hình thành và phát triển ngôn ngữ hóa học ở lớp 8 cho học sinh dân tộc các trường trung học cơ sở tỉnh sơn la - Pdf 23

PHẦN I : MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong xu thế hội nhập toàn diện của đất nước, nền giáo dục của nước
nhà phải là một trong những mũi nhọn tiên phong, trong đó đổi mới giáo dục
là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục đào tạo trong
giai đoạn hiện nay. Để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học có hiệu quả
cao cần trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản vững chắc. Trên cơ
sở đó học sinh biết vận dụng sáng tạo kiến thức giải quyết các vấn đề học tập
và thực tiễn cuộc sống.
Mục tiêu của giáo dục THCS là cung cấp cho học sinh một hệ thống
kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học. Ngôn ngữ hóa
học là một thành phần rất quan trọng trong quá trình dạy học và nghiên cứu
hóa học. Việc hiểu, nắm bắt và vận dụng tốt ngôn ngữ hóa học có tính chất
quyết định đến chất lượng lĩnh hội kiến thức hóa học của học sinh. Như vậy
giúp các em hiểu rõ ngôn ngữ hóa học cơ bản nhằm xây dựng cho các em nền
tảng phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho các em
tiếp tục học lên các cấp bậc học cao hơn, đi vào cuộc sống lao động, giao tiếp
xã hội.
Môn hoá học là một môn học rất mới mẻ đối với học sinh lớp 8 trung
học cơ sở, nên việc hiểu, nắm bắt và vận dụng tốt ngôn ngữ hóa học đối với
đa số học sinh còn nhiều hạn chế và thụ động, đặc biệt là đối với học sinh
người dân tộc việc nghe và hiểu tiếng Việt đã khó. Hiểu và vận dụng ngôn
ngữ hóa học càng khó khăn hơn đối với các em. Từ đó gây tâm lý ngại học
môn hoá học, dẫn đến kết quả học tập không cao. Do đó việc nghiên cứu, đề
xuất những biện pháp dạy học theo hướng tích cực nhằm phát triển năng lực
nhận thức, nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói chung, học sinh dân
1
tộc nói riêng, với môn hoá học nói chung và vấn đề về dạy ngôn ngữ hoá học
nói riêng là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
Chính vì những lí do trên tôi đã chọn đề tài: “ Hình thành và phát
triển ngôn ngữ hóa học ở lớp 8 cho học sinh dân tộc các trường Trung học

học, PP nhận thức hóa học trong khoa học và trong dạy học - Vị trí, chức
năng của NNHH trong hệ thống các phương tiện dạy học - Những cơ sở lý
luận của sự hình thành NNHH - Nội dung kiến thức và kỹ năng NNHH
trường trung học - những giai đoạn cơ bản của quá trình hình thành NNHH
trong DHHH - Những điều kiện để lĩnh hội nội dung và sử dụng ngôn ngữ
hóa học.
“Ngôn ngữ hóa học” là cách gọi ngắn gọn của “ngôn ngữ của khoa học
hóa học”, bao gồm: thuật ngữ hóa học, danh pháp và biểu tượng hóa học,
trong đó thuật ngữ hóa học là thành phần cơ sở của NNHH. Ngôn ngữ hóa
học thực hiện các chức năng nhận thức hóa học trong hệ thống các phương
tiện nhận thức và phương tiện dạy học hóa học.
- Một số luận án Tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khóa luận của sinh viên đã
nghiên cứu vấn đề này như :
+) Luận án Tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Chiên : “Rèn luyện kỹ năng sử
dụng ngôn ngữ hoá học (về thuật ngữ hoá học) cho sinh viên miền núi
trong trường sư phạm các tỉnh phía Bắc” bảo vệ năm 2005 tại trường Đại
học Sư phạm Hà Nội.
+) Luận án Thạc sĩ của tác giả Huỳnh Thiên Lương “Hình thành những
khái niệm hóa học cơ bản cho học sinh người dân tộc Khmer ở trường
Trung học cơ sở tỉnh Trà Vinh” bảo vệ năm 2007 tại trường Đại học Sư
phạm, Hà Nội.
3
+) Luận án Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Mai: “Rèn luyện kỹ
năng sử dụng ngôn ngữ hoá học cho học sinh lớp 11 trung học phổ thông
ở tỉnh Đăk Nông” bảo vệ năm 2010 tại trường Đại học Sư phạm Huế.
Tuy nhiên việc nghiên cứu NNHH và sử dụng NNHH trong dạy học
hóa học ở trường phổ thông đặc biệt ở cấp THCS nhất là ở lớp 8, lần đầu tiên
học sinh học môn hóa học nên vấn đề rèn luyện ngôn ngữ hóa học lại càng
cần thiết và quan trọng hơn. Mặt khác đối với học sinh các tỉnh miền núi nói
chung và tỉnh Sơn La nói riêng càng cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Chính

niệm ngôn ngữ hoá học cơ bản trong chương trình Hoá học lớp 8.
Một số khái niệm hoá học cơ bản, thuật ngữ hoá học cơ bản, danh pháp
hoá học và biểu tượng hoá học trong các chương 1,2,3 SGK Hoá học lớp 8.
5. Giả thuyết khoa học.
Nếu đề xuất và có thử nghiệm một cách nghiêm túc các biện pháp dạy
học phù hợp với đặc điểm học sinh người dân tộc, sẽ giúp các em nắm vững
ngôn ngữ hóa học cơ bản, từ đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
môn hoá học ở các trường THCS tỉnh Sơn la.
6. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết.
+ Phương pháp phân loại, hệ thống hoá lí thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, trò chuyện, phỏng vấn,
thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục.
7. Những đóng góp của đề tài.
5
Nghiên cứu, đề xuất cách sử dụng phối hợp các biện pháp dạy học theo
hướng tích cực nhằm hình thành ngôn ngữ hóa học cho học sinh trường
THCS ở tỉnh Sơn La nói chung, cho học sinh dân tộc nói riêng.
8. Cấu trúc của luận văn
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề hình thành và phát triển ngôn
ngữ hóa học ở THCS.
Chương 2: Một số biện pháp hình thành và phát triển ngôn ngữ hóa học cơ
bản trong chương trình hóa học lớp 8 THCS.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Kết luận chung và kiến nghị.
6

ngữ cố định lại các kết quả của tư duy và nhờ đó làm khách quan hóa chúng
cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy.
Ngôn ngữ được chia thành ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nhân tạo.
Ngôn ngữ tự nhiên - hệ thống thông tin ký hiệu âm thanh đặc biệt và chữ viết
- được hình thành trong lịch sử xã hội, biểu thị các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội. Ngôn ngữ nhân tạo là hệ thống ký hiệu hỗ trợ được tạo ra bằng
cách riêng trên cơ sở của ngôn ngữ tự nhiên nhằm chuyển giao chính xác và
kinh tế các thông tin khoa học và thông tin khác. Ngôn ngữ nhân tạo được sử
dụng rộng rãi trong khoa học và kỹ thuật hiện đại như toán học, hóa học, vật
lý lý thuyết, kỹ thuật tính toán, máy tính điện tử.
Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người, là thành tố
quan trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc tâm lý người đặc biệt là quá trình
nhận thức.
1.1.2. Ngôn ngữ làm cho các quá trình của nhận thức cảm tính ở người
mang một chất lượng mới [13].
Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn
đầu tiên của quá trình nhận thức. Nó được thể hiện dưới ba hình thức là
cảm giác, tri giác, biểu tượng.
Cảm giác là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốc
mọi sự hiểu biết của con người. Cảm giác là sự phản ánh từng mặt, từng thuộc
tính bên ngoài của sự vật vào các giác quan con người, là kết quả của sự tác
động vật chất của sự vật vào các giác quan con người, là sự chuyển hóa năng
lượng kích thích bên ngoài thành yếu tố của ý thức. Cảm giác, theo Lênin, là
8
hình ảnh của thế giới khách quan.
Ngôn ngữ ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng nhạy cảm của cảm giác, làm
cho cảm giác được thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn.
Tri giác là sự tổng hợp nhiều cảm giác, nó đem lại hình ảnh hoàn chỉnh
hơn về sự vật. Tri giác nảy sinh trên cơ sở các cảm giác, là sự kết hợp các cảm
giác. So với cảm giác, tri giác là hình thức cao hơn của nhận thức cảm tính,

tưởng tượng trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tích cực, có kết
quả và chất lượng cao.
Ngôn ngữ cũng có ảnh hưởng quan trọng đối với trí nhớ của con
người. Nó tham gia tích cực vào các quá trình trí nhớ, gắn chặt với các quá
trình đó. Việc ghi nhớ sẽ dễ dàng và có kết quả tốt hơn nếu ta nói lên thành
lời điều cần ghi nhớ. Không có ngôn ngữ thì không thể thực hiện sự ghi
nhớ có chủ định, sự ghi nhớ có ý nghĩa và kể cả sự ghi nhớ máy móc (học
thuộc lòng)… ngôn ngữ là một phương tiện để ghi nhớ, là một hình thức để
lưu giữ những kết quả cần nhớ. Nhờ ngôn ngữ con người có thể chuyển hẳn
những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc con người. Chính bằng cách
này con người lưu giữ và truyền đạt được kinh nghiệm của loài người cho
thế hệ sau.
1.1.3. Vai trò của ngôn ngữ là không thể thiếu trong nhận thức lý tính.
Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn tiếp
theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó xảy ra trên cơ sở nhận
thức cảm tính. Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người sẽ
rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà hiểu được những
cái như: tốc độ ánh sáng, giá trị hàng hóa, quan hệ giai cấp,… Muốn hiểu
10
được những cái đó phải nhờ đến sức mạnh của tư duy trừu tượng.
Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực
khách quan. Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, được biểu đạt thành ngôn
ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy. Tư duy có tính năng động sáng
tạo, nó có thể phản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong
của sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn. Muốn tư duy, con người phải sử dụng
các PP như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa,…
Nhận thức lý tính, hay tư duy trừu tượng, được thể hiện ở các hình thức như
khái niệm, phán đoán, suy lý.
Khái niệm là một hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những mối
liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của một tập hợp các sự vật, các hiện

những cái chưa biết một cách gián tiếp. Có thể nói, toàn bộ các khoa học được
xây dựng trên hệ thống suy lý và nhờ suy lý mà con người ngày càng nhận
thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiện thực khách quan.
Ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với tư duy con người. Ngôn ngữ và tư duy
không có mối quan hệ song song. Ngôn ngữ không phải là tư duy và ngược
lại tư duy cũng không phải là ngôn ngữ. Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ
với tư duy là ở chỗ tư duy dùng ngôn ngữ làm phương tiện, công cụ của tư
duy, chính nhờ điều này tư duy của con người khác về chất so với tư duy con
vật: con người có tư duy trừu tượng. Không có ngôn ngữ thì con người không
thể tư duy trừu tượng và khái quát được. Mối quan hệ không tách rời của tư
duy và ngôn ngữ được thể hiện trong ý nghĩa của các từ. Mỗi từ điều có quan
hệ với một lớp sự vật, hiện tượng nhất định và gọi tên sự vật, hiện tượng đó.
Khi gọi tên các sự vật, từ tựa như thay thế chúng và nhờ đó tạo ra những điều
kiện vật chất cho những hành động hay thao tác đặc biệt đối với các vật ấy kể
12
cả khi vật ấy vắng mặt (tức là thao tác với các vật thay thế, với ký hiệu từ ngữ
hay là với ngôn ngữ). Tuy nhiên, từ không chỉ gọi tên sự vật, nhờ vậy, tư duy
ngôn ngữ trừu tượng hóa được những thuộc tính, những bản chất của sự vật
và khái quát hóa được những thuộc tính bản chất của nó. Không có ngôn ngữ
thì không thể có tư duy khái quát - logic được.
Lời nói bên trong là công cụ quan trọng của tư duy, nhất là khi phải
giải quyết các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Nếu nhiệm vụ quá phức tạp thì
ngôn ngữ bên trong chuyển thành lời nói bên ngoài. Người ta nói to lên thì
thấy tư duy rõ ràng và thuận lợi hơn. Nhưng điều đó chứng tỏ không có ngôn
ngữ, đặc biệt không có lời nói bên trong thì ý nghĩ, tư tưởng không hình thành
được, tức không thể tư duy trừu tượng được.
1.2. Khái niệm ngôn ngữ hóa học.
1.2.1. Ngôn ngữ hóa học là một phương tiện nhận thức trong khoa học và
dạy học.
Mỗi khoa học đều diễn đạt những kết quả nhận thức bằng ngôn ngữ

quá trình hóa học, chỉ ra mối liên hệ giữa mặt định tính và định lượng của
chúng. Nhờ các biểu tượng mà ngôn ngữ hóa học có thể diễn đạt những nội
dung tri thức phong phú một cách ngắn gọn, chính xác, thể hiện mức độ khái
quát cao trong việc phản ánh một cách tổng quát những khái niệm cơ bản,
những kiến thức đặc trưng của hóa học.
1.2.2. Ngôn ngữ hóa học là một phương tiện tích cực để nhận thức hóa
học.
Những kết quả được mô tả bằng ngôn ngữ hóa học đều thể hiện những
14
nội dung quan trọng, cơ bản của khoa học hóa học và mối quan hệ giữa
chúng.
Thay vì phải dùng nhiều ngôn từ miêu tả các sự vật, hiện tượng, quá
trình hóa học, diễn biến các phản ứng hóa học,… ngôn ngữ hóa học biểu thị
chúng một cách ngắn gọn dưới dạng những công thức, ký hiệu, phương trình,
sơ đồ, phản ánh nhiều mối quan hệ khác nhau giữa các đối tượng của hóa học
bằng những ký hiệu.
Trong ngôn ngữ hóa học, đặc biệt là các biểu tượng có thể phản ánh
cùng một lúc kết quả của tri thức và con đường để nhận thức các tri thức đó.
Ngôn ngữ hóa học còn sử dụng các ký hiệu của nó với ngôn ngữ của
khoa học khác: ký hiệu toán học, logic học, các đại lượng vật lý, các thuật
ngữ, khái niệm khoa học nói chung… tạo điều kiện thuận lợi cho sự mô tả các
đối tượng hóa học và các quy luật giữa chúng.
1.2.3. Các chức năng và nhiệm vụ nhận thức của ngôn ngữ hoá học.
1.2.3.1. Chức năng nhận thức của ngôn ngữ hoá học.
Những đặc trưng của ngôn ngữ hoá học cùng với sự định hướng có
tính chất phương pháp luận của nó cho phép ngôn ngữ hoá học thực hiện
được nhiều chức năng khác nhau trong nhận thức hóa học:
Cung cấp những thông tin về các chất và hiện tượng hóa học bằng các
từ ngữ và những dấu hiệu quy ước biểu thị các kết quả của nhận thức hóa học,
hình thành các khái niệm cơ bản về hóa học, cụ thể hóa các đại lượng trừu

1.2.5. Vai trò của ngôn ngữ hoá học trong trong chương trình hoá học phổ
thông[23].
16
Ngôn ngữ hoá học cần phản ánh ba mặt sau :
Ngữ nghĩa của từ : Thiết lập mối quan hệ giữa kí hiệu và đối tượng hoá
học mà chúng biểu thị.
Về mặt ngữ pháp : Các kiến thức về qui tắc, cách viết, sự phát âm các
kí hiệu, công thức, phương trình, thuật ngữ và tên gọi hoá học.
Về mặt thực tiễn : Trang bị phương pháp, cách thức trình bày kiến thức
hoá học bằng ngôn ngữ hoá học và đảm bảo sự giao tiếp bằng ngôn ngữ ở các
dạng giao dịch (đọc, viết, nghe, nói )
1.2.5.1. Ngôn ngữ hoá học làm tối ưu hóa quá trình lĩnh hội môn hóa học,
phát triển tư duy. Vai trò của ngôn ngữ hoá học trong nhiệm vụ giáo dục tư
tưởng đạo đức học sinh.
Ngôn ngữ hoá học được sử dụng trong toàn bộ các giai đoạn của quá
trình dạy học môn hóa học với các chức năng đa dạng. Với sự hỗ trợ của ngôn
ngữ hoá học, nội dung hóa học nhà trường được truyền đạt và lĩnh hội, hình
thành những khái niệm hóa học, những phương pháp nhận thức đặc trưng của
bộ môn, hình thành mối liên hệ nội môn và liên môn, phát triển tư duy của
học sinh và hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh.
Ngôn ngữ hoá học tham gia vào tri thức kinh nghiệm, vào sự khái quát
hóa và hệ thống hóa các kết quả của khoa học hóa học, có vai trò to lớn trong
phương pháp nhận thức hóa học. Để khái quát các tri thức lý thuyết, các biểu
tượng, các ký hiệu như: sơ đồ liên kết của phân tử các chất, hệ thống tuần
hoàn các nguyên tố hóa học, những ghi chép về tính chất chung, những công
thức chung của các hợp chất, các ion, các phương trình phản ứng hóa học,…
được sử dụng rộng rãi.
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và vận dụng chúng trong những
tình huống khác nhau là tiêu chuẩn không chỉ của việc nắm vững kiến thức
17

học tập và lao động, tính chính xác, yêu khoa học,…
Những điều trình bày trên đây cho phép kết luận: Ngôn ngữ hoá học là
một trong những phương tiện quan trọng nhất trong dạy học hoá học, tham
gia tích cực vào việc trang bị kiến thức, giáo dục tư tưởng và phát triển những
năng lực nhận thức cho học sinh.
1.2.5.2. Ngôn ngữ hoá học làm tối ưu hóa quá trình lĩnh hội môn hóa học,
phát triển tư duy. Vai trò của ngôn ngữ hoá học trong nhiệm vụ giáo dục tư
tưởng đạo đức học sinh.
Ngôn ngữ hoá học được sử dụng trong toàn bộ các giai đoạn của quá
trình dạy học môn hóa học với các chức năng đa dạng. Với sự hỗ trợ của ngôn
ngữ hoá học, nội dung hóa học nhà trường được truyền đạt và lĩnh hội, hình
thành những khái niệm hóa học, những phương pháp nhận thức đặc trưng của
bộ môn, hình thành mối liên hệ nội môn và liên môn, phát triển tư duy của
học sinh và hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh.
Ngôn ngữ hoá học tham gia vào tri thức kinh nghiệm, vào sự khái quát
hóa và hệ thống hóa các kết quả của khoa học hóa học, có vai trò to lớn trong
phương pháp nhận thức hóa học. Để khái quát các tri thức lý thuyết, các biểu
tượng, các ký hiệu như: sơ đồ liên kết của phân tử các chất, hệ thống tuần
hoàn các nguyên tố hóa học, những ghi chép về tính chất chung, những công
thức chung của các hợp chất, các ion, các phương trình phản ứng hóa học,…
được sử dụng rộng rãi.
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và vận dụng chúng trong những
tình huống khác nhau là tiêu chuẩn không chỉ của việc nắm vững kiến thức
hóa học mà còn là tiêu chuẩn của sự phát triển tư duy học sinh. Tất cả các kỹ
19
năng hoạt động với ngôn ngữ hoá học đều liên quan đến hoạt động trí tuệ. Sự
so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, mã hóa bằng các ký hiệu, mô hình
hóa,… đều thuộc về các trình độ nắm vững ngôn ngữ hoá học.
Các kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ hoá học cho phép thực hiện các hoạt
động nhận thức một cách có hiệu quả: tìm hiểu tính chất các chất, các khuynh

* Nguyên tắc 1: Kế thừa và phát triển.
Kiến thức hóa học ở trường THCS là một hệ thống các kiến thức và
ngôn ngữ hóa học cơ bản liên quan chặt chẽ với nhau để phát triển. Vì vậy
cần quán triệt nguyên tắc kế thừa và phát triển trong việc hình thành một ngôn
ngữ hóa học.
Để hình thành một ngôn ngữ hóa học mới, trước tiên cần dựa và yêu
cầu của chương trình, rồi xét xem ngôn ngữ hóa học mới này dựa trên những
kiến thức nào, khái niệm cơ bản nào đã học, tiến hành ôn tập kỹ các kiến thức,
các khái niệm đó mà hình thành ngôn ngữ hóa học mới cho học sinh.
Theo nguyên tắc này, các khái niệm có thể phát triển theo 3 con đường
cơ bản sau đây:
a. Hình thành ngôn ngữ hóa học.
Đây là giai đoạn hình thành biểu tượng đầu tiên các ngôn ngữ hóa học.
Nhằm giúp học sinh nắm được các ngôn ngữ hóa học, giáo viên cần thực hiện
thông qua các thao tác tư duy sau:
- Phân tích, tổng hợp và so sánh các đối tượng, các khái niệm đã biết.
- Khái quát hóa và trừu tượng hóa.
- Suy lý quy nạp (phép quy nạp).
- Suy lý diễn dịch (phép diễn dịch).
- Loại suy (suy lý tương tự).
21
b. Phát triển ngôn ngữ hóa học.
Theo 3 con đường cơ bản sau đây:
b.1. Đào sâu bản chất của ngôn ngữ hóa học, tăng nội dung, tăng cường
độ bằng cách tìm ra quy luật mới ở bên trong của ngôn ngữ hoặc có thể biến
đổi mối liên hệ giữa các thành tố của ngôn ngữ .
b.2. Mở rộng ngôn ngữ hóa học bằng cách tăng ngoại diên.
b.3. Có sự phát triển kế thừa các lý thuyết
c. Liên kết (hoàn thiện) các khái niệm.
Đây là bước nhằm hoàn thiện các khái niệm, đặt khái niệm đó nằm

người học. Vì vậy phương pháp dạy học tích cực thực chất là các PPDH
hướng tới việc giúp HS học tập chủ động, tích cực, sáng tạo chống lại thói
quen học tập thụ động.
Phương pháp dạy học tích cực chú trọng đến hoạt động học, vai trò của
người học trong quá trình dạy học theo các quan điểm, tiếp cận mới về hoạt
động về dạy hoc như:” Lấy người học là trung tâm”; “Hoạt động hoá người
học”; “Kiến tạo theo mô hình tương tác”
1.3.2. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực.
- Những PPDH có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở
thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết.
- Những PPDH có chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, PP và thói quen
tự học từ đó mà tạo cho HS sự hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập,
khởi động lòng ham muốn vốn có trong mỗi HS để giúp họ dễ dàng thích ứng
với cuộc sống của xã hội phát triển, XH tri thức.
- Những PPDH chú trọng đến việc tăng cường học tập cá thể, phối hợp
với học tập hợp tác theo nhóm, lớp học.
23
- Những PPDH có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương tiện trực
quan, nhất là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn như: máy vi tính, các phần
mềm dạy học đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo năng lực
và nhu cầu của mỗi HS, giúp các em tiếp cận được với các phương tiện kĩ
thuật hiện đại trong xã hội phát triển.
- Những PPDH có sử dụng các PP kiểm tra đánh giá đa dạng khách quan,
tạo điều kiện để HS được tham gia tích cực vào hoạt động tự đánh giá và đánh
giá lẫn nhau.
1.3.3. Một số phương pháp dạy học hoá học theo hướng dạy học tích cực.
1.3.3.1. Phương pháp vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơrixtic).
Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến - kể cả tranh luận giữa GV với cả lớp,
giữa trò với trò, thông qua đó mà HS nắm được tri thức mới.
Trong vấn đáp tìm tòi, hệ thống câu hỏi do GV đặt ra giữ vai trò chỉ đạo,

3. Kết luận.
a. Thảo luận kết quả và đánh giá.
b. Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu.
c. Phát biểu kết luận.
d. Đề xuất vấn đề mới.
Khâu quan trọng của PPDH này là tạo tình huống có vấn đề, điều chưa biết
là yếu tố trung tâm gây ra sự hứng thú nhận thức, kích thích tư duy, tính tự
giác tích cực trong hoạt động nhận thức của HS. Trong dạy học hoá học GV
có thể sử dụng thí nghiệm hoá học, bài tập nêu vấn đề để tạo tình huống có
vấn đề.
Như vậy trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề GV đưa HS vào các tình
huống có vấn đề rồi giúp HS tự lực giải quyết vấn đề đặt ra. Bằng cách đó HS
25

Trích đoạn PHÁO HOA TỪ MIỆNG ỐNG NGHIỆM MƯA AXIT LÀ GÌ? VÌ SAO VÔI SỐNG CHO VÀO NƯỚC LẠI PHÁT NÓNG?
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status