Một số tiềm năng hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Hà Nội - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,
trong tiến trình hội nhập sâu và rộng với thế giới bên ngoài. Hà Nội là thủ đô
của cả nước, là đô thị lớn cũng đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa diễn ra mạnh mẽ. Trong quá trình đó, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và
nông thôn cũng được chuyển dịch từ trọng tâm là sản xuất lương thực, thực
phẩm sang sản xuất thực phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, chất lượng cao,
an toàn và bảo vệ môi trường và tạo cảnh quan, phát triển theo hướng nông
nghiệp đô thị sinh thái.
Trong những năm qua Đảng và Chính phủ đã quan tâm đặc biệt đến Thủ đô
Hà Nội. Nghị quyết 15 NQ/TW của Bộ Chính trị, Pháp lệnh thủ đô Hà Nội đã
đặt ra nhiệm vụ xây dựng Thủ đô, trong đó yêu cầu Hà Nội đi đầu trong quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Thành uỷ, HĐND, UBND đã chỉ đạo nghiên cứu ban hành các chương
trình, kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn như: Chương trình 06/CTr-
TU, chương trình 12/CTr-TU...
Trong bối cảnh đó việc đánh giá, nhận thức đúng vai trò, tác dụng của các
tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói
riêng là rất quan trọng và cần thiết đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp,
đặc biệt là kinh tế trang trại, vì kinh tế trang trại là hình thức sản xuất nông
nghiệp hướng tới sản xuất hàng hoá, là hình thức sản xuất chủ đạo của một
nền nông nghiệp hiện đại mà Đảng và nhà nước đã và đang hướng tới. Chính
vì lý do đó mà em chọn đề tài: “Một số tiềm năng hình thành và phát triển
kinh tế trang trại ở Hà Nội”.
Để có thể có được đề án như hôm nay ngoài sự tìm tòi tra cứu tài liệu tham
khảo cùng kiến thức bản thân tích luỹ được trong quá trình học tập tại khoa
Kinh tế NN&PTNT, em còn được sự tư vấn, hướng dẫn và gợi ý tận tình của
cô Minh, giảng viên của khoa. Mặc dù vậy, bài viết đề án của em vẫn còn
nhiều hạn chế và khiếm khuyết. Em mong được sự chỉ bảo của các thầy cô để
cho bài viết hoàn chỉnh hơn cũng như em có thể hoàn thiện hơn trong việc

hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối
lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động
tự chủ và luôn gắn với thị trường.”
*Đặc trưng của kinh tế trang trại là những khác biệt giữa kinh tế trang trại
so với các hình thức kinh tế khác trong nông-lâm-ngư nghiệp:
Mục đích của kinh tế trang trại là sản xuất nông phẩm theo nhu cầu của
thị trường. Mục đích của hộ nông dân là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính
họ về các loại nông sản. Quy mô của trang trại có sự khác biệt so với các hộ
sản xuất tự cấp, tự túc của hộ nông dân, nó có quy mô tương đối lớn, và trình
độ sản xuất hàng hoá cao. Sản xuất hàng hoá là điểm khác biệt cơ bản của
kinh tế trang trại so với các hình thức sản xuất nông nghiệp trước đây và cũng
là nhân tố quyết định các đặc trưng khác của kinh tế trang trại.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tư liệu sản xuất trong trại trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng
của một người chủ. Nói chung trong trại trại, các tư liệu thuộc quyền sở hữu
của người chủ trang trại, những tư liệu đi thuê, mượn không thuộc quyền sở
hữu thì người chủ trang trại lại được quyền sử dụng trong thời gian thuê
mượn.
Trong trang trại, các yếu tố sản xuất, trước hết là ruộng đất, tiền vốn
được tập trung trước hết cho yêu cầu phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá yêu cầu các yếu tố sản xuất được tập trung tới một mức độ
nhất định thì mới có thể thoát khỏi tự túc, tự cấp. Tuy nhiên, tuỳ theo phương
hướng sản xuất và điều kiện cụ thể của từng vùng mà mức độ tập trung các
yếu tố sản xuất cũng khác nhau.
Trang trại có cách thức tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất tiến bộ dựa
trên cơ sở sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hoá, thâm canh, ứng dụng
tiến bộ kỹ thuật, từng bước thực hiện kế hoạch và ngày càng gắn với thị
trường. Việc thâm canh, chuyên môn hoá càng được các trang ftrại coi trọng
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đồng thời các hoạt động của

Nghị quyết 10 khoán sản phẩm đến hộ và nhóm hộ xã viên; diện thích
giao khoán cho hộ ổn định đến 15 năm; mức khoán ổn định 5 năm và chỉ sửa
đổi mức khoán khi điều kiện vật chất-kỹ thuật đã thay đổi; phần sản phẩm
vượt khoán thuộc về hộ nông dân, hộ nông dân có toàn quyền sử dụng hoặc
bán nơi nào có lợi.
*Hội nghị BCH Trung ương lần 6 (khóa VI) tháng 3-1989 đã chính thức
xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ.
*Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương lần 5 (khóa VII) ghi rõ: “Nhà nước
khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, tư nhân trong nông, lâm, ngư
nghiệp...”.
*Tháng 7-1993, luật đất đai mới được ban hành thay thế luật đất đai năm
1988:
Ruộng đất được giao cho hộ nông dân sử dụng ổn định, lâu dài. Người
sử dụng đất có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và
thế chấp quyền sử dụng đất trong thời hạn được giao. Việc này đã tạo điều
kiện cơ bản để kinh tế hộ chuyển sang một bước phát triển mới.
*Tháng 11-1998, hội nghị Bộ Chính trị về nông nghiệp, nông thôn đã đề ra
chủ trương khuyến khích các cá nhân, các hộ nông dân phát triển trang trại kể
cả trang trại tư nhân có quy mô lớn.
*Ngày 2-2-2000, Chính phủ ra nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang
trại nêu rõ:
Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông
nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và
nâng cao hiệu quả khu vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.
Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai,
vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nông nghiệp bền
vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói
giảm nghèo, phân bố lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới.
Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành trang trại gắn liền
với quá trình phân công lại lao động trong nông thôn, từng bước chuyển lao

đủ các điều kiện nguồn lực sản xuất của trang trại, hạn chế tối đa những rủi do
có thể xáy ra: biến động thị trường, thiên tai, dịch bệnh…
Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất: Để trang trại phát
triển theo hướng sản xuất hàng hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất đòi hỏi phải
không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất. Đồng thời
đây cũng là điều kiện cần thiết để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh có
hiệu quả.
Hợp tác và cạnh tranh: Trong quá trình sản xuất kinh doanh các trang trại
cũng phải hợp tác với các trang trại khác, các đơn vị sản xuất kinh doanh khác
để cùng nhau giải quyết vấn đề mà một trang trại thì không thể làm được hoặc
giả quyết kém hiệu quả. Đồng thời các trang trại cũng phải cạnh tranh với các
trang trại kinh doanh cùng ngành nghề, cùng lĩnh vực sản xuất với mình để
đảm bảo hàng hóa của mình sản xuất ra có thể tiêu thụ hết, muốn vậy phải
không ngừng nâng cao năng suất,chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất.
4.Một số nhân tố hình thành và phát triển kinh tế trang trại:
a.Các tiềm năng về điều kiện tự nhiên:
*Vị trí địa lý:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hà Nội nằm giữa trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, giáp với Thái Nguyên ở
phía Bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía đông và đông nam, giáp Vĩnh Phúc ở
phía tây, Hà Tây ở phía nam.
Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp bởi các
dòng sông với các bãi bồi đại, bãi bồi cao và các bậc thềm. Xen giữa các bãi
bồi đại và các bãi bồi cao còn có các vùng trũng với các hồ, đầm (dấu vết của
các lòng sông cổ) .
Phần lớn diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông
Hồng với độ cao trung bình từ 15m đến 20m so với mặt biển.
Còn lại chỉ có khu vực đồi núi ở phía bắc và phía tây bắc của huyện Sóc
Sơn thuộc rìa phía nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20m đến hơn

bên tả, hữu ngạn. Độ cao mặt đê tại Hà Nội là 14 m so với mặt nước biển.
Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong
sản xuất. Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn, trung bình 100 triệu tấn/năm.
Phù sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vùng châu thổ. Nguồn cá bột của sông Hồng đã cung cấp cá giống đáng kể
cho nghề nuôi cá nước ngọt ở đồng bằng Bắc Bộ.
b.Các tiềm năng về kinh tế- xã hội:
Có nhiều tiềm năng thúc đẩy việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại
như: đất đai, vốn, nguồn nhân lực, hệ thống cơ chế chính sách, hệ thống cơ sở
hạ tầng, khoa học-kỹ thuật…nhưng ở đây em chỉ xem xét một số tiềm năng
dưới đây:
*Tiềm năng đất đai:
Đất đai là nguồn lực quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc hình
thành và phát triển của kinh tế trang trại. Mục đích chủ yếu của trang trại là
sản xuất hàng hóa, trang trại hoạt động sản xuất tập trung với quy mô ruộng
đất và các yếu tố khác là tương đối lớn vì vậy đối với trang trại đất đai có vai
trò hết sức quan trọng. Vai trò của chúng được thể hiện trên các mặt:
-Đất đai hoạt động với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt
tham gia vào quá trình sản xuất, nhất là các sản phẩm của ngành trồng trọt.
Nó không chỉ quyết định quy mô của trang trại như thế nào mà còn quyết định
trang trại kinh doanh loại sản phẩm nào, chất lượng ra sao. Các trang trại chăn
nuôi tuy cần ít diện tích đất đai hơn nhưng cũng cần có diện tích quy hoạch
bãi chăn thả, trồng trọt để làm thức ăn cho gia súc.
-Đất đai còn là chỗ dựa, địa điểm tổ chức xây dựng các công trình phục
vụ sản xuất nông nghiệp, hoặc các công trình phục vụ cho quá trình hậu sản
xuất nông nghiệp như làm xưởng chế biến, nhà kho…
Đất đai có một số đặc điểm cơ bản sau:
-Đất đai là sản phẩm của tự nhiên đồng thời là sản phẩm của xã hội:

Khái niệm về vốn của trang trại:
-Vốn sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền giá trị của tất cả các yếu
tố sản xuất được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh trang trại. Vốn
là yếu tố xuất hiện đầu tiên và các yếu tố khác trên cơ sở đó mới xuất hiện
được và quá trình sản xuất kinh doanh mới có thể thực hiện được. Trong quá
trình sản xuất kinh doanh vốn được vận động theo quá trình lưu thông và
quay trở lại quá trình sản xuất tiếp theo. Do đó về phương diện tài, quản lý
vốn trong sản xuất kinh doanh thực chất là quá trình quản lý tiền vốn sao cho
nó mang lại hiệu quả và hiệu xuất sinh lời cao nhất.
-Vốn của trang trại có thể tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau, trong
đó hình thái dễ nhận biết nhất của vốn là tiền mặt được sử dụng làm tiền vốn
trong kinh doanh. Tuy nhiên, phần lớn vốn của trang trại tồn tại dưới các hình
thái hiện vật. Đó là giá trị của các tư liệu sản xuất sử dụng trong sản xuất kinh
doanh của trang trại như: bất động sản, nhà xưởng, giá trị các sản phẩm đang
trong quá trình sản xuất dở dang. Ngoài ra vốn còn có thể là các sản phẩm sau
khi thu hoạch đang trong quá trình dự trữ, bảo quản hoặc sản phẩm đang
trong quá trình tiêu thụ.
Những đặc điểm của vốn:
-Trong sự cấu thàn vốn cố định, ngoài những tư liệu lao động có nguồn
gốc kỹ thuật còn có cả những tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học như cây
lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản. Trên cơ sở tính quy luật sinh học,
các tư liệu lao động này thay đổi giá trị sử dụng của mình khác với các tư liệu
lao động có nguồn gốc kỹ thuật.
-Sự tác động của vốn sản xuất vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh
doanh không phải bằng cách trực tiếp mà thông qua đất, cây trồng, vật nuôi.
Cơ cấu và chất lường của vốn sản xuất phải phù hợp với yêu cầu từng loại đất
đai, từng đối tượng sản xuất là sinh vật.
-Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp, một mặt làm cho
sự tuần hoàn và luân chuyển vốn chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn cố
định, tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kế trong thời gian tương đối dài của

-Về chất lượng, nhuông lao động trong trang trại cũng được hiểu theo
nhiều khía cạnh. Ở khía cạnh cá nhân, chất lượng nguồn lao động thể hiện ở
phẩm chất, sức khỏe, kỹ năng… của người lao động. Ở khía cạnh tập thể, chất
lượng nguồn lao động thể hiện ở trình độ hợp tác lao động, sự hợp tác của các
cá nhân với toàn tập thể trong quá trình lao động đạt hiệu quả cao.
Lao động trong trang trại gắn chặt với đất đai, điều kiện tự nhiên và cây
trồng vật nuôi, công cụ lao động… vì vậy lao động trong trang trại cũng có
những đặc điểm nhất định:
-Trình độ, kỹ năng, nhận thức của người lao động trong trang trại nói
chung là còn thấp. Đặc biết đối với những trang trại ở trung du, miền núi,
vùng đồng bằng xa trung tâm. Lao động thuê ngoài chủ yếu là lao động thủ
công, thậm chí nhiều chủ trang trại cũng có trình độ văn hóa và kiến thức kỹ
thuật rất thấp.
-Địa điểm lao động của người lao động trong các trang trại thường phân
tán do sản xuất nông nghiệp có địa bàn không gian rộng, thậm chí nhiều trang
trại còn có những khu đất cách xa nhau.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Ở nước ta hiện nay, trang trại gia đình chiếm tỷ trọng lớn, vì vậy trang
trại vẫn sử dụng lao động gia đình là chính ngoài ra còn thuê thêm nột số lao
động thường xuyên hoặc thời vụ, những người được thuê mướn chủ yếu là
người địa phương có quen biết hoặc có quan hệ họ hàng với chủ trang trại, do
đó đây không phải là mối quan hệ chủ thợ và bị chi phối nhiều bởi tình cảm
cá nhân.
*Tiềm năng về cơ chế chính sách:
Có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về cơ chế chính sách: “chính
sách là một hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháo và quản lý được thể
chế hóa bằng pháp luật của nhà nước để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội
của đất nước”. Ở đây, chính sách nông nghiệp nông thôn được hiểu là tổng
thể các biện pháp kinh tế và nhung biện pháp khác của nhà nước tác động đến

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy, chính sách kinh tế nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan
trọng, là yếu tố bao trùm có tác động mạnh mẽ và đảm bảo sự thành công của
các chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và kinh tế xã hội nói
chung.
Sản xuất nông nghiệp nói chung và trang trại nói riêng được tiến hành
trên một không gian rộng lớn, phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên, do
đó các đặc điểm của chính sách phát triển trang trại cũng chịu sự chi phối của
các đặc điểm nông nghiệp, nông thôn:
-Các chính sách đối với trang trại thường mang tính hỗ trợ là chủ yếu.
Bởi vì sản xuất trang trại nói riêng, sản xuất nông nghiệp nói chung có điền
kiện sản xuất khó khăn hơn các ngành, lĩnh vực khác. Hơn nữa, sản xuất nông
nghiệp vừa tạo ra các sản phẩm hữu hình vừa tạo ra các sản phẩm vô hình là
những sản phẩm chưa được sự bù đắp chi phí của xã hội hoặc sự bù đắp chi
phí chưa thỏa đáng.
-Các chính sách nông nghiệp, nông thôn có tính vùng, tính khu vực rõ
rệt. Điều này đòi hỏi trong phát triển kinh tế trang trại ở các vùng khác nhau
phải có những chính sách hỗ trợ tương úng.
-Đôi khi một chính sách nông nghiệp có cả tính kinh tế và tính phi kinh
tế. Bởi vì nông thôn có cả những vấn đề kinh tế và xã hội đan xen, hòa quyện
vào với nhau, trong đó những vấn đề xã hội rất bức xúc và cớ nhiều điểm đặc
thù.
-Tổ chức triển khai văn bản chính sách phụ thuộc vào các đặc điểm tâm
lý, tập quán của người nông dân, của nguồn lao động trong nông thôn. Người
nông dân do tập quán canh tác đã tạo ra tâm lý thực dụng, vì vậy các chính
sách tác động phải có những biện pháp tổ chức thích hợp thì mới mang lại
hiệu quả như mong muốn.
*Tiềm năng về khoa học công nghệ:
Khoa học công nghệ là tập hợp từ bao gồm 2 phạm trù khoa học khác

Nông nghiệp, nông thôn là ngành sản xuất vật chất đa dạng và phức
tạp do đối tượng sản xuất là những cơ thể sống, lại đa dạng về chủng loại với
chu kỳ sản xuất và các đặc tính kinh tế-kỹ thuật không giống nhau.
-Khoa học và công nghệ nông nghiệp, nông thôn có tính vùng và tính địa
phương:
Nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
nên có tính vùng rõ nét. Do đó không thể có một quy trình công nghệ chung
cho tất cả các vùng. Hơn nũa việc đổi mới khoa học công nghệ cũng chịu ảnh
hưởng của tập quán sản xuất và sinh sống của mỗi dân tộc, mỗi địa phương
khác nhau đòi hỏi khoa học công nghệ cũng phải phù hợp.
-Đối tượng áp dụng khoa học và công nghệ nông nghiệp, nông thôn là
nông dân, bộ phận dân cử có thu nhập thấp:
Trong bất cứ thời điểm phát triển nào thì nông dân vẫn là bộ phận dân
cư có thu nhập thấp trong xã hội. Hơn nữa ngành nông nghiệp là ngành có tỉ
suất lợi nhuận thấp, rủi ro cao hơn so với các ngành kinh tế khác. Do đó, việc
áp dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất còn nhiều khó khăn và bất
cập.
- Tính đa dạng của các loại hình công nghệ trong nông nghiệp:
Xét mối quan hệ tiến bộ khoa học- công nghệ, có hai loại hình công
nghệ. Một loại gọi là công nghệ thâm canh nhằm nâng cao năng suất sinh vật
và năng suất kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích. Loại thứ hai gọi là công nghệ
cơ giới hoá và tự động hoá, chủ yếu nhằm nâng cao hiệu suất công việc tiết
kiệm thời gian lao động trong mỗi khâu công việc, giảm bớt hao phí lao động
sống. Lựa chọn sự kết hợp hai loại công nghệ nói trên như thế nào là tuỳ
thuộc mỗi giai đoạn phát triển của ngành nông nghiệp ở từng vùng khác nhau
để đáp ứng nhu cầu xã hội; nhu cầu rút bớt lao động nông nghiệp để phát triển
các ngành dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn; vấn đề giải quyết
việc làm và thu nhập…
*Tiềm năng về công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông thôn:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị. Đồng thời phát
triển các vùng đô thị hiện có theo chiều sâu.
-Đô thị hóa là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống
đô thị của các nhóm dân cư. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác
động đến đô thị hóa cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong điều kiện mới
mà biểu hiện tập trung là sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động.
-Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá
trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách
sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…). Thực chất đó là tăng
trưởng đô thị theo xu hướng bền vững.
-Đô thị hóa ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của
Thành phố do kết quả phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng, tạo ra các cụm
đô thị, liên đô thị… góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Điều kiện tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì
đô thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Những yếu tố tự nhiên
như địa hình, tính chất thổ nhưỡng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đô
thị hoá. Nếu trong điều kiện của 2-3 thập kỷ trước, Hà Nội khó có thể có
những khu đô thị cao tầng mọc lên trong điều kiện thổ nhưỡng của Hà Nội.
-Trình độ phát triển kinh tế, điều kiện xã hội: Sự phát triển của lực lượng
sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là tiền đề cho đô thị
hóa. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong khu vực nông nghiệp của nền
kinh tế sẽ tạo ra quá trình đô thị hóa nông thôn.
-Văn hóa dân tộc: Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và
nền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội…
nói chung và hình thái đô thị nói riêng.
Một số tiêu chí cơ bản đánh giá trình độ đô thị hóa:
-Các chỉ tiêu định lượng: Các chỉ tiêu đô thị/1 người: Diện tích cây xanh,

Theo số liệu tổng hợp của Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội, đến năm
2005, Hà Nội có 401 trang trại (kể cả một số xã nay đã trở thành phường của
2 quận mới Long Biên, Hoàng Mai). Trong số đó có 104 trang trại trồng trọt
(chiếm 25,93%), 127 trang trại thuỷ sản (chiếm 34,67%), 158 trang trại chăn
nuôi (chiếm 39,40%), 12 trang trại sản xuất dịch vụ khác (chiếm 2,99%).
2.Thực trạng các tiềm năng của kinh tế trang trại ở Hà Nội:
a.Thực trạng tiềm năng đất đai của trang trại:
Ngoại thành Hà Nội có quy đất nông nghiệp hạn hẹp và ngày càng bị thu
hẹp do tác động của đô thị hoá. Vì vậy, đất đai không được coi là thế mạnh
của phát triển kinh tế trang trại ở Hà Nội. Qua điều tra khảo sát, thực trạng đất
đai được xem xét trên các khía cạnh sau :
-Quy mô đất đai của trang trại: Bình quân chung các trang trại điều tra, mỗi
trang trại có 35.792,9 m2 đất tự nhiên, trong đó, đất thổ cư 14,78%, đất canh
tác 40,38%, đất chăn nuôi 1,93%, diện tích mặt nước 41,34% và đất kinh
doanh tổng hợp 11,64%. Tuy nhiên, quy mô diện tích bình quân của trang trại
ở các huyện và theo phương hướng kinh doanh khác nhau cũng chênh lệch
nhau, tuy không lớn.
-Xét theo huyện: Sóc Sơn là huyện có diện tích bình quân 1 trang trại lớn
nhất. Bình quân diện tích của trang trại Sóc Sơn là 41.551,6 m2, trong khi ở
các huyện khác bình quân diện tích đất của trang trại đạt khoảng 35.000m2.
-Xét theo phương hướng kinh doanh: Nhóm trang trại có hướng sản xuất,
kinh doanh chính là trồng trọt có tỉ trọng đất nông nghiệp là chủ yếu. Ngược
lại, nhóm trang trại lâm nghiệp thì tỉ trọng đất lâm nghiệp cao, được thể hiện
qua bảng 1.
-Nguồn gốc đất đai của trang trại: Nguồn gốc các loại đất để phát triển
trang trại rất đa dạng: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp do Nhà nước giao, cho
thuê theo quy định hiện hành; đất công nhân viên, hộ nông dân nhận khoán,
thầu của lâm trường hay thuê của tư nhân, đất chuyển đổi, chuyển nhượng.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status