1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam phát triển theo xu
hướng mở cửa và hội nhập quốc tế, tỷ giá hối đoái đóng vai trò ngày càng
quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế đối ngoại, có những ảnh
hưởng đến các vấn đề kinh tế - xã hội của Việt Nam. Một trong những tác
động rõ nhất đó là tác động đến xuất nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng đến cán cân
thương mại, cán cân thanh toán của Việt Nam. Vì vậy, chính sách tỷ giá hối
đoái luôn là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ trong việc điều hành kinh
tế vĩ mô. Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu việc
hiểu và vận dụng tốt tỷ giá hối đoái sẽ giúp cho họ có được những phản ứng
kịp thời trước những biến động của tỷ giá, làm giảm các rủi ro trong kinh
doanh.
Với những kiến thức đã được học và thực tiễn, tôi quyết định chọn đề
tài: “Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại ở Việt Nam”.
Trong luận văn này không chỉ nghiên cứu những vẫn đề lý luận về tác động
của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại, mà còn phân tích thực tế tác động
của tỷ giá lên cán cân thương mại của Việt Nam qua các thời kỳ và dựa vào số
liệu thu thập được trong giai đoạn (1996-2007) để phân tích định lượng mối
quan hệ giữa tỷ giá và cân cân thương mại.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và bài học kinh nghiệm về chính sách
tỷ giá ở một số nước, luận văn phân tích tình hình thực hiện chính sách tỷ giá
2
hối đoái và cán cân thương mại ở Việt Nam thời gian qua, từ đó có những
cán cân thương mại
Chương II: Thực trạng tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại ở Việt
Nam trong thời gian qua
Chương III: Một số định hướng và giải pháp về chính sách tỷ giá hối
đoái trong thời gian tới.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Viện Đào tạo Sau đại học, Khoa
Kinh tế học, Bộ môn Kinh tế vĩ mô trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS. TS.
Nguyễn Văn Công đã hướng dẫn rất tận tình và tỉ mỉ trong suốt thời gian tôi
viết luận văn này!
4
Chương 1
Những vấn đề lý luận về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán
cân thương mại
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Tỷ giá hối đoái
1.1.1.1. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế
Trước hết, chúng ta cần phân biệt tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá
hối đoái thực tế.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (ER)
Nhìn chung, các nhà kinh tế thống nhất định nghĩa tỉ giá hối đoái là tỉ lệ
trao đổi giữa tiền của hai quốc gia. Chẳng hạn, Christopher Pass và Bryan
Lowes trong cuốn Distionary of Economics cho rằng: “Tỷ giá hối đoái là giá
của một loại tiền tệ được biểu hiện qua giá một tiền tệ khác.” hay Paul
Samuelson trong cuốn Kinh tế học đã viết: “Tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi
hai, yết giá gián tiếp, có nghĩa là giá một đồng nội tệ bằng bao nhiêu đồng
ngoại tệ, với hình thức yết giá này thì sự tăng lên của tỷ giá có nghĩa là đồng
nội tệ lên giá. Trong luận văn này, chúng ta ngầm định sử dụng cách yết giá
thứ nhất: tỷ giá hối đoái được tính bằng số đơn vị nội tệ đổi lấy một đơn vị
ngoại tệ và ký hiệu là ER.
Tỷ giá hối đoái thực tế (RER)
Tỷ giá hối đoái thực tế là giá tương đối của hàng hoá và dịch vụ được
trao đổi giữa hai nước. Nói cách khác, tỷ giá hối đoái thực tế cho chúng ta
biết tỷ lệ mà dựa vào đó hàng hoá một nước được trao đổi với hàng hoá của
nước khác. Tỷ giá hối đoái thực tế đôi khi còn được gọi là tỷ lệ trao đổi. Như
vậy khi một nước có giao thương với các nước trên thế giới (có xuất, nhập
khẩu hàng hoá) thì ngoài việc chịu tác dụng của tỷ giá hối đoái danh nghĩa
còn chịu tác động bởi tỷ giá hối đoái thực tế, có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh
6
nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát tương đối giữa trong nước và nước
ngoài. Ví dụ: giá bán 1 áo sơ mi tại Mỹ là 50đôla, chiếc áo sơ mi tương tự của
Việt Nam giá là 450.000 đồng. Để so sánh được chúng ta chuyển về đồng Việt
Nam theo tỷ giá là 18.000 đồng/đôla, áo sơ mi Mỹ có giá là 900.000 đồng,
đem so sánh ta nhận thấy 1 áo sơ mi Mỹ bằng 2 áo sơ Việt Nam..
Vì các nhà kinh tế vĩ mô quan tâm đến nền kinh tế với tư cách một tổng
thể, nên họ chú ý tới mức giá chung, chứ không xem xét từng loại giá riêng
biệt. Do vậy, thay vì dùng giá áo sơ mi để tính tỷ giá hối đoái thực tế, các nhà
kinh tế vĩ mô sử dụng chỉ số giá của mỗi nước. Công thức tính tỷ giá hối đoái
thực tế cho một quốc gia như sau:
RER
ER.P *
bản tệ được chuyển đổi với nhiều đồng tiền khác. Ví dụ, đồng Việt Nam
(VND) có thể được chuyển đổi với yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), đô la
Mỹ (USD) v.v… Khi nghiên cứu những thay đổi trong tỷ giá, các nhà kinh tế
thường sử dụng các chỉ số mang thông tin trung bình về các tỷ giá này. Cũng
giống như chỉ số giá tiêu dùng chuyển nhiều loại giá trong nền kinh tế về một
loại giá, một chỉ số tỷ giá hối đoái chuyển các tỷ giá hối đoái khác nhau thành
một thước đo duy nhất về giá trị quốc tế của đồng bản tệ. Trong hầu hết các
trường hợp, tỷ giá bình quân được hiểu là số bình quân gia quyền của hầu hết
các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi tỷ
trọng của mỗi loại ngoại tệ trong kim ngạch ngoại thương của nước đó.
EER = ERi x Wi
(1-2)
REER = RERi x Wi
(1-3)
Trong đó EER và REER là tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế bình
quân tương ứng; ERi và RERi là tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế song
phương với nước i và Wi là tỷ trọng thương mại của nước i trong tổng giá trị
thương mai của nước đang xét.
1.1.1.3. Tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn
Ngoài ra, trong giao dịch tỷ giá hối đoái danh nghĩa còn có phân thành
tỷ giá giao ngay (Spot rate) và tỷ giá kỳ hạn (forward rate). Tỷ giá giao ngay
được áp dụng khi giao dịch ngoại hối được thực hiện ngay lập tức. Ngoài ra,
8
Chúng ta cần phân biệt PPP tuyệt đối và PPP tương đối. Theo lý thuyết
PPP tuyệt đối, tỷ giá hối đoái sẽ điều chỉnh để đảm bảo cho giá cả như nhau ở
mọi nước trên thế giới. Do đó, đồng nội tệ sẽ giảm giá so với ngoại tệ khi mức
giá trong nước tăng lên so với mức giá ở nước ngoài. Tuy nhiên, giả thiết này
không bao giờ hoàn hảo do có tồn tại những rào cản tự nhiên và nhân tạo đối
với thương mại quốc tế như chi phí vận tải và bảo hiểm quốc tế, thông tin
không hoàn hảo và các chính sách bảo hộ như thuế quan và hạn ngạch. Khi
đó, theo lý thuyết PPP tương đối, tỷ giá hối đoái sẽ điều chỉnh theo chênh lệch
lạm phát giữa trong nước và ở nước ngoài.
%ΔER = - *
(1-4)
trong đó:
%ΔER là phần trăm thay đổi của tỷ giá hối đoái.
là tỷ lệ lạm phát trong nước.
* là tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài.
Lý thuyết ngang bằng sức mua là một mô hình đơn giản nhất cho biết
tỷ giá hối đoái danh nghĩa được xác định như thế nào. Lý thuyết này giải thích
tốt nhiều hiện tượng kinh tế. Đặc biệt, nó giải thích các xu hướng dài hạn như
sự xuống giá của đô la so với Euro và sự lên giá của đô la so với đồng yên.
Đồng thời, lý thuyết này có thể giải thích được những thay đổi lớn trong tỷ
giá hối đoái danh nghĩa xảy ra khi có lạm phát cao.
Thế nhưng, lý thuyết ngang bằng sức mua không hoàn toàn chính xác.
Nghĩa là, tỷ giá hối đoái không luôn thay đổi để đảm bảo rằng 1 đô la luôn có
giá trị thực tế như nhau ở tất cả các nước trong mọi thời gian. Để những biến
động của tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn, chúng ta cần sử dụng các lý thuyết
khác.
Theo cách tiếp cận cán cân thanh toán tỷ giá hối đoái được quyết định
bởi các giao dịch quốc tế giữa một nước và thế giới bên ngoài. Do đó, tỷ giá
mại hoặc các mối quan hệ khác với một quốc gia nào đó đều phải thiết lập
11
mối quan hệ giữa đồng tiền của nước mình với đồng tiền của nước đó. Từ đó
hình thành nên chính sách tỷ giá hối đoái. Chính sách tỷ giá hối đoái là một
công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng. Theo Luật Ngân hàng hàng Nhà nước Việt
Nam, chính sách tỷ giá là một bộ phận quan trọng của chính sách tiền tệ quốc
gia nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần phát triển
kinh tế xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ dùng để tác
động vào cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối
đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối
đoái tập trung vào hai vấn đề lớn: i) Lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái (cơ chế
vận động của tỷ giá hối đoái); ii) Điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Chính sách tỷ giá
hối đoái là một chính sách lớn của hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô.
Là một công cụ điều tiết vĩ mô, chính sách tỷ giá hối đoái hướng tới các
mục tiêu chung là đảm bảo ổn định kinh tế trong ngắn hạn và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
đang nổi lên thành một xu thế tất yếu của các quan hệ quốc tế hiện đại, chính
sách tỷ giá hối đoái ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh
các quan hệ kinh tế đối ngoại.
1.1.2. Cán cân thương mại
Cán cân thương mại của một nước chính là chênh lệch giữa kim ngạch
xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu về hàng hóa và dịch vụ. Việc bán gạo ra
nước ngoài làm cho cán cân thương mại của Việt Nam tăng lên, trong khi việc
mua máy bay Boing làm cho cán cân thương mại của Việt Nam giảm xuống.
Cán cân thương mại cho biết về tổng thể một nước là người mua ròng hay bán
ròng trên thị trường hàng hoá và dịch vụ thế giới. Nếu cán cân thương mại
hướng tăng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới bùng nổ do ký được nhiều hợp
đồng ngoại hơn với giá cao hơn. Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu của một
quốc gia có xu hướng giảm trong bối cảnh nền kinh tế thế giới lâm vào suy
13
thoái do khó ký được hợp đồng ngoại hơn và giá cả trên thị trường thế giới
nhìn chung thấp hơn.
+ Nhập khẩu lại phụ thuộc vào GDP trong nước. Nhập khẩu của một
nước có xu hướng tăng khi kinh tế trong nước tăng trưởng mạnh và giảm
trong bối cảnh suy giảm kinh tế.
+ Cả xuất khẩu và nhập khẩu đều phụ thuộc vào giá cả tương đối của
hàng nội so với hàng ngoại được biết đến với tên gọi là tỷ giá hối đoái thực tế.
Đồng nội tệ lên giá thực tế có nghĩa là giá hàng nội tăng một cách tương đối
so với giá hàng ngoại. Khi đó, xuất khẩu có xu hướng giảm và nhập khẩu có
xu hướng tăng. Trong mục 1.1.2 chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu tác động của
nhân tố này.
+ Vì chính phủ thường đưa ra các chính sách nhằm ảnh hưởng đến
thương mại quốc tế, do vậy chúng ta cần đánh giá đúng mức ảnh hưởng của
các chính sách này, chẳng hạn như chính sách thuế và trợ cấp xuất khẩu cũng
như các biện pháp kiểm soát trực tiếp (như hạn ngạch).
Do tất cả các biến số này thay đổi theo thời gian, nên cán cân thương
mại cũng thường xuyên thay đổi. Trong mục 1.2 chúng ta sẽ đi sâu phân tích
tác động của sự thay đổi tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại của một quốc
gia.
1.2. Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại
Các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm đến ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá
hối đoái đến cán cân thương mại. Câu hỏi trung tâm trong nhiều cuộc tranh
luận chính sách là liệu phá giá một đồng tiền có giúp cải thiện cán cân thương
cân tài khoản vãng lai chuyển từ cân bằng sang thâm hụt.
15
Thặng dư
cán cân
thương mại
0
Thời gian
gian
Thâm hụt
Hình 1.1: Đường hình chữ J về ảnh hưởng của phá giá đến cán cân
thương mại
Trong thực tế, người ta thấy rằng các hệ số co dãn này thường nhỏ
trong ngắn hạn, nhưng sẽ tăng dần theo thời gian. Điều này hàm ý ảnh hưởng
của phá giá đến cán cân vãng lai có thể được biểu diễn bằng đường hình chữ
J. Trong ngắn hạn, cán cân tài khoản vãng lai thường xấu đi do khối lượng
nhập khẩu và xuất khẩu chưa kịp thay đổi, nhưng khi chúng đã điều chỉnh phù
hợp với điều kiện mới, cán cân vãng lai sẽ được cải thiện. Những nguyên
nhân chính làm cho phản ứng của khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu diễn ra
chậm chạp là:
+ Sự chậm trễ trong phản ứng của người tiêu dùng. Cần phải có thời
gian để người tiêu dùng ở cả nước phá giá lẫn thế giới bên ngoài điều chỉnh
hành vi mua hàng trước môi trường cạnh tranh đã thay đổi. Chuyển từ tiêu
dùng các hàng nhập khẩu sang các hàng sản xuất trong nước nhất định cần
lên cùng với phá giá. Nhiều hàng nhập khẩu được sử dụng làm đầu vào của
các ngành công nghiệp xuất khẩu. Công nhân có thể cũng đòi hỏi tăng lương
để bù đắp sự gia tăng giá cả nhập khẩu. Điều này phần nào làm tăng giá cả
xuất khẩu và do đó làm giảm lợi thế cạnh tranh của phá giá tiền tệ.
17
+ Một lập luận khá phổ biến cho rằng phá giá thường có hiệu quả hơn ở
các nước phát triển so với các nước đang phát triển. Nhiều nước đang phát
triển phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu và do đó hệ số co dãn của cầu nhập
khẩu theo giá dường như rất thấp. Trong khi đó, các nước phát triển thường
phải đối phó với cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu và do đó hệ số
co dãn của cầu về xuất khẩu theo giá có thể rất cao. Do vậy, điều kiện
Marshall-Lerner chỉ ra rằng phá giá có thể chỉ cải thiện cán cân thanh toán
của một số nước chứ không phải tất cả các nước.
1.2.3.2. Cách tiếp cận chi tiêu
Một nhược điểm cơ bản của cách tiếp cận hệ số co dãn là dựa trên giả
thiết rằng các biến số khác không đổi. Tuy nhiên, sự thay đổi trong khối lượng
xuất nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân. Do vậy, để có được sự
đánh giá toàn diện hơn về tác động của tỷ gia hối đoái đến cán cân vãng lai
nói riêng và nền kinh tế nói chung, chúng ta cần tính đến hiệu ứng thu nhập.
Cách tiếp cận chi tiêu xuất phát từ đồng nhất thức xác định thu nhập
quốc dân:
Y=C+I+G+X-M
(1-5)
trong đó:
C là tiêu dùng;
Ảnh hưởng của phá giá đến chi tiêu trong nước bao gồm hai mặt. Một
mặt, phá giá ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu trong nước, ký hiệu là Ad. Mặt
khác, phá giá ảnh hưởng gián tiếp đến chi tiêu trong nước thông qua sự thay
đổi của thu nhập thực tế theo xu hướng chi tiêu cận biên a. Do vậy, sự thay
đổi của tổng chi tiêu trong nước dA có thể được xác định bởi phương trình
sau:
dA = adY + dAd.
(1-8)
Thay vào phương trình trên ta có
dCA = (1-a)dY - dAd
(1-9)
Phương trình này chỉ ra có ba nhân tố cần phải khảo sát khi xem xét
ảnh hưởng của phá giá. Phá giá có thể ảnh hưởng đến cán cân vãng lai thông
qua sự thay đổi của xu hướng chi tiêu cận biên (a); thu nhập trong nước (dY);
và chi tiêu trực tiếp (dAd). Điều kiện để đảm bảo phá giá cải thiện được cán
cân vãng lai là:
19
(1-a)dY > dAd
(1-10)
Nghĩa là, sự thay đổi trong thu nhập không sử dụng để tăng chi tiêu
trong nước cần phải lớn hơn sự thay đổi chi tiêu do tác động trực tiếp của phá
chi tiêu cận biên. Trường hợp thứ nhất: Nếu a nhỏ hơn 1, sự gia tăng thu nhập
do cán cân thương mại tăng dẫn đến sự cải thiện cán cân vãng lai. Trường
hợp thứ hai: Nếu a lớn hơn 1, thu nhập tăng làm chi tiêu trong nước tăng
nhiều hơn và cán cân vãng lai sẽ bị xấu đi. Tất nhiên, khi nền kinh tế đang ở
trạng thái toàn dụng nhân công, phá giá không thể làm tăng thu nhập. Trong
trường hợp này, để phá giá cải thiện được cán cân vãng lai, cần phải giảm chi
tiêu trực tiếp.
Ảnh hưởng của phá giá đến chi tiêu trực tiếp
Trong phần này, để đơn giản cho việc phân tích, chúng ta sẽ giả thiết
ảnh hưởng ròng của phá giá đến thu nhập bằng không. Chúng ta sẽ chỉ xem
xét ảnh hưởng của phá giá đến chi tiêu trực tiếp. Cán cân vãng lai sẽ được cải
thiện nếu phá giá làm giảm chi tiêu trực tiếp, ngược lại cán cân vãng lai sẽ
xấu đi nếu phá giá làm tăng chi tiêu trực tiếp. Chúng ta sẽ xem xét những khả
năng mà phá giá có thể tác động đến chi tiêu trực tiếp.
(i) Hiệu ứng cán cân thực tế: Với cung ứng tiền tệ cho trước, giả sử
các tác nhân kinh tế có xu hướng duy trì một khối lượng tiền thực tế nhất
định, phá giá sẽ làm tăng mức giá chung và buộc các tác nhân kinh tế phải
giảm chi tiêu để duy trì lượng tiền thực tế. Để tăng lượng tiền thực tế, họ sẽ
bán trái phiếu, giá trái phiếu sẽ giảm và lãi suất sẽ tăng. Điều này làm giảm
tiêu dùng và đầu tư, và do đó làm giảm tổng chi tiêu.
(ii)
Hiệu ứng phân phối lại: Mức giá tăng lên do phá giá có thể có
một số ảnh hưởng đến phân phối thu nhập. Thu nhập có xu hướng được phân
phối lại từ những người lao động có tiền lương chậm điều chỉnh sang các chủ
doanh nghiệp có thu nhập có thể tăng theo lạm phát. Điều này có xu hướng
21
22
chẳng hạn phá giá tiền tệ có thể có hiệu quả tốt trong bối cảnh các nước phát
triển, nhưng lại phản tác dụng trong điều kiện các nền kinh tế đang phát triển
do những nét đặc thù sau:
Vì đa số các nước đang phát triển (LDC) chỉ xuất khẩu các sản
phẩm thô và nhập khẩu các sản phẩm chế biến, và dường như khả năng thay
thế giữa các sản phẩm xuất khẩu, nhập khẩu và không thể thương mại được
rất thấp. Do đó việc hạn chế nhu cầu trong nước dường như ít có thể giải
phóng được nguồn lực nhằm tăng sản lượng phục vụ cho xuất khẩu như ở các
nước công nghiệp nơi mà các sản phẩm xuất khẩu cũng tương tự như các sản
phẩm tiêu dùng trong nước. Do đó các nước đang phát triển rất khó định
hướng lại sản xuất hiện tại hướng về xuất khẩu và họ cần phải dịch chuyển
các nguồn lực từ khu vực không thể thương mại được sang khu vực sản xuất
hàng thương mại mà điều này lại cần thời gian.
Giá xuất khẩu và nhập khẩu thường cố định theo ngoại tệ. Do đó
phá giá chỉ có thể tăng thu nhập xuất khẩu tính bằng ngoại tệ thông qua sự gia
tăng cung ứng. Hệ số co dãn của cung thường nhỏ trong ngắn hạn đặc biệt
trong khu vực sản xuất các sản phẩm thô.
Các nhà cơ cấu lập luận rằng phá giá tiền tệ có hai hiệu ứng: dịch
chuyển chi tiêu và giảm chi tiêu. Trong điều kiện của các nước đang phát triển
hiệu ứng giảm chi tiêu thường quan trọng hơn hiệu ứng thay thế chi tiêu.
Trước hết, nếu ban đầu thâm hụt thương mại lớn phá giá trong khi có
thể cải thiện được cán cân thương mại tính theo ngoại tệ, song lại làm giảm
tổng cầu do làm cho cán cân thương mại tính theo đồng nội tệ xấu đi. Trong
trường hợp này phá giá sẽ có ảnh hưởng thu hẹp bất chấp điều kiện MarshallLerner được thoả mãn.
Hai là, một số người cho rằng phá giá có thể có ảnh hưởng quan trọng
đến phân phối lại. Phá giá có thể làm tăng thu nhập của các nhà tư bản (bằng
24
Hai là, nếu tiền lương trong nước được chỉ số hoá theo giá tiêu dùng,
thì tiền lương thực tế tính bằng số sản phẩm trong nước sẽ tăng.
Ba là, sự tăng giá trong nước do phá giá sẽ làm giảm cung tiền thực tế
và do đó làm tăng lãi suất. Điều này sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên.
1.1.3. Kinh nghiệm quốc tế về việc sử dụng chính sách tỷ giá hối
đoái
1.1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc trong một thời gian dài (1997 đến 7/2005) đồng nhân dân
tệ (CNY) được neo cố định với USD tại mức tỷ giá 8,28 CNY/USD. Theo
nhận xét của Hiệp hội các doanh nghiệp của Mỹ (NAM) thì đồng CNY đang
giảm đi mất 40% so với giá trị thực của nó, do đó đã tạo ra một môi trường
kinh doanh không công bằng. Theo các nhà phân tích, một minh chứng cho
thấy đồng tiền CNY đang bị Chính phủ nước này “dìm giá” chính là sự tăng
lên đột biến trong nguồn ngân sách quốc gia. Đất nước được đánh giá là khá
thành công trong lĩnh vực xuất khẩu này đã trở thành “miếng nam châm” thu
hút lượng lớn ngoại tệ (Bảng 1.1). Các chuyên gia công nghiệp Hoa Kỳ nói
rằng sở dĩ có được điều này là vì các nhà sản xuất Trung Quốc có lợi thế về
đồng tiền, được duy trì trong một chế độ hối đoái rẻ theo kiểu nhân tạo so với
USD, như vậy giúp làm cho giá các mặt hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn. Trước
tình hình này, Mỹ và các đối tác thương mại lớn khác của Trung Quốc đã gây
sức ép để đồng nhân dân tệ tăng giá. Cuối cùng Trung Quốc đã phải điều
chỉnh tỷ giá vào năm 2005.
25
Bảng 1.1: Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ của Trung
7,9734
217.746
1.066.340
2007
7,6075
315.318
1.528.250
Nguồn: Chính sách tỷ giá VND nhằm cải thiện cán cân thương mại
trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nguyễn Văn Tiến, Tạp chí
Ngân hàng.
Từ 7/2005, NHTW Trung Quốc đã công bố thay đổi chế độ tỷ giá. Tỷ
giá sẽ được xác định dựa trên một rổ ngoại tệ (Basket) nhưng các thành phần
và tỷ trọng các đồng tiền không được công bố. Đồng thời với việc neo tỷ giá
theo một rổ tiền tệ, NHTW Trung Quốc cho phép biên độ dao động hàng ngày
của các tỷ giá song phương là 0,3%. Ngày 9/8/2005, đã công bố 11 đồng tiền
trong rổ2, trong đó các đồng tiền chính là đôla Mỹ, Euro, Yên Nhật và đồng
Won Hàn Quốc và các đồng Bảng Anh, Ruble Nga… Tuy nhiên, thực tế của
tỷ giá đa phương danh nghĩa CNY đã dao động với biên độ 2%/ năm (B Band) và mức độ thay đổi theo ngày là 0,06% (C - Crawl).
Điều này cho thấy, chế độ tỷ giá của Trung Quốc là một dạng của chế
độ tỷ giá BBC (Basket, Band and Crawl Regime) - là chế độ tỷ giá dựa vào rổ
tiền tệ với biên độ dao động rộng được điều chỉnh định kì). So với lý thuyết
thì biên độ dao động của tỷ giá (B-band) là khá nhỏ chỉ là 2%/ năm 3. Mặc dù
tỷ giá song phương CNY/USD giảm giá nhưng tỷ giá đa phương danh nghĩa
của CNY lại có xu hướng tăng dần. Như vậy, Trung Quốc vẫn duy trì được lợi
2
Bài phát biểu khai mạc trụ sở thứ 2 của NHTW tại Thượng Hải, Thống đốc NHTW Trung Quốc ZhouXia
Chuan.
3
Chế độ tỷ giá BBC có biên độ dao động rộng quanh tỷ giá trung tâm, có thể là 5, 10 và 15%