cƣ của Nhà nƣớc. Việc tổ chức phục vụ
ngƣời dân đăng ký hộ tịch thuận tiện, nhanh chóng còn mang ý nghĩa chính trị
xã hội to lớn, đó là sự quan tâm, chăm lo của Nhà nƣớc đối với công dân của
mình, là sự bảo đảm của Nhà nƣớc đối với cá nhân trong việc thực hiện quyền
công dân, quyền con ngƣời bởi đối với mỗi cá nhân, đăng ký hộ tịch là cách
thức để thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản nhƣ: quyền đƣợc đăng ký
khai sinh, quyền có quốc tịch, quyền kết hôn, quyền nuôi con nuôi hoặc đƣợc

tịch ở cấp xã còn chƣa hợp lý; ngƣời dân vẫn có phản ánh về giải quyết thủ
tục hành chính chƣa đƣợc cải cách; tỷ lệ đăng ký hộ tịch chƣa cao cho thấy
công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch tại các xã chƣa có hiệu
quả cao …
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng, ý nghĩa của hoạt động quản lý nhà
nƣớc về hộ tịch; sự cần thiết phải đánh giá đúng, chính xác về thực trạng
quản lý nhà nƣớc về hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang, tìm ra nguyên nhân và từ đó có đề xuất giải pháp khắc phục, đổi
mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về hộ tịch, phục vụ tốt hơn cho
ngƣời dân trên địa bàn tỉnh, đó là lý do chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý nhà
2


nƣớc về hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang”.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài luận văn
Vấn đề hộ tịch và quản lý nhà nƣớc về hộ tịch đã đƣợc nghiên cứu bởi
nhiều công trình khoa học, dƣới nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Có thể kể
tới các nhóm sau:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về hộ tịch và quản lý
hộ tịch:
- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tƣ pháp (1995), “Chuyên đề
thông tin khoa học pháp lý về hộ tịch”;
- Ths. Phạm Trọng Cƣờng (2004), Về quản lý hộ tịch, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội;
- Ths. Phạm Trọng Cƣờng (2007), Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch,
NXB Tƣ Pháp, Hà Nội;
- Giáo trình Quản lý hành chính - tư pháp của Học viện Hành chính,
Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, năm 2008 (dành cho đào tạo trung cấp hành

đề pháp luật hộ tịch năm 2013.
Các công trình nghiên cứu khoa học nói trên đã đề cập từng khía cạnh
của quản lý nhà nƣớc về hộ tịch. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay công tác
quản lý nhà nƣớc về hộ tịch đã có nhiều thay đổi, nhất là sự ra đời của Luật
Hộ tịch năm 2014 và nhiều văn bản pháp luật khác liên quan. Do vậy, việc
nghiên cứu cả phƣơng diện lý luận, pháp lý và thực tiễn thi hành pháp luật về
hộ tịch là điều cần thiết hiện nay.
Qua khảo sát cho thấy, dƣới góc độ quản lý công, chƣa có công trình
khoa học nào nghiên cứu trực tiếp cụ thể về hoạt động quản lý nhà nƣớc về hộ
tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Trong bối cảnh
đó, trên cơ sở tiếp thu chọn lọc, kế thừa các công trình nghiên cứu trƣớc đây,
tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp
4


xã trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên
ngành Quản lý công.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý nhà nƣớc
về hộ tịch, luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý nhà nƣớc về hộ
tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Kiên Giang những năm
qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về
hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, pháp lý của quản lý nhà nƣớc về hộ
tịch, quản lý nhà nƣớc về hộ tịch ở cấp xã;
- Khái quát những yếu tố ảnh hƣởng tới quản lý nhà nƣớc về hộ tịch;
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nƣớc về hộ tịch ở cấp xã trên địa bàn
tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 đến nay, nêu ra những kết quả đạt đƣợc và hạn

Các phƣơng pháp đƣợc tác giả sử dụng trong luận văn gồm: phƣơng
pháp phân tích, tổng hợp, phƣơng pháp hệ thống, phƣơng pháp so sánh...
Trong chƣơng 1, để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý nhà nƣớc
về hộ tịch, luận văn sử dụng phƣơng pháp hệ thống, so sánh, phân tích nhằm
làm rõ thêm quan niệm, nội dung của quản lý nhà nƣớc về hộ tịch.
Tại Chƣơng 2, luận văn sử dụng phƣơng pháp tổng hợp, so sánh, quan
sát, phân tích, khái quát hoá để phân tích thực trạng, đánh giá những ƣu điểm,
hạn chế trong quản lý nhà nƣớc về hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã trên
địa bàn tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 đến nay.

6


Ở chƣơng 3, phƣơng pháp khái quát hoá, phân tích đƣợc sử dụng để
luận giải những quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của quản lý nhà nƣớc về hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hiện nay.
6. Đóng góp của đề tài luận văn
Đề tài hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về hộ tịch và quản lý
nhà nƣớc đối với hộ tịch; đánh giá thực trạng về quản lý hộ tịch ở cấp xã trên
địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua, từ đó nêu lên những giải pháp để góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nƣớc về hộ tịch của Uỷ ban
nhân dân cấp xã ở tỉnh Kiên Giang.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở để chính quyền
các cấp ở tỉnh Kiên Giang nghiên cứu, vận dụng vào thực tế quản lý hộ tịch.
Luận văn cũng có thể là tài liệu nghiên cứu về quản lý hộ tịch cho các
học viên, sinh viên của học viện hành chính.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn
- Đề tài luận văn góp phần bổ sung hoàn thiện cơ sở khoa học của quản
lý nhà nƣớc về hộ tịch, trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận, thực tiễn

sánh pháp luật về hộ tịch của Viện Nghiên cứu Lập pháp, theo đó:
- Về khía cạnh ngôn ngữ
“Hộ tịch” là một từ ngoại lai đƣợc du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt
nhƣng rất khó xác định thời điểm xuất hiện. Khảo cứu qua các bộ sử liệu nhƣ
“Đại Việt sử ký toàn thƣ”, “Lịch triều hiến chƣơng loại chí”, “Việt sử thông
giám cƣơng mục” v.v. có thể thấy thuật ngữ “hộ tịch” đã xuất hiện từ rất sớm,
bên cạnh nó còn các từ cổ có liên quan và cùng nằm trong phạm trù quản lý
dân cƣ nhƣ “trƣớng tịch”, “hộ khẩu”, “sổ dân bạ”, “tiểu điển”, “đại điển”,
“phụ tịch”, “chính hộ”, “khách hộ”, v.v... Tuy nhiên, theo “Đại Nam Quốc âm
tự vị”, cuốn từ điển của tác giả Huỳnh Tịnh Paulus Của đƣợc biên soạn từ
năm 1895 với phƣơng pháp “tham dụng chữ Nho và lấy 24 chữ cái phương
Tây làm chữ bộ” thì trong bộ chữ “hộ” chƣa có từ “hộ tịch”.
“Hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, đƣợc ghép bởi hai thành
tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính. Xét về mặt từ loại thì
đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tƣợng. Nếu tìm
hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển tiếng Việt hiện nay khá
thống nhất trong cách hiểu về từng từ đơn này. Theo đó, từ “hộ” - khi sử dụng
là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, nhƣng trong đó có một nghĩa trực tiếp là
“dân sự” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những

9


ngƣời cùng ăn ở với nhau”. Tƣơng tự, từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là
“sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên, việc tổ hợp hai từ đơn này
thành danh từ “hộ tịch” lại là một trƣờng hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ, và
đƣợc sử dụng với thuộc tính kết hợp hạn chế (hạn chế về việc sử dụng và khả
năng tổ hợp của từ ngữ). Chính do tính chất đặc biệt ấy nên khảo cứu qua các
từ điển tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch” rất khác nhau.
Các Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau (Đào Duy Anh,

một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu” trong
nhận thức xã hội là khá phổ biến.
- Về khía cạnh pháp lý
* Quan niệm của một số học giả miền Nam Việt Nam thời kỳ trước
năm 1975
Thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa trong các giáo trình
giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dƣới chế độ Việt Nam Cộng hoà,
trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau:
Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là ngƣời đầu tiên trình bày quan
niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 nhƣ sau:
“Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công
dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan
trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử”.
Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa
khác về khái niệm “hộ tịch”:
“Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ
tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử”.
Tác giả Trần Thúc Linh, tác giả cuốn Danh từ pháp luật lƣợc giải - vốn
đƣợc đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên không đƣa ra định nghĩa về khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa khái niệm
“chứng thƣ hộ tịch”:

11


“Chứng thư hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh
một cách chính xác thân trạng người ta như ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ
tên, con trai con gái, con chính thức hay con tư sanh, tư cách vợ chồng... tóm
lại tình trạng xã hội của con người từ lúc sinh ra đến khi chết.
Các sổ sách hộ tịch ghi lại mọi việc sanh, tử, giá thú và các việc thay
đổi về thân trạng người ta (nhìn nhận con ngoại hôn, chính thức hoá con tư

nước có thẩm quyền:
- Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận
cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại
giới tính; xác định lại dân tộc;
- Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào
sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ
việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.”
Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, trong khái niệm “đăng ký hộ tịch”, chữ
“tịch” đã có giá trị biểu đạt tƣơng đƣơng với “đăng ký”, điều này tạo nên sự
trùng lặp về ý nghĩa khi giải thích khái niệm (tƣơng tự nhƣ cụm từ: sông
Hồng Hà,...). Đây là một nét đặc trƣng của việc sử dụng ngôn ngữ Hán Việt.
Hạn chế này có thể đƣợc khắc phục nếu thay thế khái niệm “đăng ký hộ tịch”
bằng khái niệm thuần Việt “đăng ký tình trạng dân sự”. Tuy nhiên, đây là
khái niệm xa lạ với ngƣời dân, do đó, việc sử dụng khái niệm thay thế “đăng
ký tình trạng dân sự” mặc dù có thể đạt đƣợc sự chặt chẽ về mặt học thuật
nhƣng lại hoàn toàn không có ƣu thế về hiệu quả sử dụng do không có tính
đại chúng, hạn chế khả năng phổ biến trong đời sống xã hội.
* Quan niệm của khoa học pháp lý nước ngoài
Từ góc độ so sánh luật, qua tham khảo một số tài liệu pháp lý nƣớc
ngoài có thể thấy, trong khoa học pháp lý một số nƣớc cũng có những khái
niệm tƣơng đƣơng với khái niệm “hộ tịch” trong tiếng Việt, đó là các thuật
ngữ: "civil registration" (tiếng Anh), "registre d'etat civil" (tiếng Pháp),
"das Personenstandsregister" (tiếng Đức).
13


Về mặt ngôn ngữ, ba khái niệm trong ba ngôn ngữ nói trên đều có thể
chuyển nghĩa sang tiếng Việt là “đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân”.
Trong khoa học pháp lý của các nƣớc theo truyền thống luật thành văn
(Continental – còn gọi là hệ thống luật lục địa), mà đại diện tiêu biểu nhất là

Theo đó, Điều 3 của Luật hộ tịch 2014 đƣợc quy định nhƣ sau:
1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch:
- Khai sinh;
- Kết hôn;
- Giám hộ;
- Nhận cha, mẹ, con;
- Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch;
- Khai tử.
2. Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án,
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
- Thay đổi quốc tịch;
- Xác định cha, mẹ, con;
- Xác định lại giới tính;
- Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;
- Ly hôn, huỷ việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;
- Công nhận giám hộ;
- Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc
hạn chế năng lực hành vi dân sự.
3. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; huỷ việc kết
hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi;thay
đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài.
4. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định
của pháp luật.

15


Nhƣ vậy, Luật hộ tịch đã quy định cụ thể hơn về khái niệm hộ tịch so
với Nghị định 158/2005/NĐ-CP điều này là cần thiết bởi cần phải có sự thống

chức năng xã hội của Nhà nƣớc xét trên ba phƣơng diện cơ bản:
Thứ nhất, quản lý hộ tịch là cơ sở để Nhà nƣớc hoạch định các chính
sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…và tổ chức thực
hiện có hiệu quả các chính sách đó. Một hệ thống quản lý dữ liệu hộ tịch đầy
đủ, chính xác, đƣợc cập nhật kịp thời, thƣờng xuyên sẽ là nguồn tài sản thông
tin hết sức quý giá luôn sẵn sàng hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính
sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội.
Tuy nhiên, tại các xã hải đảo, vùng sâu, vùng xa đạt đƣợc thấp hơn.
Một trong các nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là do từ chính hoạt động quản
lý hộ tịch. Khảo sát thực tiễn cho thấy, đây đồng thời cũng là địa bàn công tác
quản lý hộ tịch bị buông lỏng, hệ thống sổ hộ tịch khai sinh, kết hôn, khai tử
không phản ánh chính xác tình hình dân cƣ; do đó, việc thực hiện các chính
sách gặp rất nhiều khó khăn hiệu quả đạt thấp. Đối với quốc gia có kết cấu
dân cƣ đa dạng về thành phần dân tộc nhƣ Việt Nam, quản lý hộ tịch còn góp
phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách phát
triển kinh tế, xã hội các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Thứ hai, hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch thể hiện tập trung nhất,
sinh động nhất sự tôn trọng của Nhà nƣớc đối với việc thực hiện một số
quyền nhân thân cơ bản của công dân đã đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp năm
2013 và Bộ luật Dân sự, ví dụ nhƣ quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ
tên, quyền xác định dân tộc, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, quyền
đƣợc nuôi con nuôi và đƣợc nhận làm con nuôi, v.v. Ở phƣơng diện này đăng
ký hộ tịch chính là phƣơng tiện để ngƣời dân thực hiện, hƣởng thụ các quyền
nhân thân đó. Các dữ liệu về căn cƣớc của mỗi cá nhân thể hiện trên chứng
thƣ hộ tịch (giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn …) là sự khẳng định có
giá trị pháp lý về đặc điểm nhân thân của mỗi ngƣời, mà qua đó các cơ quan

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status