Tổ chức hoạt động phân tích hình tượng nhân vật trong dạy học đọc hiểu văn bản “ chữ người tử tù của nguyễn tuân ở trường THPT - Pdf 47

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

TRẦN THỊ ÁNH PHƢƠNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH
HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT TRONG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “CHỮ
NGƢỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN
Ở TRƢỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ Văn

HÀ NỘI - 2017


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

TRẦN THỊ ÁNH PHƢƠNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH
HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT TRONG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “CHỮ
NGƢỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN
Ở TRƢỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ Văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Trần Hạnh Phƣơng


GV: giáo viên
HS: học sinh
PPDH: phương pháp dạy học
TP: tác phẩm
TPVH: tác phẩm văn học
TPVC: tác phẩm văn chương
TTC: tính tích cực
THPT: trung học phổ thông
SGK: sách giáo khoa
VBVH: văn bản văn học


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................6
4. Nhiệm vụ của nghiên cứu...............................................................................................7
5. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................................7
6. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................................7
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................7
8. Bố cục của khóa luận ......................................................................................................7
NỘI DUNG..........................................................................................................................8
CHƢƠNG1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG ...............................................8
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................................8
1.1.1. Vấn đề về tiếp nhận văn học ...................................................................................8
1.1.1.1. Khái niệm tiếp nhận văn học................................................................................8
1.1.1.2. Đặc trưng của tiếp nhận văn học ........................................................................9
1.1.1.3. Định hướng của tiếp nhận văn học ...................................................................10
1.1.1.4. Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học ..............................................................15

ghềnh, những con sóng lớn dữ dội nhưng có khi nó lại trôi đi một cách phẳng lặng
và bình yên. Trong nhà trường THPT môn Ngữ văn là một môn học quan trọng,
không chỉ có học để tiếp thu kiến thức mà nó còn là một môn học phục vụ cho các
em thi tốt nghiệp và các trường cao đẳng đại học. Văn học luôn hướng cho chúng ta
tìm đến cái Chân- Thiện – Mĩ để tâm hồn mỗi chúng ta thấy yêu cuộc sống,yêu
nhân loại. Không những thế văn học còn cho chúng ta thấy rõ từng bước đi, từng
nhịp đập, từng hơi thở của lịch sử xuyên suốt qua từng chặng đường, từng thời kì,
từng giai đoạn với những nấc thăng trầm khác nhau. Công việc dạy học văn là một
công việc quan trọng. Giáo viên cần dạy và tập cho học sinh tiếp nhận văn chương
một cách sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tư duy văn học, tư duy thẩm mĩ để mỗi em
tiếp nhận chủ động những giá trị văn minh văn hóa tinh thần của dân tộc và nhân
loại.
1.2.Tuy nhiên việc dạy học văn trong nhà trường đang gặp rất nhiều khó
khăn.Hơn nữa trong thời điểm hiện nay nhiều giáo viên chưa biết cách dạy đọc-hiểu
văn bản văn học theo năng lực của học sinh. Nhiều ý kiến phê bình về công việc
dạy học văn trong nhà trường làm cho học sinh ngày càng chán học văn và sợ học
văn, hay là học văn theo mẫu. Học sinh có quá nhiều lỗi sai về cách dùng từ và lỗi
diễn đạt hoặc chưa cảm nhận được cái hay và cái đẹp của văn chương... Học sinh
học văn theomột khuân mẫu theo những cách sắp đặt của giáo viên. Có thể thấy
nguyên nhân chủ yếu là do cách dạy của giáo viên. Giáo viên chưa thực hiện tốt
chức năng nhiệm vụ, đặc trưng của môn Ngữ văn. Thứ hai giáo viên dạy theo
phương pháp thuyết giảng là chính. Lên lớp, giáo viên chỉ giảng dạy theo bài soạn,
nói thay, làm thay, cảm thụ thay những cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương.

1


Học sinh chỉ có nhiệm vụ ghi chép lại, học thuộc rồi trả bài một cách máy móc. Từ
đó dẫn đến những thói quen lười suy nghĩ, lười tư duy, thiếu sáng tạo... Vì vậy vấn
đề cấp thiết xảy ra là phải thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học. Trong đó

thế.Nguyễn Tuân đã cố níu giữ những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa của dân tộc
còn ẩn sau thói chơi chữ của các nhân vật trong tác phẩm này. Đề cao vẻ đẹp “thiên
lương” của những con người biết trân trọng cái đẹp, biết “ngông” trên cái tài năng
của mình. Vì vậy dạy văn bản “Chữ người tử tù” trong nhà trường phổ thông sẽ góp
phần đưa những giá trị vẻ đẹp của một thời đã qua đến với học sinh và giúp các em
tiếp cận với “người chiến sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa đến một độ cao hiếm
thấy trong văn học Việt Nam” (Hoài Anh)
1.4.Là một sinh viên sư phạm, một giáo viên tương lai, thông qua việc thực
hiện đề tài này, tác giả muốn tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu, bước đầu tiếp
cận được với phương pháp dạy học đổi mới và phương pháp nghiên cứu khoa học.
Tất cả những cơ sở thực tiễn trên là lý do em chọn đề tài: Tổ chức hoạt động
phân tích hình tượng nhân vật trong dạy học đọc hiểu văn bản “ Chữ người tử tù
của Nguyễn Tuân ở trường THPT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Trên thế giới
Phương pháp dạy học tích cực là hệ thống những phương pháp dạy học nhằm
phát huy cao độ tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình học tập, vấn đề
này đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Trong lịch sử phát
triển của giáo dục và nhà trường, tư tưởng về dạy học tích cực đã được các nhà giáo
dục biết đến từ lâu.
Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối đã từng nói đến tầm quan trọng to
lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và nhắc đến các phương
pháp, biện pháp phát huy tính tích cực.
+ Socrat (469-339 TCN) nhà triết học, người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại
đã từng dạy học trò của mình bằng cách luôn đặt ra những câu hỏi gợi mở, nhằm
giúp cho người đọc dần dần phát hiện ra chân lý
+ Khổng Tử (551-479TCN) nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại của Trung Hoa
cổ đại đòi hỏi người ta phải học hỏi tìm tòi, suy nghĩ và đào sâu trong quá trình học.

3

2.3.1. Công trình nghiên cứu đọc-hiểu

4


Thuật ngữ “đọc-hiểu” là việc dạy học Ngữ văn theo hướng đọc -hiểu được
nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm:
-V.A.Nhicoxki trong “ Phương pháp giảng dạy văn học ở nhà trường phổ
thông” đã chú ý đến hoạt động đọc, vị trí của người học sinh trong nhà trường PT,
đặc biệt tác giả chú ý đến việc đọc diễn cảm của HS
- Z.Ia.Rez trong “Phương pháp luận dạy học” đã trình bày một hệ thống các
phương pháp, biện pháp dạy học, đặc biệt chú ý đến đọc sáng tạo
Ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX đã xuất hiện nhiều cuốn sách viết về
phương pháp dạy học đọc-hiểu
-GS.TS.Nguyễn Thanh Hùng (Đại học Sư phạm Hà Nội) trong bài viết “Đọc
hiểu văn chương” trên tờ tạp chí GD số 92, tháng 7, năm 2014 cũng đưa ra những
kiến giải về khái niệm đọc-hiểu.Theo ông “Đọc hiểu văn chương là đọc cái chủ
quan của người viết bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình
trong trang sách”, nghĩa là một quá trình đồng sáng tạo. Tác giả của bài viết cũng
chia “đọc” làm ba dạng: Đọc kĩ, đọc sâu, đọc sáng tạo [tháng 7, năm 2014]
- Cố GS. Phan Trọng Luận trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” đã xem
đọc diễn cảm là một trong ba phương pháp thường dùng trong quá trình thâm nhập
tác phẩm. Trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học”, tác giả đã
phân tích rõ tầm quan trọng của hoạt động học[Nxb Giáo dục, 1983]
-GS.TS.Trần Đình Sử trong bài viết “Dạy học văn là dạy học sinh đọc-hiểu
văn bản” để bàn luận về vấn đề thế nào là đọc hiểu văn bản thông qua cắt nghĩa đọc
là gì,hiểu là gì. Ông cho rằng đọc - hiểu văn bản có hai bước: Hiểu thông báo và
hiểu ý nghĩa
2.3.2. Công trình nghiên cứu phƣơng pháp dạy học tích cực
Các nhà giáo dục học đã có công trong việc áp dụng phương pháp dạy học

+ Củng cố và nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học môn Ngữ Văn theo
hướng đổi mới.
+ Hình thành phát triển năng lực cho học sinh.
+ Đưa văn bản “Chữ người tử tù” đến với học sinh theo đúng hướng của
phương pháp.
+ Bồi dưỡng năng lực đọc-hiểu, cảm thụ tác phẩm, làm cơ sở cần thiết cho
việc dạy học Ngữ Văn sau này của trường phổ thông.

6


+ Đề xuất cách thức ứng dụng dạy học tích cực vào đọc hiểu văn bản văn học ở
trường THPT.

4. Nhiệm vụ của nghiên cứu
-Tập hợp các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
-Khảo sát thống kê các công trình nghiên cứu đọc-hiểu, các công trình
nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực.
-Xử lý và phát triển các vấn đề khảo sát, vận dụng vào văn bản “Chữ người tử tù”.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
-Đề tài nghiên cứu về vấn đề “Tổ chức hoạt động phân tích hình tượng nhân
vật trong dạy học đọc hiểu văn bản (Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân) ở nhà trường
THPT”.
6. Phạm vi nghiên cứu
-Luận văn tập trung nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực trong các hoạt
động dạy học đọc-hiểu văn bản văn học. Tuy nhiên tập trung nhất là hoạt động
“Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù-Nguyễn Tuân)”cũng
như khả năng vận dụng nó trong giờ dạy học đọc hiểu văn bản văn học, giúp cho
học sinh phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu

đó” [14; tr.221]
Theo GS.Nguyễn Thanh Hùng trong Chuyên luận: “Đọc và tiếp nhận tác
phẩm văn chương” lại quan niệm “Tiếp nhận tác phẩm văn học là đem lại cho
người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào người đọc để củng cố và
phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực
cảm xúc của con người trước đời sống”[6; tr.105]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán chủ biên): “Tiếp nhận văn học
là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của các tác phẩm văn học bắt
đầu từ sự cảm nhận văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng cảm hứng,
quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: Cách
hiểu, ấn tượng trong trí nhớ ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển
thể…” [3; tr.325]
Như vậy, về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoạt tự
do giữa người đọc với nhà văn thông qua tác phẩm. Nó đòi hỏi người đọc phải tham

8


gia bằng tất cả trái tim, khối óc, hứng thú, nhân cách và tri thức của mình. Có thể
nói là được xem như một quá trình “đối tượng hóa sức mạnh bản chất người” của
cá thể trong xã hội. Để thực hiện quá trình đó thì chủ thể tiếp nhận không chỉ dựa
vào những phân tích văn bản ngôn từ một cách máy móc rồi khái quát giá trị ý
nghĩa của tác phẩm. Nói tới tiếp nhận là đề cập đến hai phương diện thống nhất bản
chất của một vấn đề: về phía đối tượng tức tác phẩm văn học, khi được tiếp nhận nó
không còn là những “kí hiệu tĩnh” không còn là những kí hiệu mang tính khách
quan của những con chữ khô khan, mà trở nên một thế giới có hồn, có đời sống, có
số phận, hoàn cảnh, sự việc và tâm lí.Có được điều đó hay không và có được đến
mức độ nào- nhân tố có vai trò quyết định lại do khả năng chuyển kí hiệu thẩm mĩ
sang hoạt động thẩm mĩ của chủ thế tiếp nhận: “người đọc”.
Việc dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường thực chất là dạy cho học

tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp qua tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ.
Bằng trí tưởng tượng kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và những rung động sâu
sắc trong tâm hồn, người đọc sẽ cùng tái hiện bồi đắp những nét phác họa thường
rất hàm súc của nhà văn thành những bức tranh đời sống chân thực, sống động,
những hình tượng hoàn chỉnh để rồi quan sát, đối chiếu, đối thoại, yêu, ghét, tự rút
ra cho mình những bài học nhân sinh quý giá. Văn học qua quá trình tiếp nhận tích
cực ấy sẽ giúp cho con người có thêm những hiểu biết, trải nghiệm về cuộc đời.
Như vậy, chiếm lĩnh tác phẩm văn học thực chất là quá trình đi ngược lại con
đường sáng tạo của nhà văn:
Tác phẩm-> Nhà văn -> Đời sống
1.1.1.3. Định hướng của tiếp nhận văn học
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn: “Hiểu văn, dạy văn” có ý kiến:
“Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của quá trình tư duy, sáng tạo của nhà
văn. Nó thể hiện các chức năng của mình thông qua lớp ngôn từ mà nhà văn đã sử
dụng như một phương tiện giao tiếp. Mỗi tác phẩm văn học tồn tại dưới dạng vật
chất là một cấu trúc chỉnh thể. Tuy nhiên, nó chỉ mới mang tính tiềm tàng khi độc
giả chưa biến chúng thành hiện thực thông qua việc tiếp nhận và cảm thụ của
mình”. [8; tr.48]
Như vậy, thực chất của quá trình sáng tác văn học là quá trình chuyển cảm
xúc của tác giả đến với bạn đọc. Bên cạnh đó, mỗi tác phẩm văn chương là những
sinh thể cực kì đa dạng và độc đáo. Mà đối tượng HS là một thế giới vô cùng phong

10


phú và đa dạng. Bởi vậy công thức dập khuân, máy móc trong giảng dạy tác phẩm
văn chương đều không thích hợp với bản chất sáng tạo của lao động, phân tích tiếp
nhận văn chương.
Theo PGS.TS.Bùi Minh Đức trong chuyên luận: “Hệ thống hoạt động đọc-hiểu
văn bản văn học ở nhà trường THPT” thường được triển khai qua năm hoạt động:

lớp vỏ đến lớp hình. Quá trình nhận thức thẩm mĩ chỉ thực sự bắt đầu khi người đọc
làm sống dạy những kí hiệu, những con chữ câm lặng trên trang giấy. Tác dụng của
hoạt động tri giác ngôn ngữ là giúp cho HS cảm nhận tác phẩm ở cấp độ chỉnh thể,
bước đầu hình dung được cuộc sống mà nhà văn đã miêu tả trong tác phẩm và giọng
điệu nghệ thuật của người nghệ sĩ. Đây cũng là hoạt động tiền đề cho hoạt động
tưởng tượng tái hiện tiếp theo.
Một số biện pháp tổ chức HS tri giác ngôn ngữ nghệ thuật một cách chủ
động, sáng tạo.
Đọc văn là biện pháp chủ đạo để tri giác ngôn ngữ nghệ thuật. Đọc ở nhà,
đọc trên lớp, đọc thành tiếng, đọc cá nhân, đọc cùng bạn, đọc nhanh toàn bộ văn
bản để cảm nhận âm hưởng chung để toát lên chỉnh thể bài văn, bài thơ. Đọc chậm,
đọc kĩ, đọc sâu kết hợp tra từ điển, tìm hiểu chú thích, điển tích, điển cố để hiểu
được ý nghĩa của câu chữ, đoạn văn, đoạn thơ…là những hình thức khác nhau của
hoạt động đọc văn có thể tổ chức một cách linh hoạt ở HS để việc tri giác ngôn ngữ
đạt được hiệu quả cao nhất.
* Hoạt động tái hiện hình tượng
Tiếp nối hoạt động tri giác ngôn ngữhoạt động tái hiện hình tượng giúp cho
HS bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Chức năng của hoạt động này kích
thích trí tưởng tượng của HS giúp cho các em nhìn ra bức tranh thiên nhiên và đời
sống con người mà nhà văn đã khắc họa trong tác phẩm. Điều cần chú ý là GV
không tưởng tượng, tái hiện thay cho HS, GV nên kiên trì gợi mở để HS nhận thức
cuộc sống trong tác phẩm qua trí tưởng tượng chính của các em. Nói cách khác, GV
phải có biện pháp giúp cho HS chuyển thế giới hình tượng trong tác phẩm thành
những hiện tượng tâm lí tinh thần trong đầu các em, để các em có thể sống với nó,
trải nghiệm cùng các nhân vật.
Các biện pháp tổ chức cho HS hoạt động tái hiện hình tượng văn học một
cách tích cực và sáng tạo.

12



13


hành việc so sánh hộ HS mà gợi ý để HS liên hệ đến các yếu tố tương đồng, tương
phản. Hoặc GV cung cấp các dữ liệu để các em thực hiện thao tác so sánh một cách
chủ động sáng tạo.
-Phân tích, cắt nghĩa,khái quát hóa qua việc xây dựng tính huống có vấn đề:
Tình huống có vấn đề là tình huống chứa đựng những cái đã biết và chưa biết.Mâu
thuẫn này được HS chấp nhận như mâu thuẫn của bản thân và đòi hỏi phải giải
quyết. Thông qua sự giải quyết, HS chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo.
* Hoạt động tự bộc lộ, nhận thức của HS
Tự bộc lộ là hoạt động chủ động, tự giác, tự nguyện của bạn đọc HS thể hiện
kết quả tiếp nhận của mình về tác phẩm. Đó là sự thể hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau- những rung động nhận thức, tình cảm, thái độ… của HS trước những sự
kiện, những số phận… mà nhà văn đã xây dựng trong tác phẩm. Tự bộc lộ cần phải
được GV đầu tư công sức để tổ chức cho HS tiến tới biến hoạt động này thành một
nhu cầu, một thói quen trong đọc văn, học văn của các em.
Một số biện pháp tổ chức HS tự bộc lộ, tự nhận thức:
-Tạo tình huống có vấn đề thúc đẩy HS tự bộc lộ, tự nhận thức. GV sẽ lựa
chọn trong tác phẩm những vấn đề thực sự để xây dựng tình huống có vấn đề nhằm
thúc đẩy HS bộc lộ thái độ nhận thức và rút ra bài học sống, triết lý sống đúng đắn
-Biện pháp đóng vai tác giả hoặc nhân vật trong tác phẩm. Đóng vai tác giả
là biện pháp HS nhập vai người sáng tác để trao đổi, tranh luận với các bạn HS khác
hoặc phát biểu, bộc lộ quan điểm, thái độ về nhân vật, tình tiết trong tác phẩm.
Đóng vai nhân vật trong truyện là hình thức HS đóng vai nhân vật để thể hiện thái
độ, tình cảm, hành động của nhân vật hoặc phát biểu những suy nghĩ chủ quan về
những con người, hoàn cảnh, sự kiện, tình huống trong tác phẩm.
-Biện pháp thúc đẩy HS cùng sáng tạo với nhà văn thông qua việc viết lại,
sửa lại, bổ sung văn bản để thể hiện sự tự bộc lộ, tự nhận thức của HS. Sửa đổi sự

sẽ đưa ra những kết luận cho sự tồn tại và phát triển của tác phẩm văn học đó. Bạn
đọc, công chúng chính là nhân tố chuyển hóa những giá trị tinh thần trong tác phẩm
để trở thành những động lực tình cảm trong tiến trình lịch sử.
1.1.2. Vấn đề đọc-hiểu, dạy học đọc hiểu văn bản văn học
1.1.2.1. Khái niệm đọc-hiểu
* Đọc: Có rất nhiều khái niệm về đọc:
Về mặt triết học, đọc có những nội dung sau:

15


- “Đọc” là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất nhiên phải hiểu ngôn
ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn
bản); phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác
động qua lại giữa chủ thể và văn bản
Theo SGK,ngữ văn Nâng Cao 10(tập 1): “Đọc là một hoạt động nắm bắt ý
nghĩa trong các kí hiệu của văn bản, khác với nghe là hoạt động nắm bắt ý nghĩa từ
tín hiệu âm thanh”. Đó là ho ạt động lấy văn bản viết, in, khắc làm đối tượng khác
với việc đọc người đọc thoát nạn mù chữ là biết đọc ở đây đòi hỏi hiểu sâu hơn nội
dung tư tưởng, tình cảm, cái đẹp của văn bản và có thể sử dụng văn bản vào đời
sống cá nhân và xã hội. [23;tr. 35]
Như vậy, mục đích của đọc là để nắm bắt ý nghĩa của văn bản được đọc, tức
là hiểu văn bản để sống trong thế giới nghệ thuật, thưởng ngoại, giải trí và làm giàu
có tâm hồn mình. Đọc phải gắn liền với hiểu.
* Hiểu
Hiểu là phải nắm được thông tin, ý nghĩa của văn bản,là giải thích biểu đạt
được ý tưởng và cái hay của văn bản. “Hiểu” là “nghộ” (giác ngộ, bừng ngộ) ra
những chân lý của đời sống, những triết lý nhân sinh được người viết gửi gắm qua
văn bản.
Hiểu thường gắn liền với “cảm” nhất là trong các hoạt động tiếp nhận nghệ

Dạy học đọc-hiểu văn bản văn học đề cao vai trò của chủ thể sáng tạo, tích
cực của học sinh trong ho ạt động đọc. Điều quan trọng là chúng ta cần phải thay đổi
quan điểm về việc sử dụng phương pháp dạy học Ngữ văn nói riêng và phương
pháp dạy học đọc-hiểu nói chung, nghĩa là không có một phương pháp dạy học đọchiểu duy nhất nào cả. Tùy thuộc vào từng loại văn bản, mục đích đọc và đối tượng
học sinh, người thầy sẽ tự do lựa chọn bất kì một phương tiện giảng dạy và cách
hướng dẫn nào mà họ muốn.
Trong dạy học đọc-hiểu văn bản văn học, giáo viên là người hướng dẫn, tổ
chức,nêu vấn đề để cho học sinh trao đổi, thảo luận, là người dạy về phương pháp
đọc chứ chưa phải là người đọc thay, đọc ngầm biến học sinh trở thành thính giả
chủ động của mình.
1.1.2.3. Chức năng, vai trò của đọc-hiểu
Trước hết đọc-hiểu được coi là con đường, cách thức tiếp cận tác phẩm.
Bằng hoạt động đọc-hiểu, người đọc sẽ tìm thấy những vấn đề của cuộc sống đang

17


được đề cập đến trong tác phẩm có thể là những hình tượng, những cách nhìn nhận
đánh giá vấn đề, hiện tượng đời sống được đưa vào trong tác phẩm. Học sinh trong
quá trình đọc sẽ nhận thức một cách đầy đủ được những kiến thức, kinh nghiệm,
hiểu biết về đời sống, con người và xã hội… Bởi thông tin mà các văn bản văn học
cung cấp cho bạn đọc sẽ vô cùng phong phú. Đó có thể là những vấn đề của cuộc
sống đời thường, nhỏ bé, giản dị, và cả những biến đổi nội tâm thậm chí cả những
vấn đề lớn lao vĩ đại.Đọc-hiểu là hoạt động dạy học mang tính phổ quát. Nó nhằm
mục tiêu giáo dục đào tạo nói chung nghĩa là nó được xem như một phương tiện
nhằm giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cho người đọc, người học.
Hoạt động đọc-hiểu sẽ góp phần cho HS một phương pháp học tập mới.
Phương pháp ấy giúp cho HS chủ động hơn khi lĩnh hội, tìm hiểu, khám phá bài một
cách sáng tạo với vai trò của bạn đọc. Thông qua việc đọc-hiểu VBVH các kĩ năng và
kinh nghiệm mới sẽ được hình thành, mở rộng sự hiểu biết và phát triển khả năng bao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status