BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
******************
TRẦN LÝ PHƯƠNG THẢO
PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÁ TRA GIỐNG TẠI
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 9/2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
****************
TRẦN LÝ PHƯƠNG THẢO
PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG CÁ TRA GIỐNG TẠI
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chuyên ngành: Kinh tế
Mã số
: 60.31.10
HIỆU TRƯỞNG
i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Trần Lý Phương Thảo sinh ngày 13 tháng 07 năm 1982 tại huyện
Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Con Ông Trần Văn Hữu và Bà Lý Thị Tâm.
Tốt nghiệp Tú tài tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Đình Chiểu,
thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2000. Tốt nghiệp Đại học ngành Kinh tế
Nông Lâm hệ Chính quy tại Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh năm
2005.
Từ năm 2005 đến 2006 công tác tại công ty TNHH Đại Phú, chức vụ kế toán.
Từ tháng 09 - 2010 công tác tại trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức, chức
vụ giảng viên.
Tháng 09 năm 2006 theo học Cao học ngành Kinh tế Nông Nghiệp tại
Trường Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: 222/6B ấp Ngãi Lợi, xã Thân Cữu Nghĩa, huyện Châu
Thành, tỉnh Tiền Giang.
Điện thoại: 0733 856 419, 0907 763 317
Email: [email protected]
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan những công bố trong luận văn là trung
thực và là một phần trong đề tài cấp bộ mã số 06/2009
do Ông Nguyễn Văn Sáng làm chủ nhiệm. Những số
liệu trong luận văn được phép công bố dưới sự đồng ý
giống tại đồng bằng sông Cửu Long” được tiến hành tại hai tỉnh An Giang và Đồng
Tháp, thời gian từ 01/05/2009 đến 31/08/2010. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao
gồm: Đánh giá hiệu quả của nghề sản xuất cá tra giống tại ĐBSCL; phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cá tra giống và đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng cá tra giống tại ĐBSCL.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sản xuất cá tra giống đem lại lợi nhuận cao, với
mức đầu tư trung bình là 111,57 triệu đồng/1000m2 diện tích mặt nước và 100 m2
nhà cho sinh sản thì mỗi cơ sở sản xuất sẽ thu được mức lợi nhuận trung bình là
60,55 triệu/năm và giá trị NPV là 221,25 triệu đồng, IRR là 44%, PP là 1,98 năm.
Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cá tra giống cho thấy để tạo ra
con giống chất lượng các cơ sở sản xuất cần đầu tư vào các yếu tố sau: nguồn gốc
cá bố mẹ, tốc độ tăng trưởng trung bình của cá hậu bị, tuổi cá bố mẹ chọn vào nuôi
vỗ, tuổi cá đực khi thay thế, số năm thay thế đàn cá bố mẹ, thuốc kích dục tố, kinh
nghiệm sản xuất và trình độ học vấn. Bên cạnh đó, đề tài đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng cá tra giống tại đồng bằng sông Cửu Long.
v
ABSTRACT
The Researching entitled ” Analyzing of some factors affecting the quality of
the fry in Mekong Delta ” had been conducted experiment in two provinces of An
Giang and Dong Thap, period from May 1st , 2009 to August 31st , 2010.The
objective of the research including: i) assessing the effects of fry production in the
Mekong Delta; ii) Analyzing of some factors affecting the quality of fry and
proposing some solutions to improve the quality of the fry in Mekong Delta.
Researching results showed that fry production have had high effect, the
production facilities’ average investment was 111,57 million VND per 1000 m2 of
pool and 100 m2 of hatchery, they got an average profit 60,55 million VND every
Tóm tắt
v
Mục lục
vii
Danh sách chữ viết tắt
x
Danh sách các hình
xi
Danh sách các bảng
xii
1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2. Ý nghĩa của đề tài
1.5.3. Thời gian nghiên cứu
3
2. TỔNG QUAN
4
2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
4
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
4
2.1.1.2. Khí hậu
5
2.1.1.3. Thủy văn
5
vi
2.1.1.4. Tài nguyên đất, nước
2.3. Tổng quan về tình hình sản xuất cá tra
9
2.3.1. Tình hình sản xuất cá tra tại ĐBSCL
9
2.3.2. Tình hình sản xuất cá giống và nhu cầu giống cá tra
11
2.3.3. Qui trình sản xuất cá tra
12
2.4. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
13
3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
16
3.1. Cơ sở lý luận
16
3.1.1. Tiêu chí đánh giá cá bố mẹ và cá bột/giống tốt
3.2. Phương pháp nghiên cứu
24
3.2.1. Phương pháp nghiên cứu mô tả
25
3.2.2. Phương pháp phân tích hồi qui
25
3.2.2.1. Phương trình hồi qui
25
3.2.2.2. Kỳ vọng dấu
27
3.2.3. Phương pháp đánh giá xếp hạng
29
vii
3.2.4. Thu thập dữ liệu
29
37
4.1.2.1. Thông tin về cá bố mẹ tham gia sinh sản
37
4.1.2.2. Nguồn gốc cá bố mẹ
38
4.1.2.3. Kỹ thuật sinh sản
38
4.1.3. Phương thức kinh doanh bột
40
4.1.4. Cập nhật thông tin
42
4.1.4.1. Cập nhật thông tin về TCN
42
4.1.4.2. Cập nhật thông tin về kỹ thuật sản xuất giống
42
52
4.3.1. Ảnh hưởng các yếu tố đầu vào đến tỷ lệ thành thục
52
4.3.2. Ảnh hưởng các yếu tố đầu vào đến tỷ lệ thụ tinh
55
4.3.3. Ảnh hưởng các yếu tố đầu vào đến tỷ lệ nở của trứng
56
4.4. Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến năng suất cá tra giống
60
4.5. Những thuận lợi và khó khăn của nông hộ khi sản xuất cá tra giống
63
viii
4.5.1. Thuận lợi
63
65
4.5.3.3. Thực hiện kiểm dịch trước khi bán và trong quá trình lưu thông
66
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
67
5.1. Kết luận
67
5.2. Kiến nghị
68
5.2.1. Đối với người sản xuất
68
5.2.2. Đối với các ngành, các cấp
68
5.2.3. Đối với nghiên cứu tiếp theo
69
Hình 2.2. Thuốc kích dục tố
12
Hình 2.3. Giai đoạn thu trứng
12
Hình 2.4. Thụ tinh nhân tạo
13
Hình 2.5. Trứng nước
13
Hình 4.1. Nhà cho sinh sản cá bột
37
Hình 4.2. Cá tra giống
44
Hình 4.3. Thu gom cá tra chết
46
Sơ đồ 3.1. Ảnh hưởng của yếu tố đầu vào đến chất lượng giống
Bảng 3.5. Số lượng mẫu điều tra các hộ sản xuất giống – thương phẩm
32
Bảng 3.6. Số lượng mẫu điều tra cán bộ quản lý – địa phương và người mua bán
trung gian
32
Bảng 4.1. Thông tin tổng quan về hộ sản xuất
35
Bảng 4.2. Quỹ đất và nhà xưởng phục vụ sản xuất
36
Bảng 4.3. Thông tin về cá bố mẹ cho sinh sản
38
Bảng 4.4. Nguồn gốc cá hậu bị và bố mẹ
38
Bảng 4.5. Kỹ thuật sinh sản
40
49
2
Bảng 4.14. Kết quả và hiệu quả sản xuất cá bột/năm cho ao 1000m và nhà sinh sản
100m2
50
Bảng 4.15: Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính
xii
51
Bảng 4.16. Kết quả ước lượng mô hình ảnh hưởng các yếu tố đầu vào đến tỷ lệ
thành thục
53
Bảng 4.17. Kết quả ước lượng mô hình ảnh hưởng các yếu tố đầu vào đến tỷ lệ thụ
tinh
55
Bảng 4.18. Kết quả ước lượng mô hình ảnh hưởng các yếu tố đầu vào đến tỷ lệ nở
của trứng
đặc biệt quan trọng, tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong chuỗi sản xuất (khoảng 10%
cơ cấu trong giá thành) nhưng nó ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sản lượng nuôi.
Chọn giống tốt là biện pháp loại từ đầu một trong những rủi ro trong quá trình nuôi,
là điều kiện bắt buộc để đảm bảo hiệu quả sản xuất. Do lợi nhuận kinh doanh giống
đem lại khá cao nên trong thời gian gần đây nghề làm giống cá tra ĐBSCL phát
triển nhanh chóng, tự phát dẫn đến chất lượng cá giống của các cơ sở sản xuất
xuống thấp. Do chưa nắm bắt đúng qui trình kỹ thuật sản xuất giống, chưa áp dụng
đúng theo qui định của tiêu chuẩn ngành; các cơ sở sản xuất giống vì chạy theo lợi
1
nhuận nên chỉ quan tâm đến số lượng mà bỏ quên chất lượng; mặt khác thị trường
đầu ra cá tra không ổn định, giá cả bấp bênh, công tác quản lý của cơ quan chức
năng ở các địa phương ĐBSCL trong khâu sản xuất, kiểm dịch con giống trước khi
xuất bán và đưa vào lưu thông chưa phát huy hết hiệu lực, những điều này đã ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng con giống.
Với những vấn đề tồn tại trên thì mục tiêu phát triển bền vững nghề sản xuất
cá tra giống của vùng liệu có thực hiện được không? Với mục đích nâng cao hiệu
quả sản xuất giống: i) xác định các yếu tố đầu vào cũng như mức độ ảnh hưởng của
chúng đến chất lượng con giống; ii) đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng cá tra giống, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích một số yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng cá tra giống tại đồng bằng sông Cửu Long”.
1.2. Ý nghĩa của đề tài
Sản xuất cá tra giống nhân tạo thành công là một trong những yếu tố then
chốt thúc đẩy nghề nuôi cá tra phát triển. Việc sản xuất cá tra từ khâu giống đến
nuôi thương phẩm được xem là công cụ làm giàu của một phần lớn nông dân
ĐBSCL, nó đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
vùng. Tuy nhiên, hiện nay hiệu quả mà con cá tra mang lại giảm dần theo từng năm,
nguyên nhân quan trọng nhất chính là chất lượng con giống đã xuống cấp đến mức
trọng nhất trong chuỗi sản xuất cá tra.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ đề cập tác động của chất lượng giống
đến kết quả ương giống và nuôi thương phẩm, các yếu tố khác không được phân tích
trong đề tài.
1.5.2. Giới hạn không gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ở hai tỉnh An Giang (huyện Tân Châu, Phú Tân)
và Đồng Tháp (Thành phố Cao Lãnh, Thị xã Sa Đéc và huyện Hồng Ngự), vì so với
các tỉnh khác thì hai tỉnh này được xem là cái nôi của việc sản xuất cá tra giống của
vùng ĐBSCL. Trong đó, cơ sở sản xuất cá tra bột là đối tượng điều tra chính, các
đối tượng liên quan là trại ương cá giống, hộ nuôi thương phẩm và các cán bộ quản
lý từ cấp cơ sở đến địa phương.
1.5.3. Thời gian nghiên cứu
Số liệu thu thập là vụ sản xuất năm 2008
Các số liệu được thu thập và xử lý từ tháng 5 – 2009 đến tháng 8 - 2010
3
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
ĐBSCL còn được gọi là vùng đồng bằng Nam Bộ hay miền Tây Nam Bộ,
các điểm cực của đồng bằng trên đất liền:
Điểm cực Bắc ở 1101´ (huyện Lộc Giang, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An).
Điểm cực Nam ở 8033’ (huyện Đất Mũi, Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau).
Điểm cực Đông ở 106048´ (xã Tân Điền, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền
Giang).
Chế độ thủy văn của ĐBSCL chịu sự chi phối hoàn toàn của sông Mê kông.
Sông Mê Kông bắt nguồn từ Trung Quốc, đi qua 5 nước trước khi chảy vào Việt
Nam rồi đổ ra Biển Đông. Sông Mê Kông thuộc địa phận Việt Nam được gọi là
sông Cửu Long. Từ Phnom Penh (Cam-Pu-Chia), nó chia thành 2 nhánh: bên phải
là sông Bassac (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là
Mekong (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai con sông này đều
chảy vào khu vực Đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam với chiều dài
khoảng 220 - 250 km.
- Sông Hậu chảy qua tỉnh An Giang (Châu Đốc, Long Xuyên), làm ranh giới
tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang
và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng.
- Sông Tiền có lòng sông rộng với nhiều cù lao ở giữa dòng, chảy qua các
huyện Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh (Đồng Tháp), các tỉnh Vĩnh
Long, Trà Vinh, Bến Tre.
5
Chế độ dòng chảy sông MeKong chia hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa kiệt. Ở
thượng lưu, mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc tháng 11, mùa kiệt từ tháng 12
đến tháng 5. Hàng năm, vào cuối tháng 7, nước lũ bắt đầu gây ngập ở ĐBSCL và
mức lũ đạt cao nhất vào cuối tháng 9 đầu tháng 10, sau đó hạ dần đến tháng 11 - 12.
Thời kỳ nước lũ cũng là thời kỳ có mưa lớn ở ĐBSCL, điều này làm tăng thêm mức
độ ngập, tùy nơi thời gian ngập lụt kéo dài 2 - 4 tháng. Việc vùng ĐBSCL hàng
năm bị ngập lũ gần 50% diện tích tạo nên một đặc điểm nổi bật của vùng, một mặt
làm hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt và gây nhiều khó khăn cho đời sống của
dân cư, nhưng mặt khác cũng tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt,
nuôi trồng thủy sản và bổ sung độ phì nhiêu cho đất trồng trọt.
2.1.1.4. Tài nguyên đất, nước
- Tài nguyên đất: Theo kết quả điều tra, nghiên cứu của Viện Quy Hoạch Thiết kế Nông nghiệp trên bản đồ đất tỉ lệ 1/250.000, ĐBSCL có các nhóm đất
Trong năm năm qua, GDP vùng ĐBSCL tăng bình quân khoảng 11,5%/năm.
Với một vùng kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và thủy sản thì tỷ lệ tăng này là khá
cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ trọng công nghiệp và dịch
vụ trong GDP ngày càng tăng lên. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có bước phát triển
đáng kể, đã góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung của cả nước trong những
năm vừa qua.
2.2. Một số đặc điểm sinh học của cá tra
2.2.1. Phân loại cá tra
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasianodon
Loài: Pangasianodon hypophalmus
Hình 2.1. Cá tra
7
2.2.2. Phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mekong, có mặt ở cả bốn nước Lào, Việt
Nam, Campuchia và Thái Lan. Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh
sản nhân tạo, cá bột và cá tra giống được vớt trên sông Tiền và sông Hậu. Cá trưởng
thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt Nam do cá có
tập tính di cư ngược sông Mekong để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên. Cá
ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng
năm.
2.2.3. Hình thái, sinh lý
Cá tra có đầu rộng, dẹp bằng, mõm ngắn, miệng cận dưới rộng, ngang không
co duỗi được. Có hai đôi râu, râu mép kéo dài chưa đạt tới gốc vi ngực.
Thân thon dài, phần sâu dẹp. Đường bên hoàn toàn và phân nhánh bắt đầu từ
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ, nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài
thì khó phân biệt được cá đực, cái. Ở thời kì thành thục, tuyến sinh dục của cá đực
phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào.
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 – 6 dương lịch,
cá có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện phù hợp thuộc
địa phận Campuchia và Thái Lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam. Cá
đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila
Asiatica, sau 24 giờ thì trứng nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn.
Trong sinh sản nhân tạo ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn
trong tự nhiên (từ tháng ba dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1 – 3 lần
trong một năm.
Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá cái gọi là sức sinh sản
tuyệt đối. Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ hai trăm ngàn đến vài triệu trứng. Sức
sinh sản tương đối có thể tới 135.000 trứng/kg cá cái. Kích thước của trứng cá tra
tương đối nhỏ và có tính dính.
2.3. Tổng quan về tình hình sản xuất cá tra
2.3.1. Tình hình sản xuất cá tra tại ĐBSCL
Theo đánh giá của tổ chức Nông lương thế giới, Việt Nam là một trong
những quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản nhanh nhất thế giới với
9