Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Sơn La (tt) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÒ THUẬN HẢI

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học
xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:
TS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI

Phản biện 1: Hoàng Văn Tú
Phản biện 2: Vũ Thư

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận thạc
sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 50 phút ngày 08
tháng 08 năm 2015

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa


1


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, giới nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và
khoa học pháp lý nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp và
gián tiếp về giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam với phạm vi và mức độ
khác nhau.
Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu để áp dụng vào thực tiễn tại tỉnh
Sơn La thì vẫn chưa có một công trình nào. Bởi vậy, trong một chừng mực
nào đó, việc nghiên cứu thành công đề tài “Giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Sơn La”
trong khuôn khổ luận văn luật học vẫn là một công việc có ý nghĩa lý luận và
mang tính thời sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp quyền
sử dụng đất theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Qua đó đề xuất những
giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật để giải quyết có
hiệu quả hơn các tranh chấp về quyền sử dụng đất.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các văn bản quy phạm pháp luật liên quan
đến tranh chấp quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về một số
dạng tranh chấp quyền sử dụng đất điển hình, các quy định về giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất và cơ chế thực hiện tương ứng của tòa án nhân
dân qua thực tiễn áp dụng pháp luật ở tỉnh Sơn La.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Bản chất của tranh chấp trong các trường hợp này là tranh chấp về
hợp đồng dân sự. Thời hiệu khởi kiện đối với dạng tranh chấp này được áp
dụng như đối với thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng nói
chung.
- Nhóm thứ ba, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất
Đây là dạng tranh chấp do người có quyền sử dụng đất, tài sản gắn
liền với đất chết mà không để lại di chúc, hoặc để lại di chúc không phù hợp
với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận
được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến
5


tranh chấp.
- Nhóm thứ tư, tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất
Tranh chấp trong trường hợp này có thể là tranh chấp về ai là người
có quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản, thừa kế hoặc tranh chấp về các hợp
đồng liên quan đến tài sản gắn liền với đất.
1.1.3.2. Các hình thức giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Trên cơ sở Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
có thể phân loại phương thức giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất như
sau:
- Thứ nhất, giải quyết bằng biện pháp hòa giải
Hòa giải tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải quyết các tranh
chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai trò
trung gian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải pháp
thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến
quyền sử dụng đất và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của
mình.
- Thứ hai, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất bằng biện pháp
khác khi không hòa giải được

Nguồn của luật tố tụng dân sự Việt Nam bao gồm các văn bản pháp
luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có chứa đựng các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa tòa án, viện kiểm sát, cơ
quan thi hành án, người tham gia tố tụng và người liên quan phát sinh trong tố
tụng dân sự.
1.2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của luật tố tụng dân sự Việt Nam
* Giai đoạn trước năm 1945
Trước thời Pháp thuộc, do nền kinh tế phong kiến lạc hậu, kém phát
triển nên pháp luật cũng chưa phát triển. Trong các văn bản pháp luật được ban
hành chưa có sự phân biệt rõ ràng các lĩnh vực về hành chính, dân sự, hình sự
và tố tụng.
* Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Các văn bản pháp luật được Nhà nước ban hành trong thời gian từ
1954 đến 1989 đã quy định được tương đối đầy đủ, hợp lý các vấn đề về tố tụng
dân sự. Tuy vậy, các vấn đề về tố tụng dân sự vẫn còn được quy định tản mạn,
chủ yếu được quy định trong các thông tư do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
7


nên hiệu lực chưa cao.
* Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004
Trong giai đoạn này nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực cao quy định
về các vấn đề về tố tụng dân sự đã được ban hành. Tuy vậy, các quy định này
vẫn còn khá tản mạn như các giai đoạn trước. Đặc biệt, với sự ra đời của Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các tranh chấp lao động năm 1996 đã dẫn đến các quy định về tố tụng dân sự bị
xé lẻ, thiếu tập trung, chồng chéo, mâu thuẫn.
* Giai đoạn từ năm 2005 trở đi
Bộ luật Tố tụng Dân sự góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của

ngày 22/10/1985 của Tổng cục Quản lý ruộng hướng dẫn việc giải quyết
tranh chấp đất bãi sa bồi.
* Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1987 được ban hành đến trước khi
Luật Đất đai 1993 ra đời
Để tạo cơ sở pháp lý giải quyết tình hình tranh chấp đất đai. Nhà
nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật như: Luật Đất đai 1987 (Điều
21). Chỉ thị số 154-HĐBT ngày 11/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) về triển khai thực hiện chỉ thị số 47-CT/TƯ của Bộ Chính trị về
giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất. Quyết định số 13-HĐBT
ngày 01/02/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc giải
quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất. Nghị định 30-HĐBT ngày
23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thi hành Luật
Đất đai (Điều 15, 16). Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc giải quyết tranh chấp
đất đai liên quan đến địa giới hành chính.
* Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1993 được ban hành đến trước khi
Luật Đất đai năm 2003 ra đời
Luật Đất đai 1993 đánh dấu một bước phát triển của quá trình hoàn
thiện cơ chế quản lý đất đai của Nhà nước ta, khắc phục tình trạng bao cấp về
đất đai, giao đất sử dụng không mất tiền, đảm bảo sử dụng đất đai đúng mục
đích, có hiệu quả.
* Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành cho đến
9


trước khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành
Luật Đất đai năm 2003 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2004, thay thế Luật Đất đai năm 1993. Thời kỳ này, Đảng và Nhà nước
chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế, kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước
tiến lên công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nên tạo điều kiện thu hồi một

chấp quyền sử dụng đất
2.1.1. Quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Từ khi có Luật Đất đai năm 1987, các quy định về thẩm quyền của
Toà án đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất theo các Luật Đất đai
năm 1987, 1993, 2003 và 2013 là có sự khác nhau.
Luật Đất đai năm 1993 hoàn toàn không phân chia các loại tranh
chấp về quyền sử dụng đất mà chỉ đề cập rất chung chung là Toà án có thẩm
quyền đối với tranh chấp về tài sản trên đất và quyền sử dụng đất.
Theo Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC
ngày 03/01/2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết
các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất thay thế Thông tư số 02 nêu
trên, thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền
sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm
1987, 1993.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 thì tranh
chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy
tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn
liền với đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại
Khoản 2 Điều 203: Tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng
nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tài Điều 100 của Luật
Đất đai 2013 thì đương sự chỉ được chọn yêu cầu UBND cấp có thẩm quyền
hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
2.1.2. Quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
11


đất tại Tòa án
Việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nói chung và bằng Tòa
án nói riêng phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:

tụng dân sự năm 2015, đối với các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình được quy
định tại Điều 26 và Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thường phức tạp.
Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử,
Tòa án phải mở phiên tòa, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn
này là 02 tháng.
Bước 4: Mở phiên tòa xét xử: Theo quy định tại Điều 222 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 phiên tòa phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm
đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại
phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa.
2.1.3.2. Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm
- Chuẩn bị khai mạc phiên tòa: Là thủ tục của Thư ký Tòa án gồm các
công việc: Ổn định trật tự trong phòng xử án; kiểm tra, xác định sự có mặt,
vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo Giấy triệu tập, Giấy báo
của Tòa án; phổ biển nội quy phiên tòa và yêu cầu mọi người đứng dậy khi
hội đồng xét xử vào phòng xử án.
- Thủ tục bắt đầu phiên tòa: gồm các công việc sau: Khai mạc phiên
tòa: Chủ tọa phiên tòa khai mạc và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Giải
quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định và người
phiên dịch; xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt; bảo
đảm tính khách quan của người làm chứng.
- Thủ tục tranh luận tại phiên tòa: Đây là hoạt động trung tâm của
phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
mình trước tòa án.
- Nghị án và tuyên án: Nghị án là việc Hội đồng xét xử xem xét,
quyết định giải quyết vụ án. Tuyên án: Sau khi bản án đã được thông qua, Hội
đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án.
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất tại tỉnh Sơn La
2.2.1. Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố
tụng dân sự về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại tỉnh Sơn La và

tại: bản Hôm, xã Chiềng Cọ, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn Sơn, bà Nguyễn Thị Hải Yến, đều trú tại:
Xóm 2, Thanh Nội, xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
14


2.2.2. Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp
luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại tỉnh Sơn
La và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xét xử các vụ án tranh
chấp quyền sử dụng đất đai tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La còn khó khăn,
vướng mắc nhất định. Theo đó, thời hạn xét xử một số vụ án còn bị kéo dài so
với quy định của pháp luật và trong quá trình giải quyết vụ án, do việc nghiên
cứu các tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, đánh giá chứng cứ thiếu khách quan,
toàn diện, lúng túng khi áp dụng pháp luật, không vận dụng đúng đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhà ở, đất đai trong từng
giai đoạn lịch sử.
Những khó khăn, vướng mắc trên do tính chất của những tranh chấp
quyền sử dụng đất khá phức tạp và một số nguyên nhân khách quan và chủ
quan như sau:
a) Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, hệ thống các quy định pháp luật về quyền sử dụng đất khá
phức tạp không những được quy định riêng trong pháp luật đất đai mà còn
phải vận dụng để xác định đồng thời đó là những quan hệ dân sự và việc bảo
đảm những quyền và nghĩa vụ dân sự pháp luật đã quy định đối với các bất
động sản liền kề.
Thứ hai, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều
yếu kém. Theo đó, còn tình trạng giấy chứng nhận được cấp không đúng đối
tượng, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phức tạp mà hoạt động
của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, trong đó xác định đây là đầu mối

hồ sơ vụ án, chậm cập nhật văn bản, chính sách pháp luật mới dẫn đến việc áp
dụng pháp luật để giải quyết, xét xử vụ án chưa đáp ứng yêu cầu.
Thứ năm, một số trường hợp việc thu thập chứng cứ gặp khó khăn,
nguyên nhân là do có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ hiểu
biết cũng như nhận thức pháp luật của nhân dân còn hạn chế, không phối hợp
với cán bộ Tòa án trong việc xem xét thẩm định tại chỗ hoặc định giá.
Thứ sáu, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn. Trụ
sở làm việc của Tòa án tỉnh và đa số trụ sở của Tòa án các huyện được xây
dựng xây dựng đã lâu, không theo thiết kế mới của Tòa án nhân dân tối cao.
16


KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Qua phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại
Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La có thể nhận thấy tranh chấp về quyền sử dụng
đất luôn là điểm nóng trong các vụ tranh chấp mà Tòa án nhân dân phải giải
quyết.
Công tác giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân
dân trong những năm qua vẫn còn nhiều vụ phải xử lại nhiều lần hoặc bị hủy
bản án làm phát sinh khiếu kiện kéo dài và làm giảm lòng tin của người dân
với Đảng và Nhà nước.
Nguyên nhân xuất phát từ những hạn chế của hệ thống pháp luật, vẫn
còn nhiều điểm chồng chéo; công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
còn yếu kém; ý thức tuân thủ pháp luật của người dân chưa cao; bên cạnh đó
là sự hạn chế về năng lực của một số thẩm phán dẫn đến sai sót trong công tác
giải quyết, xét xử.

17





Nghĩa vụ của Tòa án trong bảo vệ quyền dân sự khi phát sinh tranh
chấp, xâm phạm quyền sử dụng đất gồm:
Thứ nhất, dạng thức không hành động. Nghĩa vụ này đòi hỏi tòa án
phải tôn trọng quyền dân sự của cá nhân, tổ chức, nghĩa là kiềm chế sự can
thiệp, kể cả trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc hưởng thụ những quyền này của
các chủ thể.
Thứ hai, dạng thức cung cấp cơ sở bảo vệ quyền. Nghĩa vụ này đòi
hỏi tòa án phải có những giải pháp bảo đảm cho cá nhân, tổ chức được hưởng
thụ đầy đủ quyền của mình.
Thứ ba, dạng thức ngăn chặn các tranh chấp, vi phạm giữa các chủ thể.
Nghĩa vụ này đòi hỏi tòa án phải ngăn chặn sự vi phạm các quyền dân sự của cá
nhân, tổ chức bởi bên thứ ba. Đây cũng là dạng thức của nghĩa vụ chủ động.
3.1.2. Yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
3.1.2.1. Yêu cầu cải cách tư pháp
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: Tòa án là khâu trung tâm của
quá trình cải cách, xét xử là khâu trọng tâm của toàn bộ hoạt động tư pháp.
Việc thực hiện Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đã tạo sự
chuyển biến về nhận thức đối với vị trí, vai trò của TAND trong tiến trình cải
cách tư pháp cũng như nâng cao nhận thức cán bộ, công chức ngành TAND
đối với công tác cải cách tư pháp.
3.1.2.2. Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một chủ trương nhất quán
của Đảng, Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, được thể chế hóa tại Điều 2 của
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân”. Nguyên tắc tổ chức, phân công quyền lực nhà nước được

cần thiết để đưa Nghị Quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020, tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử,
không phụ thuộc vào đơn vị hành chính thực thi trên thực tế.
Thứ hai, cần có cơ chế phối hợp cụ thể, ràng buộc về tính pháp lý đối
với các Tòa án chuyên trách và quan hệ giữa Tòa án với các ngành khác khi
20


giải quyết các tranh chấp về đất đai. Tránh trường hợp án bị tách không cần
thiết, hay lãng phí thời gian trong việc thu thập chứng cứ, giải quyết các công
tác liên quan gây phiền hà, sách nhiễu cho đương sự bởi không có cơ chế phối
hợp đối với hoạt động của Tòa án chuyên trách này với Tòa án chuyên trách
khác và Tòa án với các cơ quan liên quan.
3.2.2. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh
Sơn La
3.2.2.1. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất
Việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Tòa án nhân dân, đặc
biệt là đội ngũ Thẩm phán là một trong những khâu then chốt để bảo đảm
công tác giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất đạt hiệu quả cao.
Làm tốt công tác đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán
bộ, công chức; trong đó, trú trọng việc đào tạo thông qua việc rút kinh
nghiệm xét xử, động viên cán bộ, công chức tự nghiên cứu học tập nâng cao
trình độ chuyên môn. Tập trung bồi dưỡng, tập huấn các văn bản pháp luật
mới, bồi dưỡng chuyên sâu và kỹ năng xét xử cho Thẩm phán và Hội thẩm.
3.2.2.2. Quan tâm thực hiện công tác giám đốc thẩm và kiểm tra xét
xử cũng như việc tổng kết thi hành, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật
Những tranh chấp về quyền sử dụng đất là những tranh chấp với
nhiều tình tiết phức tạp. Chính bởi vậy, cần đặc biệt chú trọng việc tổng kết

các Tòa án với hoạt động tố tụng; đổi mới phương pháp lãnh đạo, phát huy
tính sáng tạo và đề cao trách nhiệm người đứng đầu.
Tiếp tục kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức của các Tòa án, nhất là
cán bộ có chức danh tư pháp ở Tòa án cấp huyện. Tăng cường công tác khảo
sát, nắm tình hình thực tế của các Tòa án, trong đó cần chú trọng công tác
phối hợp giữa các Tòa án nhân dân; thực hiện việc luân chuyển, điều động,
chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức.
Đề xuất đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho hệ thống Tòa án nhân
dân đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp đến năm 2020.
Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua gắn với việc thực hiện Chỉ
thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và
22


làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
Trên cơ sở phân tích những yêu cầu cần đạt được nhằm nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất.
Chương 3 của luận văn đã đưa ra những giải pháp cụ thể để hoàn
thiện pháp luật cũng như tổ chức thực thi pháp luật. Bên cạnh đó, luận văn
cũng đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực
tế như: Hoàn thiện tổ chức, bộ máy của Tòa án nhân dân các cấp; chú trọng
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán; kiểm tra xét xử, đẩy mạnh hoạt động
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chú trọng công tác tuyên truyền,
phổ biến giáo dục pháp luật…

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status