TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
MÔNG THỊ THUYẾT
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN SÓNG
CỦA XUÂN QUỲNH Ở TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội học tập, rèn luyện và có
cơ hội được thực hành nghiên cứu khoa học tại trường.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn
cùng toàn thể các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ văn đã nhiệt tình
giảng dạy. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn
Thị Mai Hương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt cho tôi
Ý NGHĨA
1
THPT
Trung học phổ thông
2
TNST
Trải nghiệm sáng tạo
3
GS
Giáo sư
4
TS
Tiến sĩ
5
ThS
Dự kiến trả lời
MỤC LỤC
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 4
6. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
8. Dự kiến đóng góp .......................................................................................... 4
9. Bố cục khoá luận ........................................................................................... 5
NỘI DUNG....................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ......................... 6
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 6
1.1.1 Khái niệm hoạt động TNST ..................................................................... 6
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động TNST..................................................... 12
1.1.3 Một số vấn đề chung về hoạt động TNST trong trường phổ thông ....... 15
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 21
1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản “Sóng” của Xuân Quỳnh trong nhà trường
THPT hiện nay ................................................................................................ 21
1.2.2 Hoạt động TNST văn bản “Sóng” của Xuân Quỳnh ở trường THPT hiện
nay ................................................................................................................... 22
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TNST TRONG DẠY HỌC
giáo viên cho học sinh dập khuôn theo những bài văn mẫu dẫn đến hiện tượng
nhiều bài văn viết giống nhau. Với cách học như vậy, học sinh không phát
huy được tư duy sáng tạo của bản thân. Bên cạnh đó, hầu hết học sinh hiện
nay đều nghĩ học môn văn sẽ khó chọn ngành nghề sau này, phần lớn các em
thường tập trung vào các môn khoa học - tự nhiên như Toán, Lý, Hoá. Do đó
học sinh trở nên thờ ơ với các văn bản trữ tình, một số học sinh không xác
định được tâm trạng của nhân vật trữ tình trong văn bản trữ tình, cho nên điều
mà các giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong trường phổ thông hiện nay
còn trăn trở là hiện tượng học sinh không hứng thú đón nhận bộ môn Ngữ văn,
các em thường tỏ thái độ lạnh nhạt, thậm chí nhiều học sinh có thái độ học đối
phó trong giờ học văn.
Đọc hiểu văn bản trữ tình nói chung và đọc hiểu văn bản Sóng của
Xuân Quỳnh nói riêng, nhiều học sinh cho rằng không phù hợp trong cuộc
1
sống hiện đại về cảm xúc, về nhận thức. Nguyên nhân không chỉ là thái độ
thờ ơ, vô cảm của các em trong việc cảm thụ hay tiếp nhận một tác phẩm văn
học, mà điều quan trọng là từ phía những người trực tiếp đứng trên bục giảng
chưa tạo được sự hứng thú và chưa có phương pháp phù hợp với từng đối
tượng học sinh nên học sinh không hứng thú, giờ học trở nên nhàm chán.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động
trải nghiệm sáng tạo trong dạy học đọc hiểu văn bản Sóng của Xuân
Quỳnh ở trường THPT”. Chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp một phần vào việc
đổi mới dạy học bộ môn Ngữ văn, mong rằng tác phẩm văn học sẽ trở nên
gần gũi và có ý nghĩa thiết thực hơn đối với học sinh THPT.
2. Lịch sử vấn đề
Bàn về vấn đề phương pháp dạy học và dạy học Ngữ văn có từ rất sớm,
xuất hiện đầu tiên ở các nước phương Tây với một số cuốn sách như:
nhất là hoạt động đọc văn. GS. Phan Trọng Luận trong chuyên đề: Cảm thụ
văn học, giảng dạy văn học đã phân tích tầm quan trọng của hoạt động đọc.
Đọc từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc để tri giác bằng mắt, tai, tất cả hình ảnh, chi
tiết, từ ngữ. Quá trình đọc là quá trình thâm nhập từng bước vào nội dung ý
nghĩa của tác phẩm.
Tất cả các nghiên cứu trên của văn chương cho rằng đọc là hoạt động
đầu tiên của tiếp nhận văn chương. Dựa vào nghiên cứu trên khóa luận này
chúng tôi tiến hành: “Tổ chức hoạt động TNST trong dạy học đọc hiểu văn
bản Sóng của Xuân Quỳnh ở trường THPT”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích:
- Xác lập các hoạt động, các bước tổ chức hoạt động TNST qua văn
bản Sóng của Xuân Quỳnh.
- Làm rõ các vấn đề xung quanh việc tổ chức hoạt động TNST.
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thể trữ tình ở THPT theo
hướng dạy học là dạy HS cách làm người, giáo dục lòng nhân ái cho HS.
3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở và quy trình của việc tổ chức hoạt động TNST trong
việc dạy học văn bản trữ tình ở nhà trường THPT.
- Vận dụng những hiểu biết đó để tổ chức các hoạt động TNST trong
dạy học văn bản Sóng của Xuân Quỳnh.
5. Đối tượng nghiên cứu
Trong khoá luận này chúng tôi tập trung nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học Ngữ văn.
- Lý thuyết tổ chức các hoạt động TNST trong dạy học Ngữ văn.
Chương 2. Tổ chức hoạt động TNST trong dạy học đọc hiểu văn bản
Sóng của Xuân Quỳnh
Chương 3. Giáo án thực nghiệm
- Kết luận
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm hoạt động TNST
Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có
động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể
của HS, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của
nhà trường. Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn. Qua trải nghiệm
thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định.
Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, phải vận
dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống
mới, không theo chuẩn đã có.
1.1.1.1 Hoạt động
Bắt đầu từ Vưgotsky với tư tưởng cơ bản là: Hoạt động tâm lý (bên
trong) của người, được xây dựng theo mẫu của hoạt động bên ngoài. Hoạt
động bên ngoài này được tiến hành theo mẫu của công cụ. Công cụ là năng
lực thực tiễn mà loài người sáng tạo ra, kết tinh lại, được vật thể hoá, nhờ đó
chúng tồn tại một cách khách quan đối với mỗi cá thể.
Hoạt động tâm lý của người được thực hiện dưới hình thức giao lưu
bằng ngôn ngữ, dùng những hệ thống tín hiệu và dấu hiệu (đặc biệt là âm
thanh) làm vật trung gian (coi như công cụ).
Nói chung, quan điểm của tâm lý học Xô Viết cho rằng, hoạt động tâm
Quá trình học chính là quá trình làm việc để tạo ra một sản phẩm xác
định. Còn quá trình dạy là quá trình tổ chức làm việc, cung cấp vật liệu, mẫu
sản phẩm và quy trình công nghệ làm ra sản phẩm.
Đỉnh cao nhất mà hoạt động tâm lý đạt đến là trình độ xã hội (hay nhân
cách). Đây là một bước tiến về chất. Từ đây chỉ còn lại những hoạt động
thuần tuý người, đặc trưng cho phạm trù người. Quy luật cơ bản chi phối các
7
hoạt động này có tính xã hội - lịch sử khách quan. Nói cụ thể hơn: Hoạt động
của cá nhân không còn là của riêng một cá nhân đơn độc ấy, mà bao giờ cũng
là của một cộng đồng người, trong một thời điểm xác định. Hay ta có thể nói:
Sự thích ứng với hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân không phải là sự thích ứng
cá nhân mà là sự thích ứng tập thể, cộng đồng.
Hoạt động người đạt đến trình độ xã hội đã đưa con người sang hẳn
một phạm trù mới, tách biệt hẳn với thế giới động vật. Từ đây, hoạt động của
người tuân theo những quy luật khách quan có tính lịch sử và chịu sự tác động
của các mối quan hệ xã hội đương thời. Trên ý nghĩa ấy, Marx coi con người
như một tổng hoà các quan hệ xã hội.
Ngay từ lúc mới ra đời, đứa trẻ đã là người, đã là thành viên của xã hội
loài người, đã ở trong những mối quan hệ xã hội người. Vì vậy, việc giáo dục
trẻ ngay từ đầu đã được tổ chức trong mọi trình độ phát triển của hoạt động,
phản ánh được nền văn minh hiện đại.
1.1.1.2 Trải nghiệm
Theo quan điểm của triết học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của
sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan. Sự tương tác này bao
gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả
kỹ thuật và kĩ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới
khách quan. Nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S quan niệm rằng trải
- Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kĩ năng có
được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy.
- Trải nghiệm là kiến thức, kĩ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ
sở giáo dục: Thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những
tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường.
- Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những
phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết
lập hoặc minh hoạ cho một quan điểm lý luận cụ thể.
9
- Kinh nghiệm giảng dạy là hệ thống các phương pháp đào tạo được
GV đúc kết và cải thiện dần trong quá trình làm việc thực tế của mình.
Một số nhà nghiên cứu sư phạm xem xét thuật ngữ trải nghiệm qua
khái niệm thực hành, có nghĩa là, xem xét nó trong việc tiến hành quá trình
đào tạo, cũng như kết quả của nó. Chính vì vậy, M.N.Skatkin đã kết luận rằng:
Theo nghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình đào
tạo và giáo dục. Việc phân định giữa trải nghiệm và thực hành, theo ý kiến
của Trerehoba T.E: Trải nghiệm mang hàm nghĩa rộng hơn thực hành vì nó
đóng một vai trò là nền tảng của tri thức và là tiêu chí để nhận biết sự thật.
Nói chung, người ta công nhận trải nghiệm là mối quan hệ thực tế giữa chủ
thể và đối tượng. Ý nghĩa của điều này là chúng ta cố gắng để có các trải
nghiệm một cách chủ động, có tính cách mạng và có ý thức.
Theo Wikipedia: Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự
kiện hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay chiếm lĩnh nó. Trong triết học,
thuật ngữ kiến thức qua thực nghiệm chính là kiến thức có được dựa trên trải
nghiệm. Một người trải nghiệm nhiều ở một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể
được coi như chuyên gia của lĩnh vực đó. Khái niệm trải nghiệm dùng để chỉ
phương pháp làm ra kiến thức hay quy trình làm ra kiến thức chứ không phải
giải quyết mới cho một vấn đề.
Những dấu hiệu sáng tạo được xác định dựa trên những hoạt động sau
đây của HS:
- HS sử dụng thiết bị đã được học hoặc thực hiện chúng với các tương
tác khác (cấu trúc lại, kết hợp với các thiết bị khác).
- Sử dụng các vật liệu trực quan như một yếu tố bài tập, hoặc thực hiện
chúng với các tương tác khác (phân tích, thay đổi trong tư duy), mà không
làm thay đổi cách tiếp nhận.
Sự sáng tạo có thể giáo dục được, nhưng phải theo một cách khác với
con đường truyền tải kiến thức và hình thành kĩ năng.
11
Sự trải nghiệm trong hoạt động sáng tạo của nhân loại được tích luỹ
dần dần. Mặc dù không phải trong bất kỳ hoạt động nào nó cũng xuất hiện và
định hình. Sự sáng tạo có thể giáo dục được, nhưng phải theo một cách khác
với con đường truyền tải kiến thức và hình thành kĩ năng.
Bản chất của hoạt động sáng tạo nằm ở nội dung của các yếu tố giáo dục
cơ bản của con người, mà đối với nó không nên gò ép vào một hệ thống các
hành động nhất định. Những hệ thống này đều có đặc điểm riêng của mình.
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động TNST
Theo TS. Ngô Thị Thu Dung - Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên
cứu phát triển giáo dục cộng đồng (CCE): Việc thiết kế các hoạt động TNST
cụ thể được tiến hành như sau:
- Nguyên tắc 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động TNST
Công việc này bao gồm một số việc:
+ Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục
cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành.
+ Xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm HS tham gia
+ Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều
chỉnh hoạt động.
+ Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động.
+ Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò.
Tuỳ theo chủ đề của hoạt động TNST ở mỗi tháng, đặc điểm HS và
hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hoá và mang
màu sắc riêng. Khi xác định được mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau:
+ Hoạt động này có thể hình thành cho HS những kiến thức ở mức độ
nào? (khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?).
+ Những kĩ năng nào có thể được hình thành ở HS và các mức độ của
nó đạt được sau khi tham gia hoạt động?
13
+ Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở HS
sau hoạt động?
- Nguyên tắc 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình
thức của hoạt động.
Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy
đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động. Trước hết, cần căn
cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể
của lớp, của nhà trường và khả năng của HS để xác định các nội dung phù hợp
cho các hoạt động. Cần liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện.
Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những
phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt
động tương ứng. Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau
được thực hiện đan xen hoặc trong đó có một hình thức nào đó là chủ đạo,
- Nguyên tắc 6: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động
Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện
cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được.
Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội
dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh.
Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể
hoá chương trình đó bằng căn bản. Đó là giáo án tổ chức hoạt động.
- Nguyên tắc 7: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của HS
Ghi kết quả xếp loại sau khi đã đánh giá các hoạt động vào hồ sơ của HS.
1.1.3 Một số vấn đề chung về hoạt động TNST trong trường phổ thông
1.1.3.1 Hoạt động TNST trong chương trình giáo dục phổ thông
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, kế hoạch giáo dục
bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp). Khái niệm hoạt
động giáo dục (theo nghĩa hẹp) dùng để chỉ các hoạt động giáo dục được tổ
15
chức ngoài giờ dạy học các môn học. Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng)
bao gồm cả hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp).
Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) gồm: Hoạt động tập thể (sinh
hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh,
sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh); hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục; hoạt động giáo dục hướng
nghiệp (cấp THCS và cấp THPT) giúp HS tìm hiểu để định hướng tiếp tục
học tập và định hướng nghề nghiệp; hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp
THPT) giúp HS hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ, kỹ thuật, quy
trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một số nghề
trường lựa chọn, tổ chức thực hiện một cách phù hợp, hiệu quả.
Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình hoạt động TNST tập trung
vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kỹ năng sống.
Thông qua hoạt động trải nghiệm HS được bước vào cuộc sống xã hội, được
tham gia các dự án học tập, các hoạt động thiện nguyện, hoạt động lao động,
các loại hình câu lạc bộ khác nhau. Bằng hoạt động trải nghiệm của bản thân,
mỗi HS vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt
động cho chính mình nên HS không những biết cách tích cực hoá bản thân,
khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt động,
tổ chức cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm. Đặc biệt, ở
giai đoạn này, mỗi HS cũng bắt đầu xác định được năng lực, sở trường, và
chuẩn bị một số năng lực cơ bản cho người lao động tương lai và người công
dân có trách nhiệm.
Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, chương trình hoạt động
TNST được tổ chức gắn với nghề nghiệp tương lai chặt chẽ hơn, hình thức
câu lạc bộ nghề nghiệp phát triển mạnh hơn. HS sẽ được đánh giá về năng lực,
hứng thú và được tư vấn để lựa chọn và định hướng nghề nghiệp.
17
Hoạt động TNST sử dụng các hình thức và phương pháp chủ yếu sau:
Thực địa, tham quan, câu lạc bộ, hoạt động xã hội/tình nguyện, diễn đàn, giao
lưu, hội thảo, trò chơi, cắm trại, thực hành lao động.
Ngoài hoạt động TNST được nêu trên, trong từng môn học cũng coi
trọng việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động TNST phù hợp với đặc trưng nội
dung môn học và điều kiện dạy học.
1.1.3.2 Đặc điểm của hoạt động TNST
a) Trải nghiệm và sáng tạo là dấu hiệu cơ bản của hoạt động
Hoạt động TNST là hoạt động được thực hiện phối hợp một cách hợp
chơi, hội thi, diễn đàn, giao lưu, tham quan du lịch, sân khấu hoá (kịch, thơ,
hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia…) thể dục thể thao, câu lạc bộ, tổ chức
các ngày hội, các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật, mỗi một hình thức
hoạt động trên đều tiềm tàng trong nó những khả năng giáo dục nhất định.
Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục HS được
thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng,
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu, nguyện vọng của HS.
Trong quá trình thiết kế, tổ chức, đánh giá các hoạt động TNST, cả GV lẫn
HS đều có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, chủ động, linh hoạt của mình, làm tăng
thêm tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chức hoạt động. Sự đa dạng
của hình thức trải nghiệm cũng tạo cơ hội thực hiện giáo dục phân hoá.
d) Hoạt động TNST đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường
Khác với các hoạt động dạy học, hoạt động TNST cần thu hút sự tham
gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như:
GV chủ nhiệm lớp, GV bộ môn, cán bộ Đoàn, tổng phụ trách Đội, ban giám
hiệu nhà trường, cha mẹ HS, chính quyền địa phương, hội khuyến học, hội phụ
nữ, đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội cựu chiến binh, các cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp ở địa phương, các nhà hoạt động xã hội, những nghệ nhân,
những người lao động tiêu biểu ở địa phương, những tổ chức kinh tế, mỗi lực
19