Tổ chức và hoạt động của thanh tra Bộ Tài nguyên và môi trường (tt) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VĂN THỊ HOÀI THANH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – NĂM 2017


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Thanh Thúy

Phản biện 1:……………………………………………………
………………………………………………………………….

Phản biện 2:……………………………………………………
…………………………………………………………………..


thác chỉ có thể trở nên suy thoái, cạn kiệt. Tài nguyên thiên nhiên là hàng hóa kinh tế
đặc biệt vì chúng ta không thể sản xuất ra được. Do đó, tài nguyên thiên nhiên sẽ
mang lại lợi nhuận kinh tế - thuế tài nguyên - nếu quản lý tốt. Các nguồn thu này có
thể là một nguồn tài chính phát triển quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào. Cùng
với tài nguyên thiên nhiên, việc bảo vệ môi trường có ý nghĩa sống còn với sự tồn
vong của nhân loại. Vì vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên - môi trường
góp phần quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia, trong đó hoạt
động thanh tra tài nguyên và môi trường giữ vai trò then chốt.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn trên, việc xây dựng các luận cứ khoa học để
nâng cao hiệu quả trong tổ chức và hoạt động Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi
trường là rất cấp thiết. Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của
Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường ” để thực hiện Luận văn cao học chuyên
ngành Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi
trường đã được tiếp cận ở những góc độ nhất định như: Đề tài khoa học cấp Bộ “Tổ
chức, hoạt động và mối quan hệ giữa Thanh tra bộ và thanh tra chuyên ngành - thực
trạng và giải pháp” do Thanh tra viên cao cấp Nguyễn Khắc Hường làm chủ nhiệm
đề tài năm 2004; Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Huy Hoàng “ Đổi mới tổ
chức và hoạt động của Thanh tra bộ, thanh tra chuyên ngành” (2004); Luận văn thạc
sỹ Luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra Việt
Nam” (2004) của Lê Thị Thu Oanh; Luận án tiến sĩ luật học “Tổ chức và hoạt động
1


của các tổ chức thanh tra ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - thực trang và giải pháp”
(2008) của tác giả Nguyễn Thiện Thuật; Luận văn thạc sỹ Luật học “ Tổ chức và hoạt
động của cơ quan thanh tra chuyên ngành ở Việt Nam hiện nay” (2011) của tác giả
Nguyễn Thị Thục; Đề tài khoa học cấp cơ sở “Hoạt động thanh tra chuyên ngành của
cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành” của Ths. Nguyễn

- Phạm vi về nội dung: Về tổ chức, Luận văn nghiên cứu tổ chức của Thanh tra
Bộ Tài nguyên và Môi trường. Về hoạt động, luận văn tập trung nghiên cứu hoạt
động tiến hành thanh tra của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường (bao gồm thanh
tra hành chính và thanh tra chuyên ngành). Luận văn không đi sâu tìm hiểu các hoạt
động nội bộ của Thanh tra bộ cũng như các hoạt động trong lĩnh vực giải quyết khiếu
nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng và quản lý nhà nước trong các lĩnh vực trên.
2


- Phạm vi thời gian: tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi
trường trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận
duy vật - biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh; đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt nam và chính
sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong công tác
quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên, môi trường cũng như trong đổi mới tổ chức
và hoạt động thanh tra.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể khi thực hiện đề tài là: phương pháp phân tích tổng hợp, phương
pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp,
phương pháp thống kê…
6. Ý nghĩa và dự kiến đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về tổ chức và
hoạt động của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, Luận văn sẽ cung cấp luận cứ
khoa học giúp các nhà quản lý tiến hành nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của
Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường.

3


ngang bộ gồm: “Vụ, Văn phòng, Thanh tra, Cục, Tổng cục, đơn vị sự nghiệp công
lập”. Như vậy, về vị trí pháp lý, trong tổ chức thuộc, Thanh tra Bộ là đơn vị cấu thành
bắt buộc và ngang hàng với Vụ, Văn phòng, Tổng cục, Cục.
- Về chức năng
Theo Khoản 1 Điều 17 Luật Thanh tra 2010: “Thanh tra Bộ là cơ quan của bộ,
giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân thuộc phạm vi quản lý của bộ; tiến hành thanh tra chuyên ngành đối với cơ
quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của bộ;
giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp
luật”. Như vậy, căn cứ vào Luật Thanh tra 2010, Thanh tra bộ tiến hành ba chức
4


năng: Chức năng thanh tra (bao gồm hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra
chuyên ngành) và giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra; chức năng
giải quyết khiếu nại, tố cáo và quản lý nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo; chức
năng phòng, chống tham nhũng và giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về phòng,
chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra bộ
Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ
quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của bộ; thanh tra đối với doanh
nghiệp nhà nước do Bộ trưởng quyết định thành lập; Thanh tra việc chấp hành pháp
luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh
vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành, lĩnh
vực do bộ phụ trách; Thanh tra vụ việc khác do Bộ trưởng giao; Kiểm tra tính chính
xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Thủ trưởng
cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với vụ việc thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của

cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không
thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra.
- Về cơ cấu tổ chức
Cơ cấu của tổ chức chính là hình thức tồn tại của tổ chức, biểu hiện qua việc
sắp xếp các bộ phận cấu thành theo một trật tự nhất định và xác lập mối quan hệ qua
lại giữa chúng với nhau. Việc xác định cơ cấu của tổ chức của mỗi cơ quan chính là
việc thiết lập các bộ phận và liên kết chúng lại với nhau thành một hệ thống.
Theo Khoản 2 Điều 17 Luật Thanh tra 2010: “Thanh tra bộ có Chánh Thanh
tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên.
Chánh Thanh tra bộ do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi
thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ.
Phó Chánh Thanh tra bộ giúp Chánh Thanh tra bộ thực hiện nhiệm vụ theo sự
phân công của Chánh Thanh tra bộ.”
Thanh tra viên là công chức được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện
nhiệm vụ thanh tra.Thanh tra viên được cấp trang phục, thẻ thanh tra. Thanh tra viên
phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp
và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được gaio. Thanh tra viên có các
ngạch như sau: Thanh tra viên, Thanh tra viên chính, Thanh tra viên cao cấp.
Trong hoạt động thanh tra, cơ quan Thanh tra bộ có quyền trưng tập cộng tác
viên thanh tra. Công tác viên thanh tra là người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp
với nhiệm vụ thanh tra. Tiêu chuẩn cụ thể, chế độ, chính sách, trách nhiệm đối với
cộng tác viên thanh tra; việc trưng tập cộng tác viên thanh tra do Chính phủ quy định.
- Về mối quan hệ phối hợp
Mối quan hệ phối hợp bao gồm mối quan hệ bên trong và mối quan hệ bên ngoài.
Mối quan hệ bên trong bao gồm hai đối tượng: Quan hệ giữa tổ chức thanh tra với
thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp (Bộ trưởng) và quan hệ với Thanh tra Bộ và cơ
quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ (Tổng Cục, Cục).
Mối quan hệ bên ngoài mang tính phối hợp trong hoạt động giữa các cơ quan
thanh tra với cơ quan, tổ chức cá nhân khác, bao gồm:
- Quan hệ với cơ quan bảo vệ pháp luật như: cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát,

quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục.
Thứ ba, Thanh tra bộ góp phần thực hiện chủ trương, chính sách đổi mới kinh
tế của Đảng và Nhà nước.
Thứ tư, Thanh tra bộ góp phần củng cố nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp
với quản lý theo lãnh thổ.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động Thanh tra bộ
1.2.1. Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Những quy định về tổ chức và hoạt động của ngành thanh tra phải được đặt
trong khuôn khổ các quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam về tổ
chức và hoạt động bộ máy Nhà nước. Hay nói cách khác, quan điểm, đường lối chính
trị của một đất nước sẽ chi phối đến cách thức vận hành, tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước nói chung cũng như tổ chức và hoạt động của thanh tra nói riêng.
1.2.2. Các nguồn lực của đất nước
Thứ nhất, yếu tố kinh tế
Bất kỳ hoạt động nào của Nhà nước đều phải đặt trong mối quan hệ với các
quan hệ kinh tế; tổ chức và hoạt động Thanh tra bộ cũng chịu sự tác động trực tiếp
bởi trình độ phát triển kinh tế của quốc gia. Sự phát triển, thay đổi đa dạng cũng như
sự phức tạp của nền kinh tế thị trường dẫn đến yêu cầu tất yếu về sự phát triển, vận
động trong tổ chức và hoạt động của ngành thanh tra nói chung và của Thanh tra bộ
nói riêng cho phù hợp.
7


Thứ hai, về nguồn lực con người
Tổ chức và hoạt động của Thanh tra bộ chịu sự tác động trực tiếp bởi yếu tố
con người mà cụ thể là đội ngũ cán bộ, công chức thanh tra – nhân tố hình thành nên
tổ chức và trực tiếp tiến hành các hoạt động thanh tra.
Con người ở đây có thể hiểu là cá nhân, tố chức trong xã hội với tư cách là đối
tượng của thanh tra. Hoặc con người ở đây có thể hiểu chính là những cá nhân làm
việc trong cơ quan quản lý nhà nước và trực tiếp làm trong bộ máy cơ quan thực hiện

trường gồm có 23 đơn vị.
2.1.2. Tình hình tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ Tài nguyên và
Môi trường
2.1.2.1. Tình hình tổ chức của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường
Lần thứ nhất:
Thực hiện Quyết định số 686/QĐ-BTNMT ngày 15 tháng 5 năm 2012 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Thanh tra bộ, cơ cấu tổ chức của Thanh tra bộ gồm:
- Lãnh đạo Thanh tra có: Chánh Thanh tra và 03 Phó Chánh Thanh tra (01 Phó
Chánh Thanh tra phụ trách phía Nam).
- Cơ cấu tổ chức bộ máy có: Văn phòng và 07 phòng chuyên môn trực thuộc.
- Tổng số biên chế có 44 công chức và người lao động.
- Cơ cấu công chức như sau:
+ Cơ cấu ngạch công chức: 01 Thanh tra viên cao cấp, 12 Thanh tra viên
chính, 24 Thanh tra viên, 06 Chuyên viên và 01 Nhân viên.
+ Cơ cấu trình độ chuyên môn: Tiến sỹ: 01; Thạc sĩ: 06; Đại học: 36.
Lần thứ hai:
Thực hiện Quyết định số 1299/QĐ-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2013 của
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra bộ, cơ cấu tổ chức của Thanh tra bộ gồm:
- Lãnh đạo Thanh tra có: Chánh Thanh tra và 03 Phó Chánh Thanh tra (01 Phó
Chánh Thanh tra phụ trách phía Nam).
9


- Cơ cấu tổ chức bộ máy có: Văn phòng và 07 phòng chuyên môn trực thuộc
(giữ như trước khi kiện toàn).
- Tổng số biên chế có 64 công chức và người lao động (tăng 20 biên chế) .
- Cơ cấu công chức như sau:
+ Cơ cấu ngạch công chức: 01 Thanh tra viên cao cấp, 17 Thanh tra viên chính,

Năm 2013
Thanh tra Bộ đã tiến hành 27 cuộc thanh tra, kiểm tra, gồm 10 cuộc kiểm tra
hành chính đối với 11 đơn vị trực thuộc Bộ và 17 cuộc thanh tra chuyên ngành đối với
38 tổ chức (trong đó có 01 cuộc thanh tra chuyên đề diện rộng). Qua thanh tra đã xử
phạt vi phạm hành chính 23 tổ chức với tổng số tiền 519,75 triệu đồng, giảm trừ quyết
toán 59 triệu đồng, kiến nghị thu hồi 391,2 triệu đồng.
10


Năm 2014
Năm 2014,đã tiến hành 02 cuộc thanh tra hành chính và 24 cuộc thanh tra
chuyên ngành.
Năm 2015
Theo chương trình, kế hoạch thanh tra được Bộ phê duyệt, Thanh tra Bộ được
giao thực hiện 22 cuộc thanh tra. Năm 2015, đã thực hiện 20 cuộc thanh tra, gồm 4
cuộc thanh tra hành chính và 16 cuộc thanh tra chuyên ngành; qua thanh tra, đã ban
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 27 tổ chức với tổng số tiền 2 tỷ 630 triệu
đồng, kiến nghị thu hồi 21 triệu đồng
Năm 2016
Thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra được Bộ phê duyệt, Thanh tra
Bộ đã triển khai 15 cuộc thanh tra theo kế hoạch
Qua số liệu thống kê và biểu đồ trên, cho thấy trong 5 năm từ năm 2012 đến
năm 2016, số lượng các cuộc thanh tra của Thanh tra Bộ được tiến hành không
nhiều,năm 2013 gần gấp đôi với năm 2016. Điều đó cho thấy rằng, hoạt động của
Thanh tra Bộ chưa đi vào ổn định, còn ảnh hưởng đến nhiều yếu tố trong đó có yếu tố
về nhân sự. Thời gian các cuộc thanh tra thường kéo dài, không thực hiện đúng tiến
độ nên số cuộc thanh tra phải chuyển sang năm sau để tiếp tục thực hiện chiếm tỷ lệ
khá cao. Vì vậy, việc triển khai các cuộc thanh tra trong các năm tiếp là một công
việc rất khó khăn. Mặt khác, số cuộc thanh tra các năm không quá 30 cuộc, điều đó
cũng phần nào nói lên được hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa chủ động được trong

2.2.2. Hạn chế
- Về tổ chức
Một là, sự phối hợp của các đơn vị có liên quan trong việc xây dựng kế hoạch
thanh tra kiểm tra chưa thật sự chặt chẽ. Công tác xây dựng kế hoạch còn chậm so
với tiến độ yêu cầu.
Hai là, vai trò tham mưu của các Phòng chuyên môn trong việc phối hợp thực
hiện nhiệm vụ giữa Thanh tra bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ trong công tác thanh tra,
kiểm tra nhất là với các đơn vị được giao chức năng thanh tra chuyên ngành chưa có
hiệu quả, chưa thể hiện được vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện
trong công tác thanh tra của Thanh tra bộ. Do đó, chưa tạo được sự thống nhất trong
chỉ đạo nghiệp vụ giữa Thanh tra bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ được giao chức
năng thanh tra chuyên ngành; chưa tạo được hệ thống kết nối thông tin giữa Thanh tra
bộ với Thanh tra chuyên ngành, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường.
Ba là, chưa chủ động nắm thông tin để tham mưu, đề xuất thực hiện công tác
thanh tra, kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; đa số các cuộc thanh tra,
kiểm tra đột xuất đều do sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ hoặc Lãnh đạo Bộ sau
khi các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin hoặc khi đã xảy ra sự cố nghiêm trọng.
Bốn là, các Phòng chuyên môn trực thuộc Thanh tra bộ chưa chủ động trong
việc đề xuất thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt, vẫn còn tình trạng chờ chỉ đạo
của Lãnh đạo Thanh tra bộ. Công tác phối kết hợp giữa các cá nhân trong đơn vị, các
phòng chuyên môn của Thanh tra bộ với nhau và với các đơn vị có liên quan chưa
chặt chẽ, hiệu quả chưa cao.
Năm là, chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra tuy từng bước đã được nâng cao
nhưng chưa đồng đều, nhất là phương pháp, kỹ năng, nghiệp vụ thanh tra còn hạn
chế. Ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ thanh tra chưa
cao nên đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác.
Sáu là, công tác xây dựng đội ngũ công chức Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi
trường từ ngày thành lập đến nay đã có những chuyển biến quan trọng về nhận thức,
quan điểm tư tưởng, được thể hiện trong cơ chế, chính sách, pháp luật từ khâu tuyển
dụng, đào tạo và quản lý đã từng bước đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong điều kiện

ứng yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý nhà nước về thanh tra.
Năm là, công tác kiểm tra việc thực hiện các kết luận thanh tra chưa được chú
trọng dẫn đến việc thực hiện các kết luận thanh tra chưa được triệt để. Qua thanh tra,
kiểm tra đã phát hiện, xử lý nhiều hành vi vi phạm pháp luật, nhưng tỷ lệ thu hồi tiền,
đất qua thanh tra vẫn còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu, hiệu quả chưa cao; việc
phát hiện hành vi tham nhũng qua hoạt động thanh tra, kiểm tra còn hạn chế, chưa
tương xứng với thực trạng vi phạm nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên
khoáng sản.
Sáu là, các Kết luận thanh tra, mặc dù Luật quy định thuộc quyền hạn của
người ra quyết định thanh tra, nhưng trên thực tế vẫn phải chờ xin ý kiến của Bộ
trưởng vì thường liên quan đến trách nhiệm quản lý của các cán bộ chủ chốt. Mặt
khác, việc thi hành chủ yếu phụ thuộc vào thủ trưởng cơ quan quản lý và ý thức chấp
hành của đối tượng thanh tra. Luật thanh tra đã đề cập đến trách nhiệm của đối tượng
thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà
nước trong việc thực hiện yêu cầu, kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.
Tuy nhiên các quy định này chưa được thể hiện đầy đủ, do đó thiếu cơ sở để thực
hiện, thiếu các chế tài, nhất là khi xử lý các hành vi chống đối, cản trở, không thực
hiện yêu cầu, kết luận, kiến nghị của các cơ quan thanh tra.
13


Bảy là, hoạt động thanh tra vẫn còn sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ
giữa Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh với Thanh tra sở, ngành. Trên thực tế, có những
doanh nghiệp của Trung ương đóng trên địa bàn địa phương vừa chịu sự kiểm tra,
thanh tra của Thanh tra bộ vừa chịu sự kiểm tra, thanh tra của Thanh tra sở và Thanh
tra tỉnh. Sự chồng chéo như trên xuất phát từ lý do, nền hành chính của nước ta hiện
nay có xu hướng chia cắt theo chiều ngang. Cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương có đầy đủ các quyền (nhưng cấp độ thấp hơn) gần như các cơ quan trung
ương. Chính vì thế, dường như phạm vi quản lý của Bộ, ngành đối với các địa
phương bị hạn chế và bị chi phối bởi cơ quan hành chính ở địa phương. Các Sở hiện

phù hợp với kinh phí được cấp.
14


Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ
Tài nguyên và Môi trường
Thứ nhất, việc nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của Thanh tra bộ phải
khắc phục được những hạn chế, bất cập hiện nay, hướng tới mục tiêu làm tăng hiệu
quả của công tác thanh tra, nhằm phát huy nhân tố tích cực, kịp thời phát hiện và xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật và các vi phạm khác; phát hiện những sơ hở về cơ
chế quản lý, những hạn chế, thiếu sót, khắc phục, phòng ngừa vi phạm và kịp thời xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên - môi trường; góp phần nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của hoạt động quản lý, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, của Nhà nước và xã hội.
Thứ hai, việc nâng cao hiệu quả và tổ chức hoạt động của Thanh tra Bộ Tài
nguyên và Môi trường phải có lộ trình và bước đi thích hợp trong từng giai đoạn cụ
thể, trên cơ sở phù hợp với tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành thanh
tra nói riêng cũng như đổi mới tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước nói chung.
Thứ ba, quán triệt quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác
thanh tra; tiếp tục thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp và các đạo luật quan trọng về
tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra nói chung, Thanh tra bộ nói riêng; bảo đảm
sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Bộ trưởng đối với công tác thanh tra về lĩnh vực
tài nguyên - môi trường.
Cụ thể như sau:
3.1.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả tổ chức của Thanh tra Bộ Tài nguyên
và Môi trường

trong hoạt động của Thanh tra bộ; bảo đảm Thanh tra bộ có thực quyền, đảm bảm
hoạt động thanh tra dựa trên nguyên tắc khách quan, công bằng, độc lập tương đối và
từng bước được đổi mới phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ
Tài nguyên và Môi trường
3.2.1. Nhóm giải pháp tiếp tục hoàn thiện về tổ chức Thanh tra Bộ
(i). Giải pháp nâng cao nhận thức
Để hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, trước hết Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ
cần nhận thức đúng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra bộ. Trong mối
quan hệ giữa các phương diện hoạt động của cơ quan thanh tra, so với các chức năng
khác như: quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
phòng, chống tham nhũng; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng;
chức năng thanh tra cần phải được tập trung chú trọng đẩy mạnh trong thời gian tới
hơn cả. Bởi lẽ, trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ giữa các cá
nhân, tổ chức trong xã hội phát triển đa dạng và phức tạp vì vậy các bộ, ngành cần
tập trung đẩy mạnh hoạt động thanh tra; xác định thanh tra là một trong những phương
thức quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước của Bộ.
(ii). Giải pháp về nâng cao năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ thanh tra viên.
Để thực hiện giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ thanh
tra viên hỏi phải thực hiện tổng thể những nội dung sau:
Thứ nhất: đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ, thanh
tra viên vững vàng trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra thì một trong những vấn đề
cần phải chú trọng là xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra đáp ứng được
yêu cầu nhiệm vụ. Xét về tính đặc thù của ngành, yêu cầu khách quan đối với đội ngũ
cán bộ, thanh tra viên phải có năng lực phân tích, tổng hợp vấn đề; có khả năng phối
16


đại. Tổ chức các đợt tập huấn kỹ năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành,
chia sẻ kinh nghiệm nghiệp vụ thanh tra. Tổ chức các đoàn khảo sát ngắn hạn tại một
số nước trong khu vực để học tập kinh nghiệm thanh tra.
Cần thiết kế nội dung đào tạo không nên quá nặng về kiến thức lý luận chung
mà cần chú trọng đến kỹ năng, nghiệp vụ thanh tra để phát hiện các hành vi vi phạm,
nhằm kịp thời chấn chỉnh và xử lý các vi phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu công tác
thanh tra trong giai đoạn hiện nay. Qua đó nâng cao toàn diện và đầy đủ về kiến thức
và trí tuệ cho cán bộ thanh tra, có một tư duy nhanh nhạy, sắc bén, biết tổng hợp và
phân tích nhanh các sự kiện và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh trong quá trình
thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo.

17


Cần bố trí cho cán bộ, Thanh tra viên tham gia các lớp đào tạo chương trình
thanh tra cơ bản và nâng cao tại trường Cán bộ thanh tra của Thanh tra Chính phủ
hoặc đề xuất mở các lớp theo chuyên ngành của Bộ.
Thứ ba: để nâng cao năng lực của công chức trong ngành còn có các giải pháp
khác như: Khen thưởng, kỷ luật, nhằm tạo động lực để công chức phấn đấu hoàn
thành nhiệm vụ; kiểm tra thanh tra thường xuyên trình độ, kỹ năng của công chức, xử
lý nghiêm minh những hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, tránh tình trạng gửi
gắm vào làm dù không có trình độ,...Tăng cường kiểm tra giám sát cán bộ thực hiện
nhiệm vụ thanh tra và các đoàn thanh tra, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm
pháp luật của các cán bộ thanh tra trong quá trình thực thi công vụ.
Trong tình hình hiện nay, khi đi vào cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu quốc
tế, trước sự cám dỗ của tiền tài vật chất, nhiều cán bộ đã lơi lỏng tu dưỡng, rèn luyện,
phấn đấu, né tránh tự phê bình và phê bình nên bị chủ nghĩa cá nhân lấn át. Những
năm vừa qua trên thực tế đã có nhiều cán bộ thanh tra không tránh được những cám
dỗ vật chất, đã lợi dụng chức vụ quyền hạn dẫn đến vi phạm pháp luật và phải chịu sự
trừng phạt của pháp luật.

Trong khi đó, xét về mặt hành chính thì Chánh Thanh tra bộ và người đứng
đầu các Tổng cục, Cục thuộc Bộ là ngang cấp; vì vậy nếu không quy định rõ mối
quan hệ lãnh đạo giữa Chánh Thanh tra bộ và người đứng đầu các Tổng cục, Cục
thuộc Bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thanh tra chuyên ngành thì rất
dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ.
Cùng với các Tổng cục, Cục thuộc Bộ; Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng được giao thực hiện chức năng thanh
tra chuyên ngành. Trong khi đó, theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 Luật Thanh tra
2010: “Chánh Thanh tra sở do Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi
thống nhất với Chánh Thanh tra tỉnh”, việc quy định này đã khiến lãnh đạo Thanh tra
hoàn toàn lệ thuộc vào Giám đốc Sở; đồng thời sẽ làm cho hoạt động thanh tra khó có
thể độc lập, khách quan khi đối tượng thanh tra chủ yếu là cán bộ, công chức trong bộ
máy hành chính và chủ thể tham gia chủ yếu là người có chức vụ, quyền hạn trong bộ
máy nhà nước. Mặc dù về mặt tổ chức, Thanh tra sở là một phòng ban của Sở, tuy
nhiên để đảm bảo nguyên tắc của hoạt động thanh tra tuân theo pháp luật (tương tự
như tính độc lập trong xét xử của tòa án) thì cần có những quy định đặc thù về mặt tổ
chức thanh tra chuyên ngành. Hơn nữa, Thanh tra sở chịu sự chỉ đạo, điều hành trực
tiếp của Giám đốc sở; Thanh tra bộ chỉ có nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn nghiệp vụ
thanh tra chuyên ngành đối với Thanh tra Sở. Do đó, cần phải sửa đổi theo hướng
tăng cường vai trò của Chánh Thanh tra bộ trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chánh
Thanh tra Sở trước khi Giám đốc sở quyết định. Theo đó, điều luật trên nên điều
chỉnh “Chánh Thanh tra Sở do Giám đốc Sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và
phải có sự đồng ý của Chánh Thanh tra bộ và Chánh Thanh tra tỉnh”; đồng thời phải
quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm phối hợp giữa Chánh Thanh tra bộ với Giám
đốc Sở Tài nguyên và Môi trường trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thanh
tra chuyên ngành, đảm bảo hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực tài
nguyên - môi trường được đồng bộ, toàn diện, thông suất, kịp thời, hiệu quả.
Tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị thuộc trực thuộc Bộ để thực hiện kế
hoạch thanh tra, kiểm tra đã được phê duyệt, chủ động bố trí nhân sự và tạo mối liên
hệ chặt chẽ với các đơn vị trong và ngoài Bộ để chuẩn bị kế hoạch chi tiết cho các

thanh tra là người hiểu rõ nội dung vụ việc và thấy cần kết luận như thế nào trên cơ
sở quy định của pháp luật. Luật Thanh tra quy định trách nhiệm ban hành kết luận
thanh tra do người ban hành quyết định thanh tra, thiết nghĩ là chưa hợp lý vì đây
không phải là người trực tiếp tiến hành cuộc thanh tra. Mặt khác, trong một số trường
hợp có thể Trưởng đoàn thanh tra lại không nhất trí với kết luận của người ra quyết định
thanh tra. Vì thế, cần quy định Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm kết luận thanh tra
để đảm bảo tính kịp thời và tính tự chịu trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra.
Thứ hai, giải pháp hoàn thiện chính sách.
Trên thực tế cho thấy công tác thanh tra và xử lý doanh nghiệp vi phạm trong
lĩnh vực tài nguyên - môi trường còn nhiều bất cập, có dấu hiệu tiêu cực giữa thành
viên cơ quan thanh tra, kiểm tra và doanh nghiệp (bao che, bảo kê, hành vị "mặc cả ",
"thống nhất " số lượng, mức phạt ...) đối với các vi phạm khi bị phát hiện nhằm thu
lợi bất chính. Hành vi đó đã làm cho đối tượng thanh tra nhờn luật và làm giảm hiệu
lực, hiệu quả của công tác thanh tra.
Vì vậy, cùng với việc tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, triển khai đồng
bộ các biện pháp quản lý chặt chẽ cán bộ thanh tra và hoạt động thanh tra thì việc tiếp
tục hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành thanh tra
nói chung, thanh tra chuyên ngành tài nguyên - môi trường nói riêng là rất cấp thiết,
vừa góp phần khắc phục lối sống thực dụng, vừa động viên sự nhiệt tình hăng hái,
củng cố sự đoàn kết thống nhất, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả công tác của cán bộ
thanh tra.
Chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức bao gồm cả đãi ngộ về vật chất và
khuyến khích về tinh thần. Trong chính sách đãi ngộ, chính sách khuyến khích bằng
20


lợi ích vật chất là cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất, như: tiền lương, thưởng; phụ
cấp, khu vực, làm thêm giờ, trợ cấp khó khăn …. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp,
lợi ích vật chất và tinh thần phải đan xen với nhau, trong phần thưởng về vật chất có
phần thưởng về tinh thần, ngay cả mức lương cũng chứa đựng sự đánh giá của xã hội

Tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu phục vụ cho các
Đoàn thanh tra triển khai các cuộc thanh tra theo đúng kế hoạch, đảm bảo tiến độ và
chất lượng; đồng thời quan tâm đầu tư cho công tác tham mưu, tổng hợp, nghiên cứu,
đào tạo, bối dưỡng về công tác thanh tra nói chung, thanh tra chuyên ngành lĩnh vực
tài nguyên - môi trường nói riêng.

21


Thứ tư, giải pháp về chuyên môn, nghiệp vụ thanh tra.
Với địa bàn rộng, đối tượng quản lý nhiều, lĩnh vực phức tạp, liên quan trực
tiếp đến đời sống nhân dân vì thế Thanh tra Bộ Tài nguyên và môi trường cầntiến
hành thanh tra cần có trọng tâm, trọng điểm, nhanh gọn, chính xác, tập trung vào
những vấn đề nổi cộm, bức xúc được dư luận xã hội quan tâm để vừa góp phần làm
ổn định tình hình, vừa kịp thời xử lý những sai phạm. Để đảm bảo chất lượng, hiệu
quả cuộc thanh tra, khi tiến hành thanh tra phải đúng với các quy định của pháp luật;
quy chế, quy định của ngành; thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, tránh tràn lan, giải
quyết dứt điểm từng vụ việc; kết luận thanh tra đảm bảo khách quan, trung thực, làm rõ
những ưu điểm, hạn chế, vi phạm; tháo gỡ những khó khăn; xử lý, giải quyết hiệu quả
các vụ việc, công khai kết quả xử lý vi phạm. Đặc biệt là phải nắm chắc tình hình, kịp
thời tổ chức thanh tra ngay từ khi có dấu hiệu vi phạm. Trên thực tế, trong thời gian
qua, nhiều vụ việc vi phạm chỉ được phát hiện qua kênh báo chí, thậm chí chỉ phát hiện
ra khi vụ việc đã gây hậu quả nghiêm trọng ( vụ Formusa) dẫn đến việc khắc phục phải
kéo dài, tốn nhiều tiền của, công sức của các cấp, các ngành và ảnh hưởng lớn đến
niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Nên quy định tăng thêm thời gian xây dựng báo cáo kết quả thanh tra và thời
gian kết luận thanh tra. Thực tế cho thấy nhiều cuộc thanh tra chuyên ngành vừa
qua đều vi phạm quy định về thời gian xây dựng báo cáo kết quả thanh tra và thời
gian kết luận thanh tra. Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động thanh tra chuyên
ngành về tài nguyên - môi trường mang tính phức tạp cao và rất nhạy cảm, việc

hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai cho từng giai đoạn. Nâng
cao năng lực dự báo, cảnh báo và ứng phó với thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu.
Nâng cao năng lực quan trắc, cảnh báo, phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường và các
sự cố về môi trường.
Thứ tư: Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân; phát huy
vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường; có cơ chế
khuyến khích các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Tăng
cường phổ biến, giáo dục pháp luật về thanh tra nói chung và thanh tra tài nguyên và
môi trường nói riêng. Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những giải pháp quan
trọng giúp cho các đối tượng có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành
vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế,
phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người. Phổ biến, giáo dục pháp luật đồng
thời tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong môi trường quản lý nhà nước
bằng pháp luật, hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý
nhà nước, quản lý xã hội; tạo ra khả năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng tiêu
cực, chống đối pháp luật diễn ra trong quá trình quản lý.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status