BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ VĂN QUÝ
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN HẢI HỒ
Phản biện 1: TS. NGUYỄN HOÀNG ANH
Phản biện 2: TS. NGUYỄN XUÂN HOÀI
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học
viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp số 10, Nhà A - Hội trường bảo vệ luận văn
thạc sĩ Học viện Hành chính Quốc gia.
Số 10 -Đường 3/2- Quận 10- thành phố Hồ Chí Minh
bộ trên địa bàn cấp tỉnh.....................................................................11
1
1.2.1. QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động
mang tính quyền lực Nhà nước ở địa phương...................................11
1.2.2. QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động
chấp hành và điều hành......................................................................11
1.2.3. QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động
có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ; đảm bảo tính nghiêm minh
của pháp luật......................................................................................12
1.3. Nội dung quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường
bộ trên địa bàn cấp tỉnh......................................................................13
1.4. Vai trò của quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường
bộ trên địa bàn cấp tỉnh......................................................................22
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT
TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KIÊN GIANG.......................................................................26
2.1. Thực trạng tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa
bàn tỉnh Kiên Giang...........................................................................26
2.2. Thực trạng quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường
bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.........................................................26
2.2.1 Xây dựng và ban hành văn bản quản lý Nhà nước về trật
tự, an toàn giao thông đường bộ........................................................29
2.2.2. Triển khai thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về trật
tự an toàn giao thông đường bộ.........................................................32
2.2.3. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
trật tự an toàn giao thông đường bộ...................................................37
2.2.4. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của đất
nước, tỉnh Kiên Giang có sự chuyển biến sâu sắc về mọi mặt trên tất
cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, sự gia tăng về kinh tế,
thu nhập và sự phát triển của kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đã
thúc đẩy số lượng phương tiện cơ giới đường bộ, đặc biệt là ôtô,
môtô, xe gắn máy trên địa bàn tỉnh Kiên Giang gia tăng một cách
nhanh chóng. Lưu lượng và khối lượng giao thông đường bộ trên địa
bàn tỉnh Kiên Giang tăng nhanh kéo theo các vấn đề liên quan như
xung đột giao thông, tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông bắt đầu gia
tăng...Bên cạnh đó, những yếu tố đặc thù của địa bàn tỉnh Kiên Giang
(kinh tế, văn hóa - xã hội, kết cấu hạ tầng, phương tiện, môi trường)
góp phần làm cho tình hình đảm bảo TTATGTĐB càng trở lên phức
tạp. Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về
trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang”
làm luận văn thạc sỹ quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có một số luận văn, công trình nghiên cứu khoa học, bài viết
chuyên đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn như:
- Thạch Như Sỹ: “Phối hợp dịch vụ công cộng và trật tự công
cộng trong QLNN về giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hà
Nội. Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm 2009.
- Nguyễn Huy Bằng: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay”, Luận văn
thạc sĩ Luật học, năm 2001.
- Mai Văn Đức: “Nghiên cứu tình hình an toàn giao thông
đường bộ và các biện pháp khắc phục”, Luận văn thạc sĩ Khoa học Kỹ thuật, năm 2000.
- Trần Văn Quan: “Tăng cường QLNN về vận tải đường bộ thực tiễn tỉnh Đồng Nai”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công,
năm 2014.
4
Gồm phần mở đầu, 03 chương, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo.
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ
TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH
1.1. Khái niệm QLNN về TTATGT trên địa bàn cấp tỉnh
1.1.1. Quản lý Nhà nƣớc
Quản lý Nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà
nước của các cơ quan Nhà nước và cán bộ, công chức có thẩm quyền,
được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Đối tượng của QLNN là hệ thống các hành vi, hoạt động của con
người, các tổ chức con người trong cuộc sống xã hội, bao trùm lên
mọi lĩnh vực trong xã hội. Có thể chia đối tượng của QLNN theo
các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội, an ninh, quốc phòng... Khi đối tượng của QLNN là đấu
tranh phòng, chống tội phạm thì đó là QLNN đối với đấu tranh
phòng, chống tội phạm[1, tr.46].
1.1.2. Trật tự an toàn giao thông
TTATGT là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều
chỉnh bởi các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải
công cộng, nhằm đảm bảo cho giao thông thông suốt, trật tự an toàn,
hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông. Đảm bảo TTATGT là
một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó là điều
kiện cần thiết để phát triển kinh tế, cũng cố an ninh quốc phòng và ổn
định trật tự xã hội.
1.1.3. Địa bàn cấp tỉnh
TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh thể hiện ở chỗ hoạt động QLNN ở
lĩnh vực này được tiến hành bởi nhiều cơ quan hành chính Nhà nước
của địa phương, với những thẩm quyền khác nhau cùng tham gia bảo
đảm TTATGTĐB. Đó là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Giao thông
vận tải, Công an cấp tỉnh,... Ngoài ra, còn có những cơ quan khác giữ
vai trò phối hợp như Mặt trận Tổ quốc, Sở Y tế, Sở Xây dựng, Sở
Giáo dục và Đào tạo, cơ quan thông tin đại chúng, v.v…
1.2.2. QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt
động chấp hành và điều hành
Tính chấp hành và điều hành trong hoạt động QLNN về
TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh thể hiện trong việc những hoạt
động này được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật và
nhằm mục đích thực hiện pháp luật. Như vậy, trong hoạt động QLNN
7
về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh, tính chấp hành và tính điều
hành luôn đan xen, song song tồn tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt
động quản lý trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, thành phố.
1.2.3. QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt
động có tính thống nhất, đƣợc tổ chức chặt chẽ; đảm bảo tính
nghiêm minh của pháp luật
Để đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động quản lý
TTATGTĐB, bộ máy các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước ở
địa bàn cấp tỉnh được tổ chức thành một khối thống nhất từ cấp tỉnh
đến cấp cơ sở. Cụ thể, ở cấp tỉnh là bộ máy quản lý, điều hành gồm
các sở, ban, ngành như: Ủy ban nhân dân, Sở GTVT, Công an tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, ở cấp huyện là các Phòng, Ban,
Đội; ở cấp xã là các Tổ, Đội; nhờ đó các hoạt động của bộ máy được
chỉ đạo, điều hành thống nhất, đảm bảo lợi ích chung của địa phương,
2.1. Thực trạng tình hình TTATGTĐB trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang
Tình hình tai nạn giao thông đường bộ, theo thống kê của
Phòng Cảnh sát giao thông, từ năm 2011 đến hết năm 2015, toàn tỉnh
xảy ra 2.410 vụ TNGT, làm chết 135 người và bị thương 589 người;
ngoài ra còn xảy ra trên 2.000 vụ va chạm giao thông. Trong đó, đã
xảy ra 167 vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng, làm chết 95 người, bị
thương 341 người.
Vi phạm của người tham gia giao thông, tình hình vi phạm
TTATGT đường bộ của người tham gia giao thông vẫn còn mang
tính phổ biến, nhất là tính tự giác còn kém, còn tùy tiện khi điều
khiển phương tiện, vi phạm quy tắc giao thông khi không có lực
lượng CSGT giám sát.
Tình trạng vi phạm hành lang ATGT, tình trạng vi phạm hành
lang ATGT vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi. Các vi phạm chủ
yếu: lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường trái phép để buôn bán
hoặc làm nơi trông giữ xe, vi phạm hành lang bảo vệ đường bộ, tập
kết vật liệu xây dựng, phơi lúa, rơm rạ trên mặt đường; dừng, đỗ
phương tiện giao thông trên lòng đường.
Tình trạng tụ tập điều khiển phương tiện chạy lạng lách đánh
võng, đua xe trái phép, những năm qua, tình trạng điều khiển mô tô
lạng lách, đánh võng diễn ra nhiều tại một số địa phương như: Thành
phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, huyện Phú Quốc.v.v...
9
2.2. Thực trạng quản lý Nhà nƣớc về trật tự an toàn giao
thông đƣờng bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
2.2.1 Xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nƣớc về
trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ
thị trấn), lực lượng vũ trang, trường học, doanh nghiệp trên địa bàn.
2.2.4. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong
QLNN về TTATGTĐB
UBND tỉnh chỉ đạo Liên ngành Giao thông vận tải - Công an
tỉnh đã triển khai các đợt kiểm tra, xử lý vi phạm TTATGTĐB, bố trí
lực lượng, tập trung tuần tra kiểm soát, xử lý kiên quyết các hành vi
vi phạm quy định của pháp luật về TTATGTĐB theo các chuyên đề,
nhất là những lỗi vi phạm là nguyên nhân dẫn đến TNGT và UTGT;
chỉ đạo tổ chức các đợt cao điểm trong kiểm tra, xử lý vi phạm đối
với các hành vi vi phạm nên đã có tác động mạnh tới xã hội trong
phòng ngừa, răn đe các đối tượng tham gia giao thông theo từng thời
gian, điều kiện cụ thể như: xe tải; ôtô chở khách; xe 3 bánh tự sản
xuất, lắp ráp; xích lô; xe ôtô dừng, đỗ sai quy định; chở vật liệu rơi
vãi; vi phạm quyền ưu tiên; không đội mũ bảo hiểm; tốc độ; rượu,
bia; xử lý vi phạm hành lang ATGT... Kết quả từ năm 2010 đến năm
2016, Công an tỉnh đã kiểm tra, xử lý 759.962 trường hợp vi phạm,
phạt thành tiền 192,5 tỷ đồng; tạm giữ trên 1.000 xe ôtô và 56.256 xe
môtô.
2.3. Đánh giá chung
2.3.1. Ƣu điểm
Thứ nhất, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành của tỉnh
mà nòng cốt là Sở Giao thông vận tải - Công an tỉnh, cùng với sự vào
cuộc của UBND các huyện, xã, phường, thị trấn và các tầng lớp nhân
dân, tình hình TNGT đã có diễn biến tích cực;
Thứ hai, chỉ đạo Thanh tra giao thông, Cảnh sát giao thông và
các lực lượng liên quan chủ động lập kế hoạch phối hợp, bố trí lực
lượng hướng dẫn giao thông kịp thời khi có sự cố;
Thứ ba, công tác quản lý, duy tu, duy trì hệ thống hạ tầng giao
thông vận tải đường bộ kịp thời và hiệu quả, đảm bảo giao thông êm
thuận, thông suốt, an toàn, duy trì khả năng khai thác bình thường
thực hiện thẩm định ATGT chưa được xác định rõ, gây khó khăn cho
công tác thẩm định; danh mục thực hiện thẩm định ATGT cho các cơ
quan quản lý đường bộ chưa tính đến những điểm đặc thù; phân tích,
đánh giá một cách khoa học về TNGT chưa được tiến hành hiệu quả
vì những hạn chế trong việc sử dụng cơ sở dữ liệu về TNGT và số
liệu thống kê đường bộ không đầy đủ.
Ba là, công tác cải tạo điểm đen còn một số vấn đề bất cập như
cơ sở dữ liệu về TNGT còn yếu; những thông tin về tình trạng đường,
12
chi tiết về tai nạn ít được thống kê, phân tích; những mẫu thu thập số
liệu chưa được cải tiến và cơ sở dữ liệu chưa được thiết lập, cơ chế
chia sẻ số liệu giữa Cảnh sát giao thông và các cơ quan liên quan còn
thiếu; chưa có định nghĩa rõ ràng về điểm đen như được áp dụng đối
với các đoạn đường hoặc những vị trí được tính là điểm đen và số vụ
tai nạn trong xác định điểm đen; thiếu các kỹ sư điều tra tai nạn có
kinh nghiệm; hiện vẫn thiếu cơ chế hợp tác hiệu quả để thảo luận các
biện pháp ATGT; hệ thống giám sát theo dõi sau khi cải tạo điểm đen
chưa được chuẩn bị tốt, hệ thống thông tin phản hồi chưa được thiết
lập để có thể đánh giá hiệu quả sau cải tạo.
Bốn là, công tác tổ chức và quản lý giao thông còn nhiều bật
cập như: các giải pháp tổ chức và quản lý giao thông mang tính tình
thế đối phó, thiếu đồng bộ; hệ thống tín hiệu giao thông chưa được
bố trí và sử dụng một cách hợp lý; lực lượng của các cơ quan tổ chức
điều hành và cưỡng chế thi hành pháp luật về TTATGTĐB chưa
được tăng cường đủ mạnh, còn thiếu về số lượng và trang thiết bị kỹ
thuật; chưa có sự quan tâm đúng mức và sự phối hợp chặt chẽ của
các cấp, các Sở, ngành chức năng; công tác quản lý nhu cầu giao
thông cũng còn nhiều hạn chế, thiếu các tính toán khoa học cần thiết
xe và chấp hành luật giao thông; chất lượng giáo trình giảng dạy
chưa đáp ứng yêu cầu về nội dung và chất lượng; chưa tiến hành tập
huấn thường xuyên và đào tạo lại đối với các giáo viên và sát hạch
viên để cập nhật và nâng cao kỹ năng của giáo viên phù hợp với
những công nghệ mới trong lĩnh vực GTĐB.
Sáu là, công tác tuyên truyền đảm bảo TTATGTĐB còn tồn tại
như chưa có sự cân đối, đồng đều trong các thời điểm tuyên truyền,
có thời điểm tuyên truyền rầm rộ, có thời điểm lại thưa thớt; kỹ năng
và chất lượng nghiệp vụ của các hoạt động kiểm tra, tuyên truyền còn
hạn chế; hoạt động kiểm tra tuyên truyền mới chỉ tập trung trách
nhiệm của các cấp trong việc thực hiện công tác bảo đảm
TTATGTĐB, chưa tổ chức được nhiều hoạt động kiểm tra việc tuyên
truyền trên toàn địa bàn tỉnh; việc tổng hợp, đôn đốc thực hiện kết
luận sau kiểm tra công tác tuyên truyền còn hạn chế.
Thứ bảy, năng lực về cưỡng chế thi hành luật của các lực lượng
chức năng đã được tăng cường và củng cố, tuy nhiên vẫn chưa đáp
ứng được sự gia tăng lưu lượng giao thông và vi phạm giao thông; sự
thiếu hụt về phương tiện, trang thiết bị cưỡng chế làm ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả của công tác cưỡng chế; công tác cưỡng chế
thi hành luật còn chưa nghiêm; tình trạng vi phạm TTATGTĐB còn
phổ biến; lực lượng cưỡng chế còn mỏng, trang thiết bị và điều kiện
làm việc còn hạn chế.
14
Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất, các vấn đề về quản lý và thể chế: Cơ quan quản lý
ATGT chưa đủ mạnh, sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức chịu
trách nhiệm về ATGT chưa cao, mặt khác còn trùng lặp chức năng
15
cưỡng chế thi hành, tuy đã được đầu tư nhưng về cơ bản vẫn còn
thiếu so với nhu cầu; Năng lực cưỡng chế của Cảnh sát giao thông và
Thanh tra giao thông còn hạn chế; Cơ sở dữ liệu về TNGT chưa hoàn
chỉnh, hệ thống điều tra tai nạn giao thông và việc quản lý số liệu còn
phức tạp;
Thứ năm, các vấn đề về tuyên truyền, giáo dục: Người tham
gia giao thông còn thiếu kiến thức và nhận thức về quy tắc và quy
định về giao thông; Tình hình TTATGTĐB tại khu vực các trường
học nằm dọc trên các tuyến đường tuy đã được cải thiện nhiều nhưng
vẫn còn nhiều bất cập; Thời lượng giảng dạy về an toàn giao thông từ
cấp mầm non đến đại học còn hạn chế; vấn đề giảng dạy ATGT ở các
vùng nông thôn đã được đưa vào chương trình, tuy nhiên còn thiếu
tài liệu giảng dạy và sách giáo khoa; Chưa có giáo viên chuyên trách
giảng dạy về ATGT tại các trường học và cộng đồng dân cư; Công
tác theo dõi và đánh giá về các chiến dịch và hoạt động ATGT chưa
đạt hiệu quả như mong muốn.
Chương 3
GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT
TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KIÊN GIANG
3.1. Dự báo công tác quản lý Nhà nƣớc về trật tự an toàn
giao thông trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
3.1.1. Dự báo những yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội
* Về kinh tế: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; tăng trưởng kinh tế
duy trì ở mức hợp lý; Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tích
cực; kết cấu hạ tầng tiếp tục được quan tâm đầu tư; hiệu quả đầu tư
công từng bước được cải thiện; doanh nghiệp nhà nước được cổ phần
Hai là, về phương tiện giao thông: Hạ tầng giao thông chỉ có
vậy và phát triển chậm, nhưng các loại phương tiện tham gia giao
thông đang gia tăng nhanh về số lượng và đa dạng về chủng loại (chỉ
riêng đường bộ: xe ô tô, xe vận tải siêu trọng, xe con, mô tô, xe taxi,
xe buýt, xe chở khách du lịch và hiện nay sự tham gia của xe máy
điện, xe đạp điện rất phong phú...), từ năm 2010 đến nay, trung bình
mỗi năm tăng số lượng phương tiện giao thông khoảng 8%.
Ba là, kết cấu hạ tầng giao thông: Tỷ lệ quỹ đất dành cho giao
thông mới đạt 7% - 8% diện tích đô thị (theo quy hoạch các nước tiên
tiến trên thế giới là: 20 - 25%).
Bốn là, tổ chức giao thông: Việc ứng dụng khoa học công nghệ
trong công tác đảm bảo TTATGT còn hạn chế: Chủ yếu vẫn là thủ
công, lấy sức người ra để phục vụ công tác đảm bảo TTATGT, (hiện
17
nay trung bình mỗi CBCS phải đảm nhiệm khoảng 20 km đường giao
thông).
Năm là, hệ thống pháp luật: Luật giao thông đường bộ có
nhiều nội dung chưa rõ, chưa cụ thể trong tổ chức giao thông.
Sáu là, đối với lực lượng CSGT: công tác tuần tra, kiểm soát,
xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông còn nhiều hạn chế, có một số
nơi và một số thời điểm chưa tập trung xử lý quyết liệt hành vi là
nguyên nhân gây tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.
3.2. Các giải pháp cơ bản nhằm tăng cƣờng quản lý nhà
nƣớc về trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ
3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật
QLNN bằng pháp luật là một yêu cầu không thể thiếu trong
việc xây dựng Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đề ra. Nhà nước
pháp quyền là Nhà nước phục tùng pháp luật, có hệ thống pháp luật
quyết định đến chất lượng và hiệu quả của cả quá trình công tác.
KẾT LUẬN
Dưới góc độ nghiên cứu Quản lý hành chính công, luận văn đã
nghiên cứu cơ sở lý luận về QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB trên
địa bàn tỉnh Kiên Giang thông qua việc làm rõ khái niệm QLNN
trong bảo đảm TTATGTĐB là toàn bộ hoạt động có tổ chức, có định
hướng, mang tính quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhằm xác lập cơ sở pháp lý cho quản lý, tổ chức thực hiện và
xử lý vi phạm các quy định về QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB,
thiết lập và duy trì TTATGTĐB, bảo đảm giao thông đường bộ thông
suốt, an toàn và thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, tiến
trình hội nhập khu vực và quốc tế. Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu
phân tích, chỉ ra những đặc điểm, nội dung và vai trò của QLNN
trong bảo đảm TTATGTĐB.
Về cơ bản luận văn đã hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ
nghiên cứu. Tuy nhiên, QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB là một
vấn đề có nội dung rộng lớn và phức tạp. Vì vậy, khó có thể giải
quyết một cách thật đầy đủ và toàn diện vấn đề. Chắc chắn luận văn
không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế cần được chỉnh lý. Tác giả
rất mong nhận được sự bình luận, góp ý của các nhà khoa học và
đồng nghiệp để bổ sung, sửa chữa cho luận văn được hoàn thiện
hơn./.
19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Khắc Ánh (2013), Quản lý nhà nước của chính
quyền cơ sở, Nxb. Chính trị-Hành chính, Hà Nội.
2. Ban an toàn giao thông tỉnh Kiên Giang (2012), Báo cáo
12. Công an tỉnh Kiên Giang (2014), Báo cáo tổng kết công
tác trật tự an toàn giao thông năm 2014.
13. Công an tỉnh Kiên Giang (2015), Báo cáo tổng kết công
tác trật tự an toàn giao thông năm 2015.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Học viện Cảnh sát nhân dân (2003), Giáo trình một số lí
luận cơ bản về hoạt động nghiệp vụ của lực lượng cảnh sát
quản lí hành chính, Hà Nội.
20. Học viện Cảnh sát nhân dân (2007), Giáo trình quản lí
nhà nước về an ninh trật tự, Hà Nội.
21. Học viện Chính trị quốc gia (2005), Giáo trình quản lý
hành chính nhà nước đối với ngành, lĩnh vực (chương trình
chuyên viên chính), Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
22. Học viện Hành Chính (2006), Tài liệu tham khảo quản lí
hành chính nhà nước về văn hoá - xã hội, giáo dục - y tế, an
ninh - quốc phòng, Hà Nội.
23. Học viện hành chính quốc gia(1998), Giáo trình quản lý
hành chính nhà nước, tập II, Nxb. Lao động, Hà Nội.
21