ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC
HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TOÁN HỌC
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 1 VÀ LỚP 2
Mã số: ĐH2011 – 04 - 15
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Trần Ngọc Bích
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCGD
Cải cách giáo dục
:
GV
:
Giáo viên
HS
:
Tư duy
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Nhận xét của GV về NNTH trong SGK môn Toán ở Tiểu học ………..28
Bảng 1.2. Đánh giá mức độ sử dụng NNTH của HS ……………………………. 31
Bảng 3.2. Kết quả thi học kỳ lớp 1A và lớp 1B …………………………............ 72
Bảng 3.2. Kết quả thi học kỳ lớp 2A và lớp 2B …………………………............ 73
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ phần trăm kết quả thực nghiệm của lớp 1A và 1B……...........72
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ phần trăm kết quả thực nghiệm của lớp 2A và lớp 2B……….73
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC
Tên đề tài: Hình thành, phát triển ngôn ngữ toán học trong dạy học
môn Toán lớp 1 và lớp 2
Mã số:
ĐH 2011-04-15
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Trần Ngọc Bích
Tel: 0904321939
pháp hình thành, phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh lớp 1, lớp 2. Cụ
thể đề tài đã đề xuất 3 nhóm biện pháp gồm 7 biện pháp giúp hình thành, phát
triển ngôn ngữ toán học trong dạy học môn Toán.
- Các kết quả nghiên cứu trình bày trong báo cáo tổng kết đề tài mà đề tài
đạt được là những kết quả nghiên cứu có tính thời sự, được trình bày logic, có
giá trị khoa học và có tính ứng dụng cao. Đề tài có thể được sử dụng để làm
tài liệu tham khảo cho giáo viên Tiểu học và sinh viên ngành Giáo dục tiểu
học trong dạy học môn Toán.
A SUMMARY OF RESEARCHING RESULTS
UNIVERSITY-LEVEL SCIENTIFIC AND TECHNOLOGICAL
RESEARCH
Research title: Building and developing the language of mathematics
in teaching Mathematics for Grade 1 and Grade 2
Reference ID:
ĐH 2011-04-15
Author: Tran Ngoc Bich, M.A.
Tel: 0904321939
Host Institution of the research paper: University of Education (under Thai
Nguyen University)
1. Goals
To form methods for building and developing the language of
Mathematics successfully in teaching mathematics for Grade 1 and Grade 2.
2. Contents
- Researching the theoretical basis of the language of Mathematics.
- The research results presented in the final report are those which are up
to date and logically presented. They are also scientifically valuable and
highly applicable. The research can be used as references for Primary teachers
and students of Primary Education in teaching mathematics.
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục là một trong những tiêu chí để đánh giá sự phát triển của một quốc
gia. Chính vì vậy, giáo dục luôn được các quốc gia quan tâm, đầu tư phát triển về
mọi mặt. Việt Nam là một trong các nước đang phát triển, ngoài sự tự vận động thì
nền giáo dục nước ta cũng đang phát triển theo quy luật chung của các nước trong
khu vực và trên thế giới. Vấn đề giáo dục đang được sự quan tâm của các cấp, các
ngành. Cụ thể, Nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, hàng loạt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng
và Nhà nước đã khẳng định vị trí, vai trò của giáo dục đối với sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời cũng đặt ra cho giáo dục những yêu cầu và
nhiệm vụ hết sức nặng nề. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững.”
Dự thảo Chiến lược Phát triển Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020 lần thứ
14 cũng đề ra mục tiêu “Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao, tiếp cận
được với chất lượng giáo dục của khu vực và quốc tế”. Trong đó mục tiêu của Giáo
dục Tiểu học là “năng lực đọc hiểu và làm toán của học sinh được nâng cao rõ rệt, tỷ
lệ học sinh đạt yêu cầu trong các đánh giá quốc gia về đọc hiểu và tính toán là 90%
vào năm 2020.” Để đạt được mục tiêu này thì việc sử dụng ngôn ngữ trong dạy học
phải được quan tâm ở bậc Tiểu học. Khi đó, HS Tiểu học không những sử dụng
Tiếng Việt một cách chính xác mà còn phải hiểu và sử dụng thành thạo ngôn ngữ
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu yếu tố NNTH trong dạy học môn Toán ở lớp 1 và lớp 2.
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CƢ́U
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến
NNTH và chương trình môn Toán ở tiểu học.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát thực trạng sử dụng NNTH trong dạy học môn Toán ở Tiểu học, quá
trình tác động thực nghiệm, …
- Điều tra GV, cán bộ quản lý trường Tiểu học qua bảng hỏi để biết thực trạng
sử dụng NNTH trong dạy học môn Toán hiện nay; đánh giá về mức độ sử dụng
NNTH của HS lớp giảng dạy; ý kiến đánh giá về kết quả của thực nghiệm sư phạm.
- Phỏng vấn GV, cán bộ quản lý trường Tiểu học để hiểu sâu sắc thực trạng sử
dụng NNTH trong dạy học môn Toán và ý kiến đánh giá quá trình tác động của thực
nghiệm sư phạm.
- Nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu phiếu học tập, vở bài tập của HS để tìm
hiểu thực trạng sử dụng NNTH trong học tập môn Toán hiện nay, sản phẩm hoạt
động của GV và HS trong quá trình thực nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả của các
biện pháp đề xuất.
- Thực nghiệm sƣ phạm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm
kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài nghiên cứu.
7.3. Phương pháp xử lý thông tin
Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu cho đề tài.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Hệ thống hóa lí luận về NNTH và đưa ra được quan niệm về NNTH, từ vựng,
cú pháp, ngữ nghĩa toán học; các vấn đề có tính thực tiễn của NNTH trong dạy học
môn Toán ở trường Tiểu học.
- Đề xuất được một số biện pháp hình thành, rèn luyện và phát triển NNTH cho
HS Tiểu học ở lớp 1, lớp 2.
đề xuất một số giải pháp hỗ trợ GV khắc phục khó khăn của HS trong học tập toán
về phương diện cú pháp và ngữ nghĩa của NNTH [61].
Charlene Leaderhouse (2007) đã nghiên cứu về NNTH và sự hiểu biết NNTH
của HS lớp 6 trong học tập hình học. Trên cơ sở đó tác giả nhận thấy khả năng hiểu,
sử dụng chính xác các thuật ngữ toán học sẽ hỗ trợ rất nhiều cho sự hiểu biết về khái
niệm toán học và trong học tập HS cần có được những cơ hội thảo luận ý tưởng,
thực hành sử dụng NNTH [40].
Diane Mille (1993) nghiên cứu về vai trò của NNTH trong phát triển các khái
niệm toán học và sự kết nối của ngôn ngữ khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai của
người học [44].
Eula Ewing Monroe và Robert Panchyshyn (1995) nghiên cứu về vấn đề
từ vựng toán học và nêu lên sự cần thiết của từ vựng toán học trong phát triển các
khái niệm toán học. Các nhà nghiên cứu đã phân chia từ vựng thành 4 loại: từ vựng
kỹ thuật (technical vocabulary), từ vựng chuyên ngành (subtechnical vocabulary), từ
vựng thông thường (general vocabulary), ký hiệu (symbolic) [46].
Theo [53] thì Sullivan .P và Clarke . D (1991), Dean.PG (1982), Torbe . M và
Shuard .H (1982) đã nghiên cứu về vấn đề giao tiếp bằng NNTH trong học tập môn
Toán của HS. Các nhà nghiên cứu đã khẳng định không có NNTH sẽ không có quá
trình giao tiếp trong lớp học toán và toán học không thể diễn ra.
Ngoài ra còn rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề NNTH và ảnh
hưởng của NNTH trong học tập môn toán của HS như Marilyn Burns (2004) [55],
Raymond Duval (2005) [60], Robert Laurence Baleer (2011) [62], Chad Larson
(2007) [39], …
1.1.2. Ở Việt Nam
Chúng tôi trình bày một số công trình nghiên cứu liên quan đến NNTH:
- Các nhà nghiên cứu Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình
(1981) khẳng định rằng “thể hiện đúng đắn mối quan hệ giữa nội dung tư tưởng toán
học và hình thức NNTH là một cơ sở phương pháp luận quan trọng của giáo dục
Trên cơ sở đó có thể hiểu Ngôn ngữ là hệ thống các từ, ngữ và các quy tắc kết
hợp chúng làm phương tiện để truyền tải thông tin giữa con người và con người.
1.2.1.2. Quan niệm về ngôn ngữ toán học
Các nhà nghiên cứu giáo dục quan niệm về NNTH như sau:
Clare Lee cho rằng, NNTH thực chất là những gì HS phải học để nói về
ý tưởng toán học của họ [41]. Raymond Duval và cộng sự quan niệm, NNTH là hệ
thống các ký hiệu, hình ảnh trực quan và cả những cử chỉ tham gia vào quá trình làm
toán [62]. Theo tác giả Hà Sĩ Hồ, NNTH là một hệ thống các thuật ngữ, ký hiệu toán
học chủ yếu ở dạng ngôn ngữ viết. Các ký hiệu này có tính chất quy ước để diễn đạt
nội dung toán học đảm bảo tính lôgic, chính xác và ngắn gọn [16].
Chúng tôi quan niệm NNTH bao gồm hệ thống các biểu tượng, ký hiệu, từ,
cụm từ và các quy tắc kết hợp chúng dùng làm phương tiện để diễn đạt nội dung
toán học một cách lôgic, chính xác, rõ ràng. Biểu tượng gồm hình ảnh, hình vẽ, sơ
đồ hoặc mô hình của đối tượng cụ thể. Ký hiệu gồm chữ số, chữ cái, ký tự
alphabetic, các phép toán và quan hệ được dùng trong toán học.
1.2.2. Chức năng của ngôn ngữ toán học
NNTH có hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ: chức năng giao tiếp và chức
năng TD.
1.2.2.1. Chức năng giao tiếp
Giao tiếp được hiểu là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác
nhằm thực hiện một mục đích nhất định [7] và theo LêNin “Ngôn ngữ là phương
tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” [dẫn theo 7].
Ngôn ngữ là một thuộc ngữ duy nhất của con người và được sử dụng làm
phương tiện đề giao tiếp, truyền đạt những suy nghĩ, ý tưởng của con người với
nhau. Haliday (1985) cho rằng ngôn ngữ giúp con người xây dựng hình ảnh tinh
thần của thực tại, trao đổi kinh nghiệm của những gì đang diễn ra xung quanh và bên
trong mỗi chúng ta [dẫn theo 64]. Còn Mercer (2000) nhận xét, ngôn ngữ là phương
tiện để con người cùng nhau suy nghĩ, cùng nhau tạo ra kiến thức và sự hiểu biết,
vốn từ trong NNTH cho HS . Chẳng hạn, phát biểu “tam giác đều là tam giác có ba
cạnh bằng nhau” có thể phát biểu theo cách khác “tam giác đều là tam giác có ba
góc bằng nhau”, “tam giác đều là tam giác cân có một góc bằng 60 độ”.
Chức năng giao tiếp của NNTH còn thể hiện rõ trong nghiên cứu toán học.
Nhờ tính quốc tế của NNTH mà các nhà khoa học trên thế giới có thể giao tiếp được
với nhau mà không có sự trở ngại về mặt không gian, thời gian và ngôn ngữ. NNTH
giúp các nhà khoa học trên thế giới có thể tranh luận, trao đổi với nhau về toán học
và cùng nhau giải quyết các vấn đề toán học.
Ngày nay, phạm vi giao tiếp của ngôn ngữ nói chung và NNTH nói riêng rất
rộng, mang tính toàn cầu. Không chỉ mở rộng về không gian mà hình thức giao tiếp
cũng ngày càng phong phú, đa dạng hơn nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật.
Con người không chỉ giao tiếp bằng miệng, bằng chữ viết thông thường như trước
đây mà còn có sự góp mặt của điện thoại, email, Sky, voice chat, ….
Như vậy, chức năng giao tiếp của NNTH đã giúp con người có thêm hiểu biết
về toán học, cùng nhau tạo ra vấn đề và giải quyết các vấn đề toán học mà không có
sự trở ngại nào về mặt ngôn ngữ, không gian, hình thức giao tiếp.
1.2.2.2. Chức năng tư duy
Ngôn ngữ chính là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để biểu đạt TD
[7]. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng [13]. Thật vậy, TD của con người
là sự phản ánh hiện thức thế giới khách quan, những gì diễn ra xung quanh mỗi
chúng ta. TD của con người chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của ngôn
ngữ. Mọi suy nghĩ, ý tưởng của con người đều được thực hiện nhờ các từ, cụm từ và
câu trong ngôn ngữ.
NNTH không nằm ngoài quỹ đạo của ngôn ngữ. Do đó NNTH là hiện thực
trực tiếp của tư tưởng toán học. Không có những ký hiệu, thuật ngữ toán học nào mà
lại không biểu hiện khái niệm hoặc tư tưởng toán học. Ngược lại, không có ý nghĩ,
tư tưởng nào lại không được thể hiện nhờ NNTH.
Mặt khác, ngôn ngữ còn là công cụ của TD. Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào
trực quan hơn.
- Việc phát triển hệ thống ký hiệu trong Giải tích có liên quan đến sự xuất hiện
của phép tính vi tích phân.
Nhà bác học Lépnit đã mô tả vai trò của các ký hiệu này như sau: cần phải
quan tâm đến việc làm cho sự thể hiện ký hiệu được tiện lợi trong các phát minh.
Việc này phần lớn đều xảy ra khi mà việc thể hiện một cách ngắn gọn cũng giống
như người ta mô tả bản chất sâu xa nhất của những đồ vật khi đó quá trình suy nghĩ
được rút ngắn một cách đáng kinh ngạc …
Các ký hiệu mà Lepnit đưa ra cho đến ngày nay vẫn không có sự thay đổi nào.
- Giai đoạn phát triển ký hiệu trong Lý thuyết tập hợp và lôgic toán.
Ký hiệu toán học có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của máy tính điện
tử. Trong hệ thống ký hiệu của máy tính điện tử, có những ký hiệu không sử dụng
ký hiệu gốc trong toán học mà sử dụng bằng cách mã hóa để phù hợp với ngôn ngữ
lập trình. Chẳng hạn, trong ngôn ngữ lập trình không có ký hiệu số mũ hay ký hiệu
căn nên nếu x2 được viết x2,
3
𝑥 viết là x(1.0/3.0).
Sự phát triển của hệ thống ký hiệu làm phong phú NNTH, giúp các ngành toán
học thông suốt với nhau. Chỉ sử dụng ký hiệu đại số và các phép toán chuyển qua
giới hạn có thể hiểu được nhiều khái niệm trong Giải tích toán học. Mỗi một chuyên
ngành toán học mới xuất hiện đều kèm theo hệ thống ký hiệu riêng của lĩnh vực đó.
1.2.4. Các bình diện nghiên cứu ngôn ngữ toán học
Chúng tôi quan tâm đến các khía cạnh nghiên cứu NNTH về từ vựng, cú pháp
và ngữ nghĩa.
1.2.4.1. Từ vựng
ký hiệu, từ, cụm từ thành câu để truyền tải nội dung toán học với độ chính xác cao.
Khi đó câu trong toán học có thể là câu được hiểu là các mệnh đề nhận giá trị đúng
hoặc sai nhưng cũng có thể là các biểu thức, công thức toán học.
Câu trong NNTH phải đảm bảo độ chính xác, rõ ràng và đơn giản. Chẳng hạn
xem xét câu “ba cộng năm bằng tám” trên phương diện ngôn ngữ Việt thì thấy xuất
hiện danh từ (ba, năm, tám), động từ (cộng), tính từ (bằng). Tuy nhiên nếu xem xét
từ góc độ toán học thì đây là một mệnh đề đúng và được chuyển thể sang các ký
hiệu toán học theo đúng cú pháp là “3 + 5 = 8”. Các cách viết khác đều là sai cú
pháp: “3 = + 5 8”, “= + 358”, “8 = + 35”, ….
Một điều lưu ý là cách viết trong NNTH thì đôi khi các ký hiệu có thể bị ẩn đi
trong các biểu thức.
Ví dụ: Thay cho việc viết 4 × y, 4.y, 4 y thì có thể viết là 4y mà người đọc
vẫn hiểu đúng. Tương tự như vậy với các biểu thức: x = 1x; x = x + 0; x = x1. Trong
số học, các số nguyên có thể coi là các số thập phân viết ẩn đi phần thập phân: 5 =
1
1
2
2
5,0 = 5, 00; hoặc các hỗn số như 3 = 3 + .
1.2.4.3. Ngữ nghĩa
Theo tác giả Nguyễn Bá Kim (1994): Nếu xem xét phương diện những cái
được ký hiệu, những cái được biểu diễn, tức là đi vào nội dung, nghĩa của những cái
ký hiệu, những cái biểu diễn thì đó là phương diện ngữ nghĩa [27].
W.Walsch cho rằng: Phương diện ngữ nghĩa của toán học là mặt xem xét nội
những thuộc tính về quan hệ số lượng, hình dạng không gian trong thế giới khách
quan mà trước đó ta chưa biết.
1.3.2. Các thao tác tư duy toán học
Các thao tác TD toán học được hiểu là các thao tác TD tiến hành trên đối tượng
toán học, quan hệ và nội dung toán học. Các thao tác TD cơ bản bao gồm: phân tích,
tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa, ... [36, tr.116 – 117].
1.3.2.1. Phân tích - tổng hợp
Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng TD thành các bộ phận,
các thành phần, những thuộc tính, những mối quan hệ để nhận thức đối tượng sâu
sắc hơn. Tổng hợp là dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được tách rời nhờ sự
phân tích thành một chỉnh thể. Phân tích và tổng hợp có quan hệ qua lại mật thiết
với nhau, tạo thành sự thống nhất không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo
phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện trên kết quả của phân tích.
1.3.2.2. So sánh
So sánh là dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất
hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau của các sự vật, hiện tượng.
Thao tác này có liên quan chặt chẽ với thao tác phân tích – tổng hợp và có vai trò
quan trọng trong việc nhận thức thế giới. K. Đ. Nhinxki đã viết “So sánh là cơ sở
của mọi hiểu biết và TD” [dẫn theo 36, tr. 116].
1.3.2.3. Trừu tượng hóa và khái quát hóa
Trừu tượng hóa là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể dùng trí óc gạt bỏ những
mặt, những thuộc tính, những bộ phận, những quan hệ, … không cần thiết về một
phương diện nào đó mà chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để TD.
Khái quát hóa là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể TD dùng trí óc để hợp nhất
nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại … trên cơ sở chúng có một số
thuộc tính chung và bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật. Muốn vạch được
những dấu hiệu bản chất phải có phân tích – tổng hợp sâu sắc sự vật, hiện tượng
định khái quát. Khái quát hóa chính là sự tổng hợp ở mức độ cao.
tác trí tuệ đã được hình thành và nhận thức được tính nhân quả thì HS Tiểu học có
thể hiểu và sử dụng chính xác các từ trừu tượng.
Mặt khác, HS Tiểu học cũng dần hình thành những suy diễn ngôn ngữ cho
phép hiểu nhiều hơn những gì được nói ra và đây cũng là một trong những đặc trưng
phát triển ngôn ngữ của lứa tuổi này. HS Tiểu học không chỉ hoàn thiện ngữ pháp và
ngữ nghĩa của ngôn ngữ nói mà phải hình thành cho HS năng lực đọc, viết thành
thạo [17].
Như vậy, thông qua hoạt động học tập, ngôn ngữ của HS Tiểu học đã phát triển
rõ rệt cả về số lượng và chất lượng. Các em đã có những thay đổi sâu sắc trong hoạt
động ngôn ngữ và nhận thức của mình. Các em đã chuyển từ trình độ ngôn ngữ
trong phạm vi sinh hoạt hàng ngày sang các cơ sở của ngôn ngữ khoa học trong học
tập, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá các kênh thông tin
khác nhau.
1.5. Chƣơng trình môn Toán lớp 1 và lớp 2
1.5.1. Chương trình môn Toán Tiểu học
1.5.1.1. Mục tiêu
Chương trình Tiểu học được ban hành kèm theo quyết định số 43/2001/QĐBDG&ĐT ngày 9 tháng 11 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo [4].
Trong chương trình quy định rõ mục tiêu của môn Toán ở trường Tiểu học. Cụ thể
Môn Toán ở trường tiểu học nhằm giúp HS:
1. Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số
thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.
2. Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng
dụng thiết thực trong đời sống.
3. Góp phần bước đầu phát triển năng lực TD, khả năng suy luận hợp lí và diễn
đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi
trong cuộc sống; kých thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần
hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ
động, linh hoạt, sáng tạo.
Nội dung chủ yếu của chương trình môn Toán lớp 1, bao gồm:
*) Số học:
- Các số đến 10. Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10.
- Các số đến 100. Phép cộng và phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100.
*) Đại lượng và đo đại lượng:
- Giới thiệu đơn vị đo độ dài xăngtimet: Đọc, viết, thực hiện phép tính với các
số đo theo đơn vị đo xăngtimet. Tập đo và ước lượng độ dài.
- Giới thiệu đơn vị đo thời gian: tuần lễ, ngày trong tuần. Làm quen bước đầu
với đọc lịch (loại lịch hằng ngày), đọc giờ đúng trên đồng hồ (khi kim phút chỉ vào
số 12).
*) Yếu tố hình học:
- Nhận biết bước đầu về hình vuông, hình tam giác, hình tròn.
- Giới thiệu về điểm, điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình; đoạn thẳng.
- Thực hành vẽ đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông; gấp, ghép hình.
*) Giải bài toán:
- Giới thiệu bài toán có lời văn.
- Giải các bài toán đơn bằng một phép cộng hoặc một phép trừ, chủ yếu là các
bài toán thêm, bớt một số đơn vị.
1.5.2.2. Chương trình môn Toán lớp 2
a) Mục tiêu
Dạy học môn Toán 2 nhằm giúp học sinh:
- Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về: phép cộng,
phép trừ có nhớ trong phạm vi 100; phép nhân, phép chia và bảng nhân 2,3,4,5, bảng
chia 2,3,4,5; tên gọi và mối quan hệ giữa thành phần và kết quả của từng phép tính;
về mối quan hệ giữa phép cộng, phép trừ, phép cộng và phép nhân,…; các số đến
1000, phép cộng và phép trừ các số có ba chữ số (không nhớ); các phần bằng nhau
của đơn vị dạng
1 1 1 1
, , , ; các đơn vị đo độ dài đề-xi-mét (dm), mét(m), giờ và