BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
………/.……………
BỘ NỘI VỤ
…../ ….
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ MINH
PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP – LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HIẾN PHÁP
- LUẬT HÀNH CHÍNH
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA - PHÂN VIỆN
KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS. NGUYỄN BÁ CHIẾN
Phản biện 1: Tiến sỹ Nguyễn Minh Sản
Phản biện 2: Tiến sỹ Đỗ Văn Dương
luật trong đó có Luật an toàn thực phẩm; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sửa đổi, bổ sung một số điều về vi phạm VSATTP
trong Bộ luật hình sự … cùng hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm được hình thành từ trung ương đến cơ sở. Song nhiều hành vi sản xuất, kinh
doanh vi phạm về ATTP vẫn xảy ra, thậm chí ngày càng gia tăng, trong đó có địa bàn
thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Thực trạng trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện cả về
cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật về ATTP dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính nhằm đánh giá những ưu điểm, những hạn chế, vướng mắc, đồng thời
đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về ATTP là rất cần thiết và khách quan, đáp
ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. Vì
vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về An toàn thực phẩm - Từ thực tiễn
Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” để làm Luận văn tốt nghiệp lớp Cao học
Luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Đã có một số nghiên cứu quy mô trong thời gian gần đây như: “Tội vi phạm
quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong Luật hình sự Việt Nam - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Trí Ngọc, năm 2009, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; “Pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm
trong hoạt động thương mại ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Đặng Công
Hiển năm 2010, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; “Thi hành pháp luật về vệ
sinh an toàn thực phẩm ở cấp Phường trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc
sỹ của tác giả Trần Mai Vân năm 2013, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội…
3
Nhìn chung, những công trình trên đã tập trung nghiên cứu một số quy định
của pháp luật về ATTP, việc tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP, phân tích, làm rõ
những hạn chế, bất cập trong thực thi pháp luật về ATTP. Tuy nhiên chưa có công
trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm
từ thực tiễn Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
4
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
CỦA PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm an toàn thực phẩm
Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua
sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các
chất sử dụng như dược phẩm. Mỗi loại thực phẩm đều có quy định riêng về ngưỡng
an toàn và khi thực phẩm chứa những yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe con người thì
thực phẩm đó không còn an toàn. ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại
đến sức khỏe, tính mạng con người. Đảm bảo an toàn thực phẩm là toàn bộ những
vấn đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm
bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng.
1.1.2. Khái niệm pháp luật về an toàn thực phẩm
Pháp luật về an toàn thực phẩm là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Pháp luật an toàn thực phẩm là toàn bộ
các văn bản luật và dưới luật, các thông tư, nghị định có liên quan điều chỉnh những
vấn đề xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
1.1.3. Khái niệm thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm
Thực hiện pháp luật là hành vi xử sự của con người được tiến hành phù hợp
với yêu cầu của các quy phạm pháp luật. Thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm là
việc các chủ thể pháp luật về an toàn thực phẩm phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý của
Hệ thống các văn bản trên đã tạo hành lang pháp lý giúp cho việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật về ATTP, điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực ATTP, kiểm
soát chất lượng thực phẩm, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về ATTP và hội nhập
quốc tế.
1.2.2. Thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm
Sau khi Luật an toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành, ngoài việc ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn việc triển khai tổ chức thực hiện thì Chính
phủ, các bộ ngành có liên quan cũng tiến hành đồng loạt các hoạt động triển khai thực
hiện pháp luật về an toàn thực phẩm, cụ thể:
* Thành lập các cơ quan chuyên môn, giúp việc, hệ thống kiểm nghiệm ATTP:
Hệ thống tổ chức này giúp cho việc thực thi quản lý nhà nước theo chuỗi và giúp
kiểm soát an toàn thực phẩm tại nơi phát sinh ra mối nguy.
+ Ở cấp Trung ương:
Tại Bộ Y tế, Cục An toàn thực phẩm được thành lập để giúp Bộ Y tế thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về ATTP.
Tại Bộ Công thương, công tác quản lý ATTP giao cho Vụ Khoa học và Công
nghệ làm đầu mối, ngoài ra còn có Cục Quản lý Thị trường.
Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do tính chất đa ngành, thành lập
Cục Trồng trọt, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Quản lý chất lượng nông lâm, thủy sản,
Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối là các đơn vị được giao chức năng,
nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm nông nghiệp. Tại các đơn vị này đều có bộ phận chức năng (phòng, trung tâm)
thực hiện quản lý về an toàn thực phẩm theo chuỗi sản phẩm rau, củ, quả và chè. Cục
Trồng trọt có 02 Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và Trung
tâm Khảo kiểm nghiệm phân bón; Cục Bảo vệ thực vật có Phòng quản lý an toàn
6
thực phẩm và Môi trường, 09 Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng với hơn 80 trạm
Kiểm dịch thực vật tại các cửa khẩu thực hiện công tác kiểm dịch thực vật và kiểm
42/63 tỉnh/thành phố có phòng kiểm nghiệm được công nhận phù hợp ISO/IEC
17025.
* Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an toàn thực phẩm
Hoạt động tuyên truyền, giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn
được Bộ Y tế quan tâm và đẩy mạnh, đặc biệt tập trung vào dịp Tết Nguyên đán,
Tháng hành động vì ATTP và Tết Trung thu. Công tác tuyên truyền đã giúp nâng cao
nhận thức, thực hành về ATTP của các nhóm đối tượng. Những thông tin về điều
7
kiện của cơ sở sản xuất thực phẩm không đảm bảo an toàn, những sản phẩm thực
phẩm không an toàn hoặc những hành động gian dối, kiếm lợi bất chính mà hệ lụy là
thực phẩm không an toàn được đưa tin hàng ngày với mức độ ngày càng gia tăng.
Công tác tuyên truyền đã giúp nâng cao nhận thức, thực hành về ATTP của các nhóm
đối tượng. Theo kết quả điều tra kiến thức hàng năm với cùng 1 đối tượng, năm 2015
so với năm 2012, kiến thức của người sản xuất tăng từ 76% lên 81,9%, kiến thức của
người kinh doanh tăng từ 73% lên 84,6%; kiến thức của người tiêu dùng tăng từ
65,8% lên 82,5%. Đặc biệt với khuyến cáo “hãy là người tiêu dùng thông thái” đã tác
động đến ý thức, trách nhiệm của người dân trong lựa chọn và đấu tranh với thực
phẩm không an toàn.
* Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc triển khai thực hiện các quy định của pháp
luật về an toàn thực phẩm
Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, giúp ngăn chặn, xử lý nhiều vụ
vi phạm về ATTP góp phần làm cho thị trường thực phẩm an toàn hơn. Công tác
thanh, kiểm tra về ATTP hàng năm được thực hiện theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo
liên ngành Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện về ATTP, trong đó tập trung nhiều vào
dịp Tết Nguyên đán, Tháng hành động vì ATTP và Tết Trung thu. Trong giai đoạn
2011-2016, cả nước đã thành lập được 153.493 đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành
tiến hành kiểm tra tại 3.350.035 cơ sở, phát hiện 678.755 cơ sở vi phạm.
Việc áp dụng các chế tài xử phạt đã được đẩy mạnh qua các năm, tỷ lệ cơ sở bị
quản lý tiên tiến trong quản lý an toàn thực phẩm. Như vậy, các yêu cầu trên cho
thấy, Việt Nam cần phải nội luật hóa các quy định của WTO, WHO, FAO,
CODEX…về ATTP để có cơ sở pháp lý thực hiện tại Việt Nam.
1.3.2. Vai trò của pháp luật về an toàn thực phẩm trong đời sống xã hội Việt
Nam hiện nay:
Bảo đảm an toàn thực phẩm một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, vừa cấp bách,
vừa lâu dài của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cấp ủy, tổ chức đảng, chính
quyền các cấp, trước hết là của người đứng đầu; là chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội
hằng năm ở các cấp. Vì thế pháp luật về ATTP đóng vai trò, vị trí quan trọng trong
công tác bảo đảm ATTP, thể hiện qua những điểm sau:
Thứ nhất, Pháp luật về an toàn thực phẩm có vai trò quan trọng trong việc
đảm bảo thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, đồng thời công
nhận những thực phẩm đạt chuẩn bảo đảm an toàn
Thứ hai, Pháp luật về an toàn thực phẩm có vai trò quan trọng trong việc ngăn
chặn các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm
Thứ ba, Pháp luật về an toàn thực phẩm có vai trò quan trọng trong việc nâng
cao nhận thức của xã hội về vấn đề an toàn thực phẩm.
9
Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN
THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT,
TỈNH ĐẮK LẮK
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật
về an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk, là thành
phố trung tâm cấp vùng tây nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng
của vùng và cả nước. Nằm trên trục đường Quốc lộ 14, nối liền Đà Nẵng - Thành phố
đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự phối hợp của Mặt trận, các tổ chức đoàn thể
10
và quần chúng nhân dân. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk đã ban hành Kế hoạch số
20-KH/TU ngày 01/12/2011 triển khai thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TW của Ban Bí
thư về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩm trong tình
hình mới ”. UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Kế hoạch số 4118/KH-UBND ngày
25/7/2012 triển khai thực hiện Kế hoạch số 20 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; ban hành
Chiến lược quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030 trên
địa bàn tỉnh, giai đoạn 2012-2015; Chỉ thị số 12/CT-UBND năm 2014 của Chủ tịch
UBND tỉnh Đắk Lắk về việc tăng cường công tác quản lý chất lượng vật tư nông
nghiệp, ATTP nông lâm thủy sản trên địa bàn Tỉnh và các văn bản phân định trách
nhiệm, cơ chế phối hợp cụ thể cho từng lĩnh vực.
* Trên cơ sở phân định thẩm quyền của UBND Tỉnh, UBND Thành phố Buôn
Ma Thuột đã cụ thể hóa công tác quản lý nhà nước về ATTP cho các phòng chức
năng của UBND Thành phố cụ thể như sau:
+ Đối với lĩnh vực ATTP do ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản
lý: Giao Phòng Kinh tế Thành phố có trách nhiệm phối hợp với Sở NN&PTNT Tỉnh
và các đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ATTP thuộc Sở NN&PTNT
Tỉnh, quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh, vật tư nông nghiệp và thực phẩm nông
lâm thủy sản đóng trên địa bàn Thành phố, trong đó chú trọng các cơ sở sản xuất, chế
biến, rang xay cà phê, nhằm giữ vững uy tín, thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột đối
với thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.
Phòng Kinh tế Thành phố đang triển khai thực hiện Công văn số 1960/UBNDVP ngày 18/9/2015 của UBND Thành phố về việc rà soát, thống kê các loại hình cơ
sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ theo Thông tư số 51/TT-BNNPTNT ngày 27/12/2014 của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; tổ chức tập huấn, hướng dẫn điều kiện đảm
bảo ATTP đối với từng loại hình cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ, thực hiện ký cam kết
với từng cơ sở. Dự kiến triển khai ký cam kết sản xuất thực phẩm an toàn và tổ chức
kiểm tra việc thực hiện nội dung đã cam kết của các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ
Phòng Y tế hiện đã tham mưu cho UBND Thành phố quyết định kiện toàn lại
Ban chỉ đạo liên ngành ATTP theo tinh thần Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 09/5/2016
của Thủ tướng Chính phủ theo đó Chủ tịch UBND Thành phố trực tiếp làm nhiệm vụ
Trưởng ban chỉ đạo liên ngành an toàn thực phẩm.
Công tác phối hợp liên ngành được triển khai có hiệu quả trong hoạt động
thanh tra, kiểm tra về ATTP. Trong những năm qua, các đoàn kiểm tra liên ngành của
Thành phố cơ bản đã phát huy được hiệu quả, hiệu lực trong việc phát hiện, xử lý các
hành vi vi phạm về ATTP trên địa bàn, qua đó kịp thời cảnh báo đến cộng đồng
những nguy cơ mất ATTP để nhân dân biết và phòng tránh.
Ngoài việc phối hợp hoạt động giữa các ngành, cơ quan, đơn vị cũng như các
hội, đoàn thể cũng được triển khai thường xuyên, hiệu quả, nhịp nhàng thông qua các
hoạt động chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền. Đặc biệt được các nội dung tuyên
truyền về ATTP lồng ghép vào các buổi tập huấn, nói chuyện chuyên đề gắn với
phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, xây dựng nông thôn mới.
2.2.2. Thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn Thành phố
Buôn Ma Thuột
2.2.2.1. Công tác tổ chức bộ máy, con người, cơ sở vật chất, tài chính để triển
khai thực hiện
- Đối với Phòng Y tế Thành phố Buôn Ma Thuột thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về ATTP: được phân bổ 07 biên chế, gồm 01 trưởng phòng, 01 phó trưởng
phòng, phân công Phó trưởng phòng và 01 cán bộ chuyên trách giúp Trưởng phòng Y
tế thực hiện công tác quản lý nhà nước về ATTP. Về trình độ chuyên môn: 02 Bác sỹ
(01 bác sỹ chuyên khoa I), 02 dược sỹ (01 dược sỹ đại học), 01 kế toán, 02 kỹ sư
Công nghệ thực phẩm (hợp đồng)). Ngoài ra, còn có Trung tâm Y tế Thành phố được
thành lập từ năm 2012 thực hiện riêng chức năng y tế dự phòng với tổng số cán bộ,
nhân viên 55 người, trong đó có khoa an toàn thực phẩm - dinh dưỡng, có từ 2-3 viên
chức, thực hiện nhiệm vụ chuyên trách về ATTP
12
nhanh đối với thực phẩm. Tuy nhiên, thực tế nguồn kinh phí dành cho hoạt động
trong lĩnh vực này chưa đáp ứng nhu cầu đặt ra.
2.2.2.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ATTP
Sau khi Luật ATTP được ban hành, các phòng, ban chuyên môn đã tham mưu
cho UBND Thành phố đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các
nội dung cơ bản của Luật ATTP, đồng thời tổ chức tổ chức nhiều chiến dịch truyền
thông trên các phương tiện thông tin đại chúng về an toàn thực phẩm. Giai đoạn
2011-2016, Thành phố đã tổ chức nhiều chiến dịch truyền thông trên các phương tiện
thông tin đại chúng, cụ thể: hằng năm tổ chức lễ phát động Tháng hành động vì chất
lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm với hơn 6.000 lượt người tham dự; tổ chức phát
thanh trên Đài phát thanh và Truyền hình Thành phố với 6.575 lần tin bài, 34 phóng
sự, 55 bài viết về công tác đảm bảo ATVSTP. Công tác tuyên truyền bằng hình ảnh
13
trực quan được triển khai sâu rộng, tổ chức treo 366 băng rôn trong Tháng hành động
ATVSTP, chuyển phát tài liệu hỏi đáp về Luật an toàn phẩm, Chiến lược quốc gia về
Vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030, hướng dẫn đảm
bảo an toàn thực phẩm đối với các cơ sở chế biến thức ăn sẵn; cấp, phát 5.400 tờ áp
phích, 26.160 tờ rơi, 250 băng đĩa tuyên truyền về ATTP; thực hiện 468 buổi nói
chuyện, 74 hội thảo, hội nghị với hơn 50.000 người tham gia.
Qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ATTP đã từng bước
nâng cao nhận thức của người dân về ATTP, về tầm quan trọng của công tác bảo đảm
ATTP, giúp cho người tiêu dùng hiểu biết về quyền lợi của mình và tác hại của việc
sử dụng sản phẩm thực phẩm không an toàn.
2.2.2.3. Kết quả thực hiện pháp luật về ATTP trên địa bàn Thành phố
+ Công tác Quản lý an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, vận chuyển,
bảo quản thực phẩm tươi sống:
- Trong sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản rau, củ, quả tươi và sơ chế:
ngoài một số cơ sở sản xuất rau, củ, quả theo quy trình ViệtGap đã được kiểm tra
sản: Công tác ATTP thủy sản đã triển khai thực hiện nhiều hoạt động chuyên môn
nhằm tăng cường công tác quản lý VSATTP trong lĩnh vực thủy sản như tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất,
kinh doanh vật tư thủy sản, nuôi trồng, khai thác thủy sản. Đồng thời đẩy mạnh công
tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật trong lĩnh vực thủy sản. Các hoạt động trên được
triển khai thực hiện hàng năm trên địa bàn Thành phố, nhờ vậy trong những năm qua
không có trường hợp gây mất VSATTP trong lĩnh vực thủy sản.
+ Quản lý ATTP trong xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm: trên địa bàn Thành
phố không có doanh nghiệp nào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp hàng hóa
thực phẩm qua đường chính ngạch hay tiểu ngạch.
+ Quản lý ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm:
Trên địa bàn thành phố hiện có 2.860 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm,
trong đó Thành phố quản lý 1.183 cơ sở (dịch vụ ăn uống 663 cơ sở, kinh doanh 520
cơ sở); phường, xã quản lý 1.677 cơ sở (dịch vụ ăn uống 1.164 sơ sở, kinh doanh 513
cơ sở). Đến nay Phòng Y tế đã tổ chức thẩm định các điều kiện đảm bảo ATTP và
cấp 427/663 giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP và ký 40/68 bản cam kết chấp
hành các điều kiện về ATTP tại các bếp ăn tập thể; đã tổ chức thi và cấp 1.914 giấy
xác nhận kiến thức về ATTP. Tổ chức 07 lớp tập huấn và xác nhận kiến thức ATTP
cho hơn 500 người, trong đó tổ chức 01 lớp tập huấn và xác nhận kiến thức ATTP
riêng cho những người trực tiếp kinh doanh thức ăn đường phố vào ban đêm…qua đó
đã làm thay đổi bộ mặt ATVSTP tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống..
Việc quản lý các sản phẩm từ rau, thịt, thủy sản, lương thực, sản xuất, kinh
doanh bia, rượu, nước giải khát, bánh, kẹo, kinh doanh thực phẩm tại các chợ… do
ngành NN&PTNT, ngành công thương quản lý. Tuy nhiên do chậm phân cấp cho
tuyến huyện nên trong thời gian dài lĩnh vực này bỏ ngõ, chỉ được các đoàn liên
ngành của Thành phố tổ chức kiểm tra vào các đợt cao điểm như dịp tết Nguyên đán,
Tháng hành động vì ATTP và dịp Tết Trung thu.
Việc quản lý các cơ sở thức ăn đường phố chưa được chú trọng, phần lớn các
vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn đều phát sinh từ đây. Nhiệm vụ này được giao cho
chính quyền các phường, xã, tuy nhiên do quản lý số lượng lớn cơ sở thức ăn đường
đồng; buộc tiêu hủy hơn 1.500 kg hàng hóa, bánh kẹo không rõ nguồn gốc, 230 kg
giò chả có chứa hàn the…tình hình kiểm tra được thể hiện qua biểu đồ sau:
kiểm tra
vi phạm
520
192
309
271
267
163
259
188
210
196
214
2014
2015
2016
tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2011-2016
Tuy nhiên hoạt động kiểm tra chuyên đề về ATTP đối với dịch vụ ăn uống, bếp
ăn tập thể và thức ăn đường phố triển khai hạn chế do thiếu kinh phí tổ chức Đoàn
kiểm tra. Ngoài ra công tác lấy mẫu gửi labo kiểm nghiệm khi nghi ngờ sản phẩm
thực phẩm không an toàn còn rất hạn chế do không có nguồn kinh phí chi trả mẫu xét
nghiệm.
* Về xử lý hình sự: trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng như Thành phố Buôn Ma
Thuột chưa triển khai xử lý hình sự về ATTP giai đoạn 2011-2016.
2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về an toàn thực
phẩm trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột
2.3.1. Đối với các quy định của pháp luật về ATTP
+ Ưu điểm: Các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm ngày càng tiến
bộ, bao quát và đầy đủ hơn, đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới.
Tỉnh Đắk Lắk cũng như Thành phố Buôn Ma Thuột đã kịp thời ban hành đầy
đủ các văn bản quy phạm pháp luật triển khai thực hiện pháp luật về ATTP; kịp thời
tổ chức quán triệt, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về ATTP đến đội ngũ cán bộ làm
công tác quản lý ATTP, các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, nâng
cao nhận thức, kiến thức về VSATTP cho người dân.
+ Hạn chế:
Việc ban hành văn bản chỉ đạo điều hành còn chậm vì tâm lý chờ văn bản triển
khai thực hiện của Bộ, ngành Trung ương, của Tỉnh Đắk Lắk. Do đó, một số lĩnh vực
quản lý bị bỏ trống trong một thời gian dài, gây nguy cơ mất an toàn cho người tiêu
dùng.
2.3.2. Đối với thực hiện pháp luật về ATTP:
+ Ưu điểm:
- Phòng Y tế và phòng Kinh tế Thành phố đã thực hiện tốt chức năng tham
mưu cho UBND Thành phố ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, các chủ trương,
kế hoạch, giải pháp, biện pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả pháp luật về ATTP
cũng như thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo ATTP, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
17
Ma Thuột và hình ảnh du lịch của Buôn Ma Thuột đến du khách trong và ngoài nước.
* Nguyên nhân ưu điểm: Công tác đảm bảo ATTP đã nhận được sự quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố,
sự phối hợp chặt chẽ của các phòng, ban chuyên môn, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức
đoàn thể của Thành phố và cấp ủy, chính quyền các phường, xã, đặc biệt là vai trò
tham mưu của phòng y tế, phòng kinh tế Thành phố.
Vấn đề ATTP là vấn đề nóng, nhạy cảm do đó thu hút được sự quan tâm của
các cơ quan truyền thông từ trung ương đến địa phương tham gia cũng như sự hưởng
ứng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với các chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của nhà nước về ATTP.
+ Hạn chế
- Một số cấp uỷ, chính quyền phường, xã, cán bộ, đảng viên chưa nhận thức
đúng đắn về tầm quan trọng của công tác đảm bảo ATTP, chưa xem công tác đảm
18
bảo ATTP là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của địa phương, đơn vị do đó chưa
tạo được sự đồng thuận, huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị đối với
nhiệm vụ bảo đảm ATTP.
- Công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của UBND các cấp tuy đã
có chuyển biến song việc triển khai còn thụ động, mới tập trung giải quyết được một
số vấn đề bức xúc, chưa chủ động quản lý được nguy cơ ô nhiễm theo chuỗi cung cấp
thực phẩm theo một chiến lược dài hạn. Phương thức quản lý thực phẩm còn nhiều
bất cập. Công tác ATTP trên địa bàn Thành phố hầu hết được giao cho ngành y tế
đảm trách trong điều kiện nguồn kinh phí từ Trung ương cấp xuống bị cắt giảm theo
từng năm; thiếu cán bộ chuyên trách về lĩnh vực ATTP, một cán bộ phụ trách nhiều
lĩnh vực, không có chuyên môn, nghiệp vụ về ATTP.
Tỷ lệ cơ sở chế biến, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn được kiểm soát còn
ở mức rất thấp. Chất lượng ATTP của một số sản phẩm thực phẩm chế biến thủ công,
quy mô nhỏ tuy có được cải thiện nhưng vẫn là một khâu yếu. Việc quản lý ATTP ở
dùng, giá thành cao khó cạnh tranh với thực phẩm thông thường, vì vậy chưa tạo
động lực cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn đầu tư kinh phí, nâng
cao chất lượng, số lượng thực phẩm cung cấp cho thị trường.
* Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm
+ Nguyên nhân chủ quan
- Văn bản chỉ đạo, điều hành về lĩnh vực ATTP còn chồng chéo, chưa cụ thể
cho từng đối tượng quản lý, chưa quy định biện pháp khắc phục cụ thể khi bị xử phạt
hành chính.
- Nhận thức trách nhiệm của một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về
tầm quan trọng của công tác quản lý ATTP chưa đầy đủ nên sự chỉ đạo thiếu quyết
liệt, triển khai thực hiện pháp luật về ATTP chưa đồng bộ.
- Năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp còn hạn chế, chưa kịp
thời triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các ngành chức năng về
quản lý ATTP.
- Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn
chưa đồng bộ, chưa thật sự chặt chẽ.
- Ý thức chấp hành pháp luật về ATTP và trách nhiệm của người sản xuất, kinh
doanh thực phẩm đối với cộng đồng còn chưa cao, một mặt là do người sản xuất,
kinh doanh chạy theo lợi nhuận trước mắt, coi thường tính mạng, sức khỏe người tiêu
dùng; mặt khác do việc xử lý vi phạm còn nương nhẹ, thiếu kiên quyết.
- Phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ kiểm tra nhà nước về chất lượng
ATTP còn thiếu và lạc hậu; trình độ cán bộ chuyên môn và năng lực phân tích của
các phòng thử nghiệm trên địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu hiện nay.
+ Nguyên nhân khách quan
- Phần lớn các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn Thành phố
đều nhỏ lẻ, kinh doanh theo quy mô hộ gia đình, do đó việc đầu tư cơ sở vật chất
nhằm đáp ứng đầy đủ các quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo
quy định của Bộ Y tế trong thực tế là không khả thi.
- Các hóa chất, phụ gia bị cấm trong chăn nuôi, trồng trọt, chế biến, bảo quản
thực phẩm không khó mua ngoài thị trường đã tạo cơ hội và thúc đẩy cho người dân
ngành và gắn liền với chính sách phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đối
ngoại của nhà nước. Công tác này phải được đầu tư nguồn lực (nhân lực, vật lực)
tương xứng với yêu cầu thực tiễn. Phải coi công tác đầu tư cho an toàn thực phẩm là
đầu tư cho phát triển, an toàn và an sinh xã hội. Cần phát huy vai trò của các tổ chức
nghề nghiệp, hội, hiệp hội liên quan tham gia công tác xây dựng chính sách, giám sát
an toàn thực phẩm; coi các tổ chức này như là “cánh tay nối dài” của cơ quan quản lý
nhà nước trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
Để kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm cũng như việc triển khai thực hiện
đồng bộ, có hiệu quả pháp luật về an toàn thực phẩm thì trách nhiệm trước hết, trên
hết thuộc về chính quyền các cấp.
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ
đạo bảo đảm ATTP trên địa bàn; đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân các cấp và các phương tiện truyền thông để
bảo đảm ATTP ở tất cả các khâu từ sản xuất, kinh doanh, chế biến đến tiêu dùng. Đặc
biệt, cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước về vấn đề VSATTP: củng cố hệ
thống quản lý các cấp, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các ngành liên quan; tổ chức
thanh, kiểm tra thường xuyên và đột xuất, xử lý nghiêm các vi phạm về VSATTP;
21
nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp chế biến thực phẩm, tư vấn và áp dụng các
hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trong lĩnh vực VSATTP; quan tâm tới công tác
cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP cho các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực VSATTP; xã hội hóa công tác đảm bảo
VSATTP, tăng cường đầu tư các nguồn lực cho công tác này.
3.1.3. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hệ thống quản lý và kiểm nghiệm
an toàn thực phẩm
Tăng cường năng lực kiểm nghiệm chất lượng VSATTP, xây dựng hệ thống
giám sát ngộ độc thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm và phân tích nguy cơ ô
ATTP.
22
* Đối với việc xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm
Ngày 14/11/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định
xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, có hiệu lực từ ngày 31/12/2013.
Nghị định này quy định mức xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền trong nhiều lĩnh
vực quy định quá thấp, nên không bảo đảm được tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa
chung, dẫn đến tình trạng tuy không phổ biến nhưng nhiều tổ chức, doanh nghiệp
hiện đang tồn tại tâm lý chung là chấp nhận nộp phạt vẫn có lợi hơn so với phải chấp
hành đúng quy định của pháp luật về lĩnh vực đó. Bên cạnh đó Nghị định chưa quy
định các biện pháp khắc phục cụ thể sau khi bị xử phạt hành chính.
Vì vậy đề nghị Bộ Y tế nghiên cứu tham mưu trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung
Nghị định 178/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về
an toàn thực phẩm theo hướng tăng mức phạt tiền bảo đảm có tính răn đe hơn và quy
định các biện pháp khắc phục cụ thể khi bị xử phạt hành chính.
* Đối với pháp luật hình sự
Cần sửa đổi, bổ sung Điều 244 Bộ luật Hình sự hiện hành (Điều 317 dự thảo
Bộ luật hình sự 2015) theo hướng nên căn cứ vào hàm lượng sử dụng chất cấm trong
lương thực, thực phẩm quá mức quy định bao nhiêu lần để định mức xử phạt tương
ứng chứ không căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể do sử dụng lương thực, thực phẩm
không an toàn gây ra. Đồng thời đề nghị bổ sung riêng một điều về tội sản xuất, buôn
bán sử dụng vượt mức cho phép các chất cấm, chất độc hại trong trồng trọt, chăn
nuôi, bảo quản, chế biến thực phẩm và khung hình phạt này phải tương ứng như
khung hình phạt về tội sản xuất và buôn bán hàng giả về lương thực, thực phẩm quy
định tại Điều 193.
Ngoài hai điều (193 và 317) quy định trực tiếp về hành vi vi phạm vệ sinh an
toàn thực phẩm, Dự thảo Luật cũng đề cập đến tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và tội
tàng trữ, vận chuyển hàng cấm - tương tự như Bộ luật Hình sự hiện hành, trong đó
thực phẩm trong tình hình mới”, các địa phương, đơn vị cần thực hiện tốt một số giải
pháp sau:
+ Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo
ATTP;
+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhằm nâng cao nhận
thức của xã hội, của doanh nghiệp, của nhân dân về an toàn thực phẩm, về các chủ
trương, chính sách, pháp luật và những kiến thức cần thiết về ATTP; kịp thời cung
cấp các thông tin về ATTP cũng như thực phẩm không an toàn để người dân biết, lựa
chọn.
+ Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Ủy ban
nhân dân các cấp chịu trách nhiệm về bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa
bàn; xác định việc bảo đảm VSATTP là nhiệm vụ cấp thiết cần tập trung chỉ đạo,
điều hành; ưu tiên bố trí đủ kinh phí, nguồn lực cho công tác quản lý, bảo đảm an
toàn thực phẩm.
+ Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật về ATTP.
Thanh tra, kiểm tra luôn được coi là một hoạt động quan trọng và ưu tiên hàng đầu
của quản lý nhà nước về ATTP, kết hợp giữa kiểm tra, xử lý và thông tin, tuyên
truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các cơ sở sản xuất kinh doanh vi
phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm
Tăng cường hoạt động phối hợp liên ngành; nâng cao vai trò của ban chỉ đạo
liên ngành VSATTP các cấp trong tham mưu, chỉ đạo, điều hành, triển khai các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về ATTP.
+ Đầu tư, nâng cấp hệ thống quản lý và kiểm nghiệm an toàn thực phẩm, đáp
ứng nhu cầu đặt ra. Cần xây dựng cơ chế quản lý chuỗi thực phẩm một cách hệ thống,
nhằm bảo đảm mỗi loại thực phẩm đều có “lý lịch” rõ ràng, an toàn. Đây cũng là yêu
cầu bắt buộc để từ đó cơ quan chức năng có thể truy cứu trách nhiệm khi có sự cố,
tổn thất đối với người tiêu dùng.
3.2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đảm bảo an toàn thực phẩm
trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột
24
loại thực phẩm tươi sống và các loại thực phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt hàng ngày
của nhân dân. Mặt khác, để tạo điều kiện cho người dân sản xuất và kinh doanh các
sản phẩm rau an toàn, Thành phố tiến hành tổ chức lại sản xuất, quy hoạch lại các
vùng chuyên sản xuất rau sạch, an toàn để cung ứng đủ sản lượng, chủng loại cho
người dân sử dụng; liên kết với các doanh nghiệp để cung cấp các sản phẩm an toàn
trên địa bàn và từng bước tăng cường quản lý chất lượng để tiêu thụ ở các chợ trung
tâm.
+ Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra có trọng tâm, trọng điểm
và hiệu quả, phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng trong hoạt động quản lý
chất lượng ATTP nhằm tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng ATTP trên địa bàn. Đề
xuất tổ chức thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm cấp huyện, xã, phường, thị trấn tại
tỉnh Đắk Lắk.
25