BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHÙNG HUY THỌ
BÁN ĐẤU GIÁ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
(TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHÙNG HUY THỌ
BÁN ĐẤU GIÁ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
(TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
: Nhà xuất bản
QPPL
: Quy phạm pháp luật
THADS
: Thi hành án dân sự
THPL
: Thực hiện pháp luật
UBND
: Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BÁN ĐẤU GIÁ TÀI
SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ........................................................ 9
1.1. Khái quát chung về thi hành án dân sự và bán đấu giá tài sản .................. 9
1.2. Cơ sở lý luận về chính sách công ............................................................. 18
1.3. Chính sách bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự ......................... 21
Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng
trong quá trình xử lý tài sản của ngƣời phải thi hành án khi bị cƣỡng chế thi
hành án để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho Nhà nƣớc, tổ chức, cá nhân
và để Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành trên thực tế.
Với vai trò quan trọng của Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự,
Đảng và Nhà nƣớc đã rất quan tâm và ngày càng hoàn thiện hệ thống chính
sách và hệ thống pháp luật về Bán đấu giá tài sản, đặc biệt là bán đấu giá tài
sản trong thi hành án dân sự. Kể từ pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989,
đã có rất nhiều văn bản đƣợc ban hành, trong đó một số văn bản quan trọng
nhƣ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi bổ sung Luật Thi hành
án dân sự năm 2014; đặc biệt là sự ra đời của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP
ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về BĐGTS (Sau đây gọi là Nghị
định số 17/2010/NĐ-CP), ra đời trên cơ sở kế thừa Nghị định số 05/2005/NĐCP ngày 18/01/2005 đã góp phần đƣa công tác BĐGTS trong cả nƣớc nói
chung và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng cơ bản đi vào nền nếp. Việc
triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, Luật Thi hành án dân sự
và các văn bản hƣớng dẫn nhìn chung nhận đƣợc sự quan tâm, ủng hộ của các
cấp, các ngành; trình tự, thủ tục BĐGTS bảo đảm chặt chẽ và khách quan
hơn, tính chuyên nghiệp của hoạt động bán đấu giá từng bƣớc đƣợc nâng lên,
chủ trƣơng xã hội hóa tiếp tục đƣợc đẩy mạnh, đạt đƣợc kết quả nhất định và
vai trò quản lý của Nhà nƣớc đối với hoạt động BĐGTS tiếp tục đƣợc tăng
1
cƣờng. Cùng với Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, một số văn bản luật có liên
quan nhƣ: Luật các tổ chức tín dụng 2010, Luật Đất đai năm 2013, Luật xử lý
vi phạm hành chính 2012 ... đƣợc ban hành trong những năm gần đây đã chứa
đựng nhiều tƣ duy pháp lý mới đáp ứng yêu cầu Nghị quyết số 08 - NQ/TW
ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tƣ pháp trong thời gian tới (Sau đây gọi là Nghị quyết số 08 NQ/TW), Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
tại tỉnh Vĩnh Phúc chƣa có một đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có
hệ thống về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.
Xuất phát từ những lý do trên với mục đích nghiên cứu làm sáng tỏ
thực trạng bán đấu giá tài sản trong THADS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; tác
giả chọn nghiên cứu đề tài “Bán đấu giá tài sản trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kết
quả thực hiện bán đấu giá trong THADS trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, trƣớc yêu cầu đổi mới đất nƣớc, cải cách
hành chính và cải cách tƣ pháp đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
pháp lý đề cập đến vấn đề bán đấu giá tài sản và Chính sách công dƣới
nhiều góc độ khác nhau đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức nhƣ: sách chuyên
khảo, giáo trình, bài báo, bài đăng tạp chí, đề tài khoa học,...Có thể khái quát
một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhƣ:
2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về bán đấu giá tài sản
- Tập bài giảng đào tạo nghề đấu giá của Lê Thu Hà [14]
- Tài liệu hội nghị trực tuyến sơ kết 04 năm thi hành Nghị định số
17/2010/NĐ-CP ngày 4/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản của Bộ
Tƣ pháp [6]
- Hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản ở Việt Nam của Nguyễn
Việt Hùng [17]
3
- Một số vấn đề về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động bán đấu giá tài
sản ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Thanh Nga [19]
- Bán đấu giá tài sản – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Đặng Thị
Tâm [24]
- Kinh nghiệm bán đấu giá tài sản qua thực tiễn ở Vĩnh Phúc của
Nguyễn Việt Hùng [16]
Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến Bán đấu giá tài sản
phần nào đã nghiên cứu đƣợc một số cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn trong
lĩnh vực BĐGTS, nhƣ lý luận về BĐGTS; hoàn thiện pháp luật về pháp luật
BĐGTS; quản lý nhà nƣớc về BĐGTS; những khó khăn, vƣớng mắc trong
hoạt động BĐGTS... Những công trình nghiên cứu khoa học trên đã giúp cho
tác giả có đƣợc cách tiếp cận để tiếp tục kế thừa nghiên cứu, bổ sung thêm về
cơ sở lý luận và thực tiễn để tác giả nghiên cứu và hoàn thiện đề tài khoa học
của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Nhằm làm rõ những vấn đề trong quá trình thực thi công tác bán đấu
giá tài sản trong THADS từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, qua đó tìm ra ƣu điểm
và những khó khăn tồn tại trong quá trình bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh
để đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác bán
đấu giá trong THADS những năm tiếp theo.
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích các vấn đề về lý luận cơ bản của bán đấu giá tài sản trong
THADS.
- Phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về bán
đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.
- Khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam về bán đấu giá tài sản
trong THADS từ thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phát hiện những vƣớng mắc, bất cập của các quy định pháp luật Việt
Nam hiện hành trong quá trình thực hiện bán đấu giá tài sản trong THADS và
thực tiễn của tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện, từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục
5
nhằm nâng cao hiệu quả của bán đấu giá tài sản trong THADS trong những
chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp bán đấu giá tài sản trong THADS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Thứ hai,phương pháp thống kê:
Dựa trên các thông tin, số liệu mà luận văn có thể thu thập đƣợc từ các
nguồn thông tin đáng tin cậy, phƣơng pháp thống kê đƣợc tác giả sử dụng để
phân tích thực trạng thực hiện bán đấu giá tài sản trong THADS trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc.
Thứ ba, phương pháp so sánh:
Phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng để đối chiếu, so sánh hiện trạng
trƣớc và sau khi thực hiện bán đấu giá tài sản trong THADS trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Bên cạnh đó phƣơng pháp
này giúp phát hiện những đặc trƣng cơ bản trong quá trình triển khai thực
hiện chƣơng trình, làm cơ sở đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
hiệu quả của bán đấu giá tài sản trong THADS từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc..
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa lý luận về thực hiện Bán đấu giá trong THADS
Trong đó, luận văn tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ khi thực hiện
Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đến nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó,
góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về Bán đấu giá trong THADS trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung căn cứ khoa học
cho tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình tổ chức thực hiện Bán đấu giá tài sản trong
những năm tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tƣ liệu góp phần hoàn
thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về bán đấu giá tài sản trong THADS và là
nguồn tham khảo cho các tổ chức BĐGTS chuyên nghiệp và các cơ quan, tổ
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014. Vậy nên
họat động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng có
ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tòan bộ quá trình giải quyết vụ án bởi vì
bản án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi bản án án đó đƣợc thi hành trên thực
tiễn, khi đó quyền và lợi ích hợp phảp của các đƣơng sự vì thế cũng đƣợc bảo
vệ một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của
xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhƣ vậy, có thể đƣa ra khái niệm về thi
hành án dân sự nhƣ sau: Thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản
án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
9
1.1.1.2. Khái niệm bán đấu giá tài sản
Hiện nay bán đấu giá tài sản là một dịch vụ ngày càng có vị trí, vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây là một trong những phƣơng
thức minh bạch để chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể
khác góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao
đổi tài sản nói riêng phát triển một cách đa dạng. Trong những năm qua, hoạt
động BĐGTS ở nƣớc ta đã từng bƣớc phát triển, hỗ trợ đắc lực cho công tác
thi hành pháp luật, cụ thể nhƣ: thi hành án dân sự, xử lý tài sản bảo đảm thu
hồi nợ vay cho các tổ chức tín dụng, xử lý vi phạm hành chính, nhà nƣớc
giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất qua hình thức đấu giá...
Công tác xã hội hóa hoạt động BĐGTS đã và đang thực hiện theo lộ trình
trong việc triển khai Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến 2020.
Trên thực tế, hoạt động bán đấu giá tài sản đã xuất hiện từ rất lâu đời
trên thế giới. Bán đấu giá tài sản đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng thức mua bán
công khai, phổ biến và rộng khắp trên thế giới. Có nhiều mục đích đƣợc đặt ra
Theo quan niện truyền thống thì BĐGTS là việc bán tài sản hoặc tài sản
công khai có nhiều ngƣời cùng muốn mua tài sản, cho nên mỗi ngƣời trả một
giá theo nhu cầu, điều kiện kinh tế của mình, ngƣời trả giá cao nhất phù hợp
với nhu cầu của ngƣời bán tài sản sẽ là ngƣời mua đƣợc tài sản.
Theo từ điển Luật học có nêu: “BĐGTS là hình thức bán công khai một
tài sản, một khối tài sản; theo đó có nhiều ngƣời muốn mua tham gia trả giá,
ngƣời trả giá cao nhất nhƣng không thấp hơn giá khởi điểm là ngƣời mua
đƣợc tài sản [30, tr.31].
Theo quy định tại khoản 1, điều 2, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày
04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về BĐGTS, thì:
“Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai, có từ hai ngƣời
trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và thủ tục đƣợc quy định tại Nghị
định này. Phƣơng thức trả giá lên là phƣơng thức trả giá từ thấp lên cao cho
đến khi có ngƣời trả giá cao nhất” [9, tr.2].
Đồng thời tại Khoản 2, Điều 1, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP cũng xác
11
định các loại tài sản đƣợc bán qua hình thức đấu giá bao gồm:
+ Tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án;
+ Tài sản là tang vật, phƣơng tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung
quỹ nhà nƣớc theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
+ Tài sản bảo đảm trong trƣờng hợp pháp luật về giao dịch bảo đảm
quy định phải xử lý bằng bán đấu giá;
+ Tài sản nhà nƣớc đƣợc xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của
pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nƣớc; tài sản là quyền sử dụng đất
trong trƣờng hợp :Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất
đƣợc bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền;
+ Các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
+ Trong trƣờng hợp cá nhân, tổ chức lựa chọn tổ chức bán đấu giá
lợi của đƣơng sự. Việc tách rời giai đoạn thi hành án ra khỏi tiến trình tố tụng
sẽ làm mất ý nghĩa của giai đoạn xét xử - giai đoạn có ý nghĩa quyết định
trong quá trình tố tụng cũng nhƣ toàn bộ các hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng khác. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, thi hành án dân sự không chỉ là
tổng hợp các hành vi thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo quy
định của pháp luật về thi hành án mà bao gồn cả những hành vi nhằm thi
hành bản án, quyết định theo quy định của các văn bản pháp luật khác. Nhƣ
vậy việc chuyển giao công tác thi hành án từ cơ quan xét xử sang cơ quan
hành chính không có nghĩa là thủ tục thi hành án dân sự là thủ tục hành chính.
Thủ tục tố tụng dân sự cũng nhƣ thủ tục tố tụng hình sự không thể hiểu chỉ có
Tòa án tiến hành mà do nhiều cơ quan, tổ chức tiến hành. Nội dung chủ yếu
của thi hành án dân sự mang tính tài sản, dựa trên bản án, quyết định của tòa
án, nó gắn liền với việc giải quyết vụ án. Chính vì vậy thi hành án dân sự
không thể coi thuần túy là một thủ tục hành chính đơn thuần, do đó giai đoạn
thi hành án dân sự vẫn đƣợc nghiên cứu nhƣ một bộ phận của pháp luật tố
tụng dân sự.
Tuy nhiên, nếu xét một số tiên chí dƣới đây thì thi hành án dân sự khó
hội tụ những đặc trung của một giai đoạn tố tụng độc lập.
13
Thứ nhất, hiện nay phạm vi áp dụng theo trình tự thi hành án dân sự rất
rộng. Nhiều quan hệ pháp luật trƣớc đó đã đƣợc giải quyết theo nhiều trình tự
tố tụng khác nhau (lao động, kinh tế, hành chính, hình sự, tƣ pháp quốc tế,
trọng tài...) và do nhiều cấp xét xử khác nhau. Tuy nhiên, kết quả của quá
trình xét xử đó, tức là các phán quyết của Tòa án đều đƣợc đƣa ra tổ chức thi
hành theo trình tự thi hành án dân sự, nếu coi thi hành án dân sự là một giai
đoạn tố tụng thì nó thuộc một tiến trình tố tụng cụ thể nào: thuộc dân sự,
kinh tế, hành chính, lao động... hay đây là một ngành luật mang tính “tố tụng
bƣớc đột phá phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc
trong xu thế hội nhập quốc tế và tiến trình cải cách tƣ pháp cải cách hành
chính nhƣ hiện nay.
- Xét ở góc độ đối tƣợng đặc trƣng của thi hành án dân sự là các nghĩa
vụ về tài sản: Hiện tại, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đƣợc áp dụng để
thi hành cả những bản án, quyết định về kinh tế, lao động, hành chính, một số
hình phạt và biện pháp tƣ pháp trong bản án, quyết định hình sự, quyết định
của trọng tài...Mặc dù hoàn toàn khác về tính chất của quan hệ pháp luật,
trình tự tố tụng nhƣng nghĩa vụ thi hành án trong tất cả các bản án, quyết
định trên có tính chất tƣơng đồng đó là nghĩa vụ tài sản hoặc các công việc
phải thực hiện. Đây là cơ sở để xác định tính chất “dân sự” nhằm phân biệt
với thi hành án hình sự. Tuy nhiên, thuật ngữ “dân sự” không thể hiện đủ nội
hàm của khái niệm loại hình thi hành án có tính chất tổng hợp này, mặc dù
vậy cho đến nay các luật gia vẫn chƣa đƣa ra đƣợc một khái niệm khác.
1.1.2.2. Đặc điểm bán đấu giá tài sản
- Chủ thể bán đấu giá tài sản chuyên nhiệp là doanh nghiệp có chức
năng bán đấu giá tài sản hoặc trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.
Hoạt động bán đấu giá tài sản hình thành trên cơ sở đề xuất của chủ sở
hữu và chủ sở hữu ủy quyền hoặc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền yêu cầu tổ
chức có chức năng bán đấu giá tài sản. Nhƣ vậy, tổ chức bán đấu giá tài sản
không phải là chủ sở hữu của tài sản. Pháp luật quy định những điều kiện cần
thiết để bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu bằng cách cho họ tham gia định
15
giá khởi điểm của tài sản nhƣng không trực tiếp đứng ra bán tài sản, ngƣời
mua phải trả bằng hoặc cao hơn giá khởi điểm thì tài sản mới đƣợc bán.
Theo quy định của Luật Thƣơng mại và pháp luật dân sự thì chủ thể
trong bán đấu giá hàng hoá và đấu giá tài sản đều bao gồm có ngƣời bán tài
- Về nội dung bán đấu giá tài sản
Bán đấu giá tài sản theo phƣơng thức trả giá cao nhất. Đây là hình thức
mà tại cuộc bán đấu giá, nhân viên điều hành bán đấu giá nêu lên giá khởi
điểm thấp nhất của tài sản bán đấu giá. Sau đó những ngƣời mua sẽ trả giá
nâng dần lên theo từng mức mặc cả nhất định. Ngƣời trả giá cao nhất theo sự
kết luận của nhân viên điều hành đấu giá sẽ đƣợc quyền mua tài sản đó. Hình
thức này đƣợc áp dụng phổ biến nhất trong các cuộc đấu giá vì nó có lợi cho
cả bên mua và bên bán. Bên mua đƣợc chủ động đề xƣớng giá đặt mua nên
quan hệ mua bán mang tính tự nguyện rất cao. Còn bên bán thƣờng đƣợc lợi
về giá cả vì luôn có sự trả giá cao hơn giá khởi điểm mà mình đƣa ra.
Đấu giá tài sản về cơ bản khác biệt so với đấu giá hàng hóa ở chỗ, nếu
nhƣ ở bán đấu giá tài sản chỉ thừa nhận phƣơng thức trả giá lên thì bán, đấu
giá hàng hóa đƣợc thực hiện theo hai phƣơng thức là phƣơng thức trả giá lên
và phƣơng thức trả giá xuống. Đấu giá theo phƣơng thức đặt giá xuống là
hình thức mà tại cuộc bán đấu giá, nhân viên điều hành đấu giá nêu lên mức
giá khởi điểm cao nhất, rồi sau đó hạ dần từng nấc một để ngƣời mua đặt giá.
Nếu không có ngƣời mua nào đặt giá thì lại hạ tiếp xuống mức thấp hơn. Cứ
nhƣ thế cho đến khi có ngƣời chấp nhận mua ở một mức giá nào đó thì hàng
hoá đƣợc bán cho ngƣời đó. Hình thức này chỉ áp dụng đối với một số loại
hàng hoá và thực sự nó không hấp dẫn với cả ngƣời mua lẫn ngƣời bán hàng.
- Về phương thức đề nghị giao kết hợp đồng được thể hiện bằng miệng
(lời nói) hoặc bằng hành vi
Bắt đầu phiên đấu giá, nhân viên điều hành đấu giá dùng lời nói của
mình để đƣa ra giá khởi điểm. Những ngƣời mua sẽ đặt giá cũng bằng lời nói
hoặc bằng việc làm dấu hiệu để ngƣời điều hành đấu giá biết. Phƣơng thức đề
nghị giao kết hợp đồng trong đấu giá dùng lời nói có ƣu điểm là sự trả giá của
mọi ngƣời mua đều công khai, ngƣời trả giá cao nhất đƣợc xác định ngay mà
17
18
Thứ nhất là nhóm định nghĩa chính sách công với tƣ cách nhƣ là sản
phẩm có mục đích của nhà nƣớc.
Thứ hai là nhóm định nghĩa chính sách công với tƣ cách là một tập hợp
các bƣớc giải quyết các vấn đề công cộng.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải trong “Giáo trình Hoạch định và phân
tích chính sách công" thì, “Chính sách công là những hành động ứng xử của
Nhà nƣớc với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, đƣợc thể hiện
bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [32, tr.14].
Có nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể hiểu chính sách công là
chƣơng trình hành động của nhà nƣớc nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể. hay
chính sách công chính là tập hợp các văn bản, đƣợc quyết định bởi chủ thể
nắm quyền lực nhà nƣớc, nhằm định hƣớng theo mục đích nhất định, để giải
quyết những vấn đề mà xã hội quan tâm.
1.2.2. Tổ chức thực thi trong chu trình chính sách
1.2.2.1.Chu trình Chính sách
Chu trình chính sách theo mô hình của các nƣớc trên thế giới gồm 5
giai đoạn:
Giai đoạn 1: thiết lập chƣơng trình nghị sự là quá trình mà các vấn đề
công đƣợc trở thành sự quan tâm của Nhà nƣớc và đƣa vào chƣơng trình nghị
sự.
Giai đoạn 2: Xây dựng dự thảo chính sách là quá trình ngƣời soạn thảo
sử dụng các phƣơng pháp, cách thức để biểu đạt nội dung của chính sách,
trƣớc khi chính sách đó đƣợc trình lên cơ quan có thẩm quyền để chờ thông
qua.
Giai đoạn 3: Quyết định chính sách là quá trình cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền thảo luận, tiến tới thống nhất về các nội dung trong dự thảo chính
sách và biểu quyết để thông qua dự thảo chính sách, ký ban hành chính sách.
Bƣớc 1 là xây dựng kế hoạch triển khai thực thi chính sách,
Bƣớc2 là tuyên truyền, phổ biến chính sách.
Bƣớc 3 là phân công phối hợp thực hiện chính sách.
Bƣớc 4 là theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
20