Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học chủ đề xác suất chương trình môn toán lớp 11 - Pdf 47

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA TOÁN
===o0o===

NGUYỄN PHƯƠNG TRANG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ XÁC SUẤT
CHƯƠNG TRÌNH MÔN TOÁN LỚP 11

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán

HÀ NỘI – 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA TOÁN
===o0o===

NGUYỄN PHƯƠNG TRANG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ XÁC SUẤT
CHƯƠNG TRÌNH MÔN TOÁN LỚP 11

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán

Người hướng dẫn khoa học
TS. Phạm Thị Diệu Thuỳ

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2017

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Phương Trang


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

HĐTNST

Trung học phổ thông

THPT

Giáo viên

GV

Học sinh

HS

Phương pháp dạy học


3.4. Tiêu chí đánh giá ...................................................................................... 33


PHẦN 2. THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ XÁC SUẤT .......................................................35
CHƯƠNG TRÌNH MÔN TOÁN LỚP 11 ..........................................................35
1. Cơ sở lựa chọn chủ đề ................................................................................. 35
2. Thiết kế HĐTNST trong dạy học chủ đề xác suất chương trình môn Toán
lớp 11 ............................................................................................................... 36
2.1. Yêu cầu chung về thiết kế HĐTNST trong dạy học ................................ 36
2.1.1. Đảm bảo khung lô-gic của các hoạt động trong một chủ đề................. 36
2.1.2. Đảm bảo sự trải nghiệm của học sinh ................................................... 36
2.1.3. Đảm bảo môi trường để học sinh sáng tạo............................................ 37
2.2. Cấu trúc chung khi tổ chức HĐTNST trong dạy học .............................. 37
2.3. Thiết kế HĐTNST chủ đề xác suất chương trình môn Toán lớp 11........ 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2............................................................................................59
PHẦN KẾT LUẬN......................................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................61
PHỤ LỤC......................................................................................................................63


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Để nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa lí thuyết với thực tiễn,
giữa sách vở với trải nghiệm thực tế, ông cha ta đã đúc kết cho thế hệ sau qua
những câu thành ngữ, tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”,
“Trăm hay không bằng tay quen”, “Học đi đôi với hành”.
Khổng Tử cũng nhận định rằng dạy học không chỉ dừng lại ở việc
truyền tải tri thức cho người học mà quan trọng hơn là dạy cho họ biết cách tự
mình nắm bắt, lĩnh hội tri thức nhân loại, đặc biệt là cách vận dụng kiến thức

trời (outdoor education). Hoạt động ngoại khóa và chương trình học tập năng
động được khẳng định là một “thành phần cốt lõi của toàn bộ trải nghiệm ở
nhà trường”, cung cấp một nền tảng xác thực cho việc học tập sẽ diễn ra. Đây
là hoạt động bắt buộc song song với học tập trong nhà trường…
HĐTNST ngày càng được các quốc gia coi trọng và lựa chọn là một hướng đi
mới cho nền giáo dục. Bởi lẽ, HĐTNST dù diễn ra dưới hình thức nào cũng
đều được thực hiện thông qua phương pháp thực hành và trải nghiệm thực tế
để học sinh được tự mình khám phá, học hỏi bạn bè và đặc biệt phát triển cá
nhân.
Tại Việt Nam, Giáo dục - Đào tạo cùng với Khoa học - Công nghệ
cũng được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định là quốc sách hàng
đầu. Nghị quyết Hội nghị số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Trung ương 8
khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra rằng
“chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát
triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”. Do đó, trong dự thảo
chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã coi
HĐTNST là một bộ phận của chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015.
HĐTNST là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh được trực tiếp
hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và
tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và

2


tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động
được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng
bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính
tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau.
HĐTNST là hoạt động thực hiện phối hợp một cách hợp lí cả hai khâu
trải nghiệm và sáng tạo. HĐTNST tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm trong

phần lớn các nghiên cứu thường đi vào phân dạng bài tập cho học sinh, tập
trung vào phát triển kiến thức mà chưa khai thác phần kĩ năng, thái độ những yếu tố cùng với kiến thức hình thành năng lực cho học sinh.
Xuất phát từ đặc điểm của HĐTNST và vị trí, vai trò của môn Toán;
xuất phát từ những khía cạnh đã được khai thác của xác suất, em lựa chọn chủ
đề: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học chủ đề xác suất
chương trình môn Toán lớp 11” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu khái quát cơ sở lí luận của HĐTNST.
- Tìm hiểu một số cách tổ chức HĐTNST trong dạy học chủ đề xác suất
nhằm nâng cao nhận thức, kĩ năng, hứng thú cho học sinh trong môn Toán nói
riêng và các bộ môn khác nói chung.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Cơ sở lí luận của HĐTNST là gì?
- Tổ chức HĐTNST trong dạy học chủ đề xác suất như thế nào để học
sinh tiếp nhận kiến thức một cách hứng thú, chủ động, sáng tạo?
4. Đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: HĐTNST trong dạy học ở trường phổ thông.
- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức HĐTNST chủ đề xác suất trong
chương trình môn Toán lớp 11 cho học sinh THPT.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

4


Quá trình tổ chức HĐTNST trong dạy học chủ đề xác suất cho học sinh
lớp 11A2 - Trường THPT Xuân Hòa - Phường Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên Tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các dự thảo, chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo về

thân mình.
Trong quá trình tác động qua lại đó, có hai chiều tác động diễn ra đồng
thời, thống nhất và bổ sung cho nhau:
- Chiều thứ nhất là quá trình tác động của con người với tư cách là chủ
thể vào thế giới khách quan. Quá trình này tạo ra sản phẩm mà trong đó chứa
đựng các đặc điểm tâm lý của người tạo ra nó. Hay nói khác, con người đã
chuyển những đặc điểm tâm lý của mình vào trong sản phẩm. Sản phẩm là
nơi tâm lý của con người được bộc lộ. Quá trình này được gọi là quá trình
xuất tâm hay quá trình đối tượng hoá.
- Chiều thứ hai là quá trình con người chuyển những cái chứa đựng
trong thế giới vào bản thân mình, là quá trình con người có thêm kinh nghiệm
về thế giới, những thuộc tính, những quy luật của thế giới... được con người

6


lĩnh hội, nhập vào vốn hiểu biết của mình. Đồng thời con người cũng có thêm
kinh nghiệm tác động vào thế giới, rèn luyện cho mình những phẩm chất cần
thiết để tác động có hiệu quả vào thế giới. Quá trình này là quá trình hình
thành tâm lý ở chủ thể, còn gọi là quá trình chủ thể hoá hay quá trình nhập
tâm.
Như vậy trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế
giới, vừa tạo ra tâm lý của chính mình. Do đó, có thể nói tâm lý của con người
chỉ có thể được bộc lộ, hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động
 Đặc điểm của hoạt động
- Tính đối tượng của hoạt động: đối tượng của hoạt động là cái con
người cần làm ra, cần chiếm lĩnh, là động cơ.
- Tính chủ thể: Hoạt động do chủ thể thực hiện, chủ thể có thể là một
hoặc nhiều người.
- Tính mục đích: Mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế giới

từng chịu. Trải nghiệm để phục vụ lại cho cuộc sống. Chúng ta sống trong
thực tại, trao đổi thông tin với thực tại, nhờ đó chúng ta thu được những kiến
thức và kinh nghiệm sống cho riêng bản thân mình. Từ đó, con người sẽ tự
hoàn thiện mình, cải tạo được thực tại và sống tốt hơn. Như vậy sống và trải
nghiệm là hai khía cạnh luôn song hành với nhau, bổ sung và hoàn thiện cho
nhau.
Quá trình trải nghiệm sẽ chứa yếu tố “thử” và “sai”. Sự trải nghiệm sẽ
mang lại cho con người những kinh nghiệm phong phú. Quá trình trải nghiệm
là quá trình tích luỹ kinh nghiệm, giúp con người hình thành vốn kinh
nghiệm, vốn sống, hình thành phẩm chất và năng lực người.
 Đặc điểm của trải nghiệm
- Con người được trực tiếp tham gia vào các loại hình hoạt động và các
mối quan hệ giao lưu phong phú một cách tự giác.

8


- Con người được thử nghiệm, thể hiện bản thân trong thực tế, từ đó
hiểu mình hơn, tự phát hiện những khả năng của bản thân.
- Con người được tương tác, giao tiếp với người khác, với tập thể, với
cộng đồng, với sự vật hiện tượng, … trong cuộc sống.
- Con người thực sự là một chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo.
Trải nghiệm luôn chứa đựng hai yếu tố không thể tách rời, đó là hành
động và xúc cảm, thiếu một trong hai yếu tố đó đều không mang lại hiệu quả.
Kết quả của trải nghiệm là hình thành kinh nghiệm mới, hiểu biết mới, năng
lực mới, thái độ, giá trị mới…
 Các dạng trải nghiệm
Có rất nhiều dạng trải nghiệm
- Căn cứ vào phạm vi diễn ra hoạt động của học sinh: trải nghiệm trên
lớp học, trải nghiệm ngoài trời…

trường hoạt động của con người.
 Các dạng sáng tạo
- Căn cứ vào loại hình hoạt động của con người: sáng tạo trong học tập,
sáng tạo trong lao động sản xuất, …
- Căn cứ vào lĩnh vực của đời sống xã hội: sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo
công nghệ, sáng tạo kĩ thuật,…
- Căn cứ vào tính chất của sản phẩm sáng tạo: Sáng tạo biểu đạt, sáng
tạo sáng chế, sáng tạo phát kiến, sáng tạo cải biến.
Để tạo ra một sản phẩm sáng tạo cần sự chuẩn bị, suy nghĩ, nảy sinh ý
tưởng mới, sự huy động cao độ toàn bộ sức mạnh trí tuệ của chủ thể sáng tạo.
Từ việc tìm hiểu và xem xét các thuật ngữ “hoạt động”, “trải nghiệm”,
“sáng tạo”, chúng ta nhận thấy rằng thuật ngữ HĐTNST tuy được cấu thành
từ hoạt động, trải nghiệm và sáng tạo nhưng không dừng lại ở phép cộng đơn
thuần ba thuật ngữ trên, bởi trong hoạt động đã có yếu tố trải nghiệm và sáng
tạo.

10


Do đó, việc tổ chức HĐTNST cần tạo điều kiện tối đa để học sinh được
tham gia trực tiếp vào các loại hình hoạt động giáo dục phong phú, được thực
hành, thử nghiệm bản thân trong thực tế, được tương tác, giao tiếp với sự vật,
hiện tượng, con người (bạn, nhóm bạn, tập thể lớp, thầy cô giáo, …). Đặc biệt
thông qua hoạt động, các em hình thành những cảm xúc tích cực - yếu tố quan
trọng hình thành nên thái độ tốt, tình cảm tốt, say mê, quyết tâm,… tạo dựng
niềm tin cá nhân.
Tóm lại, chỉ có những hoạt động giáo dục có mục đích, có tổ chức nhằm
hình thành phẩm chất và năng lực cho người học, cụ thể hơn là đối tượng học
sinh, đảm bảo ba yếu tố hoạt động – trải nghiệm – sáng tạo mới được gọi là
HĐTNST.

người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định. Sự sáng
tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới,
không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống
tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và phân
tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc
lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết
để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề. …
Từ các quan điểm của nhà giáo dục, nhà chuyên môn, sau khi nghiên
cứu và tổng hợp, em đồng ý với quan điểm về khái niệm của HĐTNST như
sau: “HĐTNST là một hoạt động giáo dục tích cực, tự giác có mục đích,
được tổ chức theo phương thức tạo điều kiện cho học sinh tham gia trực
tiếp vào các loại hình hoạt động và giao lưu, nhằm hình thành và phát triển
cho học sinh những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị và kĩ năng
sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại (hay

12


nói cách khác là phát triển toàn diện nhân cách học sinh), nhằm mục đích
tạo nhiều cơ hội để học sinh được tham gia trực tiếp vào hoạt động, phát
huy khả năng sáng tạo, tạo ra cái mới có giá trị đối với bản thân và xã hội”.
1.2. Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
 MỤC TIÊU CHUNG
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành và phát triển phẩm
chất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội...; giúp học sinh tích luỹ kinh
nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, làm
tiền đề cho mỗi cá nhân tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau
này.
 MỤC TIÊU CỦA GIAI ĐOẠN GIÁO DỤC CƠ BẢN

- Thể dục thể thao
- Định hướng nghề nghiệp
Nô ̣i dung hoa ̣t đô ̣ng trải nghiê ̣m sáng ta ̣o gồ m phầ n bắ t buô ̣c (bao gồm
cả các hoạt động tập thể) và tự cho ̣n (TC3), đươ ̣c thiế t kế theo nguyên tắ c tích
hơ ̣p, hoặc đồ ng tâm kế t hơ ̣p với tuyế n tiń h. Nô ̣i dung hoa ̣t đô ̣ng trải nghiê ̣m
sáng ta ̣o đươ ̣c xây dựng thành các chủ đề mang tính chất mở và tương đối độc
lập với nhau dựa trên các lĩnh vực của đời số ng kinh tế , sản xuất, khoa học
công nghệ, giáo dục, văn hoá, chính tri ̣ xã hô ̣i,... của điạ phương, vùng miề n,
đất nước và quố c tế để học sinh và nhà trường lựa chọn, tổ chức thực hiện
một cách phù hợp, hiệu quả.
Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo tập
trung vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kỹ năng
sống,... Thông qua hoạt động trải nghiệm học sinh được bước vào cuộc sống
xã hội, được tham gia các dự án học tập, các hoạt động thiện nguyện, hoạt
động lao động, các loại hình câu lạc bộ khác nhau,... Bằng hoạt động trải
nghiệm của bản thân, mỗi học sinh vừa là người tham gia, vừa là người kiến

14


thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình nên học sinh không những biết
cách tích cực hoá bản thân, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân mà còn
biết cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch,
có trách nhiệm. Đặc biệt, ở giai đoạn này, mỗi học sinh cũng bắt đầu xác định
được năng lực, sở trường, và chuẩn bị một số năng lực cơ bản cho người lao
động tương lai và người công dân có trách nhiệm.
Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, chương trình hoạt động
trải nghiệm sáng tạo được tổ chức gắn với nghề nghiệp tương lai chặt chẽ
hơn, hình thức câu lạc bộ nghề nghiệp phát triển mạnh hơn. Học sinh sẽ được
đánh giá về năng lực, hứng thú,... và được tư vấn để lựa chọn và định hướng

Đồng thời thông qua câu lạc bộ, thầy cô, nhà trường, xã hội hiểu và quan
tâm hơn đến nhu cầu, nhận ra được tiềm năng, từ đó nâng đỡ các em phát
triển hơn.
Câu lạc bộ hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh
hoạt định kì và được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau: CLB văn hoá
nghệ thuật, CLB thể dục thể thao, CLB học thuật, CLB võ thuật, CLB hoạt
động thực tế, …
Toán là một phần trong CLB học thuật bên cạnh các ngành nghiên cứu
khác như: Hoá học, tiếng Anh, … . Từ việc tham gia CLB, học sinh được
khắc sâu những kiến thức đã học cũng như mở rộng thêm rất nhiều kiến thức
chuyên sâu bên cạnh việc phát triển kĩ năng và thái độ của bản thân.
 Trò chơi
Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí nhưng hình thức này không
chỉ là dừng lại ở đó mà nó còn có tác dụng giáo dục rất tích cực nếu chúng ta
lồng ghép những nội dung, bài học có ý nghĩa giáo dục thông qua món ăn tinh
thần này.

16


Trò chơi là một hình thức có nhiều thuận lợi: phát huy tính sáng tạo, hấp
dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh tiếp thu bài mới; giúp truyền
tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo bầu không khí thân thiện;
tạo tác phong nhanh nhẹn cho học sinh;…
Do đó, trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau
của HĐTNST, có thể tổ chức ở không gian trong cũng như ngoài lớp học, nhà
trường. Trong không gian lớp học mà nhỏ hơn là phạm vị các tiết học, trò
chơi có thể được dùng ở bất kì bước nào: để làm quen, khởi động; dẫn nhập
vào nội dung học tập; cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả; rèn
luyện kĩ năng và củng cố tri thức tiếp nhận; …

làm việc nhóm. Bên cạnh đó, tuỳ thuộc vào đối tượng học sinh ta có thể sử
dụng các phương pháp khác.
Điều quan trọng là các phương pháp được lựa chọn cần phát huy cao độ
sự chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh và khai thác tối đa kinh nghiệm
mà các em có.
 Phương pháp giải quyết vấn đề
Đây là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy,
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. Học sinh được đặt trong
những tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề, học sinh sẽ
lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp.
Trong tổ chức HĐTNST, phương pháp giải quyết vấn đề thường được
vận dụng khi học sinh cần phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp
trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động. Phương
pháp này giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn trước mỗi sự vật, hiện tượng
không chỉ nảy sinh trong học tập mà còn cả thực tế cuộc sống.
Để phương pháp này được tiến hành hiệu quả, vấn đề được đưa ra cần
sát với mục tiêu của hoạt động, kích thích học sinh tìm tòi giải quyết. Việc

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status