ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ MINH NGA
CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT
TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ MINH NGA
CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT
TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu
HÀ NỘI - 2017
gợi mở cho Việt Nam ...................................................................................... 24
1.2.1. Công ước của ILO về chế độ tử tuất ..................................................... 24
1.2.2. Chế độ tử tuất trong pháp luật của một số nước ................................... 26
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 33
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT TRONG LUẬT BẢO
HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN ..... 34
2.1. Thực trạng các quy định về chế độ tử tuất trong Luật Bảo hiểm xã hội
năm 2014 ......................................................................................................... 34
2.1.1. Thực trạng quy định chế độ tử tuất trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc ... 34
2.1.2. Thực trạng quy định chế độ tử tuất trong loại hình bảo hiểm xã hội
tự nguyện ........................................................................................................ 45
2.2. Những điểm mới của chế độ tử tuất trong luật BHXH năm 2014 ........... 49
2.3. Thực tiễn thi hành chế độ tử tuất tại tỉnh Nghệ An.................................. 54
2.3.1. Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội tại tỉnh Nghệ An .......................... 54
2.3.3. Nhận xét chung về thực thi chế độ tử tuất trên địa bàn tỉnh Nghệ An . 60
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 69
Chƣơng 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN
THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ............................................................. 70
3.1. Những yêu cầu đặt ra cần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế
độ tử tuất.......................................................................................................... 70
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ
tử tuất............................................................................................................... 74
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tử tuất trên
địa bàn tỉnh Nghệ An ...................................................................................... 79
3.3.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về chế độ tử tuất ............................ 79
3.3.1. Về nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ trên địa bàn tỉnh Nghệ An...... 83
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 86
người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội”.
Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế thị
trường - nơi mà có những nhóm người gặp rủi ro, bất hạnh, bị giảm hoặc mất
thu nhập, rơi vào tình trạng không tự lo được cuộc sống hoặc bị rơi vào vị trí
yếu thế trong xã hội. Ở Việt Nam, BHXH là trụ cột trong hệ thống an sinh xã
hội, đóng vai trò to lớn trong việc góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho
cán bộ, công chức, quân nhân và người lao động. Bên cạnh việc quy định các
chế độ ưu việt cho người trực tiếp tham gia, thì BHXH còn góp phần hỗ trợ,
ổn định đời sống đối với đối tượng thụ hưởng gián tiếp. Một trong số các chế
độ đó chính là chế độ tử tuất, đây là khoản trợ cấp đối với nhân thân, gia đình
người tham gia BHXH đã mất nhằm mục đích hỗ trợ một phần chi phí mai
táng, trợ cấp cho những người mà khi còn sống, người tham gia BHXH có
trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc quy định chế độ tử tuất
nằm trong hệ thống chế độ BHXH thể hiện tính ưu việt của chế độ, đã và
đang phát huy nhiều mặt tích cực, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần ổn định
và nâng cao đời sống nhân dân. Chế độ tử tuất là một chế độ nằm trong hệ
thống các chế độ của BHXH có số lượng đối tượng thụ hưởng chiếm tỷ lệ lớn.
Theo số liệu báo cáo của BHXH Việt Nam, kết quả thực hiện 5 năm sau khi
Luật Bảo hiểm xã hội 2006 có hiệu lực 2007 - 2012, có bình quân 21.048
người/ năm hưởng trợ cấp tuất hàng tháng, 26.788 người hưởng trợ cấp tuất
1
một lần. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 tiếp tục dành 8 Điều (từ Điều 66 đến
Điều 71, Điều 80 và Điều 81) để quy định về chế độ tử tuất, bộ luật đã tiếp
thu, sửa đổi những hạn chế, bất cập trong Luật Bảo hiểm xã hội 2006, ở thời
điểm tác giả nghiên cứu về chế độ tử tuất thì Luật Bảo hiểm 2014 đã có hiệu
lực và bước đầu thể hiện sự phù hợp, đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết
đặt ra trong tình hình kinh tế hiện thời, tuy nhiên với sự phát triển rất đa dạng
của đời sống xã hội sẽ không tránh khỏi những bất cập trong những quy định
một trong số các chế độ thuộc hệ thống pháp luật BHXH Việt Nam, đánh giá
những ưu điểm, những hạn chế về quy định pháp luật về chế độ tử tuất và việc
thực thi chế độ này trong thực tế, từ đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện
quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ tử tuất
là cần thiết và không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào trước đây.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Luận văn làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về chế độ tử tuất và
sự điều chỉnh của pháp luật về chế độ tử tuất. Ngoài ra, luận văn rút kinh
nghiệm pháp luật về chế độ tử tuất trong pháp luật của một số nước trên thế
giới để từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam cũng được tác giả luận văn đề
cập đến.
- Luận văn đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về chế độ tử
tuất, thực trạng thực hiện các quy định này trong thực tiễn để từ đó đưa ra một
số nhận xét về chế độ tử tuất cả về thành công và hạn chế. Luận văn đề xuất
một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tử
tuất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện trong thực tiễn chế độ tử tuất từ
thực tiễn tỉnh Nghệ An.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về chế độ tử tuất
3
trong hai loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện trong Luật BHXH
năm 2014 và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Nghệ An.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận của pháp luật về chế độ tử
tuất nói chung và các điểm mới trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014, và các văn
bản hướng dẫn. Ngoài ra, trên cơ sở so sánh với những ưu điểm và tồn tại của
Luật Bảo hiểm 2006, đồng thời đánh giá sự phù hợp của Luật Bảo hiểm 2014
tập, nghiên cứu hoặc bất kỳ ai quan tâm đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chế độ tử tuất.
Chương 2: Thực trạng chế độ tử tuất trong luật BHXH năm 2014 và
thực tiễn thực tại tỉnh Nghệ An.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả thực hiện chế độ tử tuất trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỬ TUẤT VÀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT
1.1. Chế độ tử tuất
1.1.1. Thuật ngữ tử tuất
Trong xã hội, con người là trung tâm của mọi sự phát triển xã hội, vừa
là đối tượng trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa là đối tượng tiêu dùng.
Con người có nhiều nhu cầu khác nhau và để thỏa mãn những nhu cầu đó phụ
thuộc nhiều vào khả năng tài chính của mỗi người. Tuy nhiên, trong thực tế
cuộc sống cũng như quá trình sản xuất ngoài những điều kiện thuận lợi, con
người sẽ gặp phải nhiều rủi ro như: ốm đau, tai nạn, bệnh tật, dịch bệnh, mất
việc làm, mất khả năng lao động, già cả, bị chết…. Để vượt qua những khó
khăn tác động đến bản thân, gia đình con người cần có sự đùm bọc, chia sẻ từ
xã hội. Trong quy luật phát triển của mỗi người, luôn trải qua các giai đoạn:
sinh - lão - bệnh - tử, vì vậy, cuộc đời mỗi người, không phân biệt tôn giáo,
chủng tộc, màu da, điều kiện kinh tế cuối cùng đều phải đối mặt với cái chết,
tuy nhiên, việc cuộc đời mỗi người dài hay ngắn, và rủi ro xảy đến với mỗi
người có thể vào bất kì giai đoạn nào và với mỗi hoàn cảnh thì rủi ro đó lại có
những tác động khác nhau đến những người thân của họ.
Đối với các con của người lao động chết, Công ước số 102 (năm 1952)
và Công ước số 128 (năm 1967) đều định nghĩa là: con dưới 15 tuổi hoặc
dưới độ tuổi học hết giáo dục phổ cập bắt buộc, tùy theo quy định của pháp
luật từng quốc gia, bao gồm con đẻ và con nuôi mà người chết đã được trực
tiếp nuôi dưỡng khi còn sống. Con đẻ có thể là con chung của vợ hoặc chồng,
có thể là con riêng của chồng hay của vợ nhưng đều sống chung trong gia
đình, kể cả con ngoài giá thú vì trong bảo hiểm xã hội không có sự phân biệt
mà vẫn được xếp vào hàng thân nhân để xét hưởng tiền tuất theo quy định của
7
chế độ tử tuất. Nhiều nước giới hạn tuổi của các con được xét hưởng tiền tuất
khoảng 14 tuổi trở xuống hoặc thấp dưới 18 tuổi nếu con còn đi học. Đối với
trẻ em tàn tật thì thường không có giới hạn tuổi.
Do đó, khi người lao động chết, gia đình sẽ nhận khoản trợ cấp nhằm
bảo đảm và ổn định cuộc sống khi họ không còn tồn tại. Bảo hiểm xã hội với
bản chất là bảo hiểm cho thu nhập của người lao động trong trường hợp bị
giảm hoặc mất khả năng lao động nên cũng sẽ có trách nhiệm trợ giúp cho
thân nhân của người lao động - những đối tượng được hưởng từ thu nhập của
người lao động tham gia bảo hiểm khi còn sống.
Có quan điểm cho rằng: “Chế độ tử tuất là chế độ bảo hiểm xã hội đối
với thân nhân của người lao động đang tham gia lao động hoặc đã tham gia
quan hệ lao động nay đang hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm mà bị
chết.” (1)
Có quan điểm khác cũng cho rằng: “Chế độ tử tuất là chế độ do quỹ
bảo hiểm xã hội chi trả chi phí mai táng người lao động khi chết cho người
đứng ra lo mai táng và nuôi dưỡng những người mà khi còn sống người lao
động phải có trách nhiệm nuôi dưỡng.” (2).
Theo tôi, chế độ tử tuất là: chế độ do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả, gồm:
chi phí mai táng cho người lao động khi chết mà người lo mai táng chịu trách
làm căn cứ phát sinh chế độ tử tuất là rủi ro dẫn đến cái chết của người tham
gia bảo hiểm. Do những sự kiện và rủi ro này mà người lao động và những
người được họ chu cấp bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập. Vì vậy, những
người phụ thuộc một phần (hoặc hoàn toàn) vào thu nhập của người lao động
cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù đắp
này được thông qua các trợ cấp tiền tuất. Tuy nhiên, để đám bảo sự công
bằng, tất yếu phải có các điều kiện làm phát sinh quyền lợi đối với bên thụ
hưởng chế độ. Đây là đặc thù riêng của chế độ tử tuất so với các chế độ khác
9
trong hệ thống bảo hiểm xã hội. Bởi vì, chế độ tử tuất có thể được xem là chế
độ bảo hiểm gián tiếp - dành cho người còn sống mà người đó không nhất
thiết phải là đối tượng tham gia bảo hiểm. Mỗi quốc gia có những quy định
riêng về điều kiện được nhận trợ cấp tuất đối với thân nhân người lao động
chết tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia đó, tuy nhiên tất cả
các quy định này đều được xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá sự tổn thất
của gia đình khi người lao động chết đi và mức độ phụ thuộc của từng thân
nhân vào người lao động khi họ còn sống.
Thứ ba, sự đóng góp của các bên tham gia chế độ tử tuất, bao gồm
người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước là nguồn hình thành cơ
bản của quỹ BHXH nói chung, trong đó có quỹ hưu trí, tử tuất. Mọi người lao
động khi tham gia BHXH trong đó có chế độ tử tuất có quyền được thanh
toán trợ cấp tuất khi chết, tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực
khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH. Điều này xuất phát từ nguyên
tắc chính của bảo hiểm xã hội là “có thu có hưởng”. Người chủ sử dụng lao
động cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động mà mình
thuê mướn. Nhà nước đóng góp vào quỹ tử tuất với hai tư cách: là NSDLĐ
đóng góp vào quỹ tử tuất cho đội ngũ cán bộ hưởng lương từ ngân sách nhà
nước và với tư cách là chủ thể bảo hộ chế độ tử tuất có trách nhiệm đóng góp
quỹ tử tuất từ những người tham gia và có trách nhiệm chi trả các khoản trợ
cấp cho các bên được hưởng chế độ khi có sự kiện phát sinh, đồng thời còn có
nghĩa vụ đầu tư phát triển quỹ tử tuất. Bên được hưởng chế độ là thân nhân của
người lao động nhận các khoản trợ cấp tiền tuất khi phát sinh nhu cầu bảo hiểm.
Việc tham gia vào quỹ tử tuất còn chịu sự giám sát chặt chẽ của người
lao động (thông qua tổ chức công đoàn) và người sử dụng lao động (thông
qua tổ chức của giới chủ) theo cơ chế ba bên. Đây cũng là đặc trưng rất riêng
của chế độ các chế độ BHXH trong đó có chế độ tử tuất. Tất cả những khía
11
cạnh đã nêu trên, một lần nữa cho thấy, chế độ tử tuất được lập ra là để tác
động vào thu nhập theo lao động của người lao động tham gia BHXH. Nói
cách khác, chế độ tử tuất nhằm bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người
lao động trong trường hợp người này bị chết nhằm thỏa mãn những nhu cầu
sinh sống thiết yếu cho thân nhân của họ.
Các mối quan hệ của chế độ tử tuất với những đặc điểm nêu trên, có
mối quan hệ rất đa dạng và nhiều chiều, nhiều tầng; có những mối quan hệ
bên trong của chế độ tử tuất và quan hệ giữa chế độ tử tuất với các chế độ
khác trong hệ thống BHXH.
* Mối quan hệ nội tại của chế độ tử tuất: Mối quan hệ xuyên suốt
trong mọi hoạt động là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi
của các bên tham gia và bên thụ hưởng chế độ. Khác với bảo hiểm thương
mại, trong mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên:
bên tham gia chế độ, bên thực hiện chế độ và bên được thụ hưởng chế độ. ở
đây cũng cần làm rõ, ba bên trong chế độ tử tuất khác với ba bên trong quan
hệ lao động. Nếu như trong quan hệ lao động, ba bên bao gồm Nhà nước,
người sử dụng lao động và người lao động, thì trong quan hệ chế độ tử tuất ba
bên này chỉ là một bên tham gia chế độ là bên có trách nhiệm đóng góp vào
quỹ tử tuất theo quy định của pháp luật. Bên tham gia BHXH, như đã nêu,
là nhân thân của người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật, khi họ
có phát sinh nhu cầu và đáp ứng các điều kiện được do pháp luật quy định.
Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về nghĩa vụ, trách nhiệm và
quyền lợi, trên cơ sở các quy định của pháp luật (khác với bảo hiểm thương
mại là trên cơ sở hợp đồng). Nếu không thực hiện đúng các quy định về nghĩa
vụ, trách nhiệm đóng góp (của bên tham gia bảo hiểm) cũng như trách nhiệm
đảm bảo quyền lợi cho người thụ hưởng (của bên thực hiện bảo hiểm), thì đều
là vi phạm pháp luật về BHXH.
13
* Mối quan hệ bên ngoài: Với tư cách là một chính sách, chế độ tử
tuất có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác của hệ thống bảo hiểm
xã hội mỗi quốc gia mà trước hết là với chính sách về an sinh xã hội và các
chính sách xã hội. Trong hệ thống bảo hiểm xã hội của một quốc gia, gồm các
bộ phận: chế độ hưu trí, chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao
động - bệnh nghề nghiệp, chế độ tử tuất… Trong đó, chế độ tử tuất là một
trong những chế độ cơ bản nhất hình thành trên rủi ro tất yếu mà ai cũng sẽ
trải qua theo quy luật của tự nhiên là sinh ra - chết đi, quỹ tử tuất cũng là
nguồn quỹ chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu chung của quỹ BHXH. Chính sách
về chế độ tử tuất có mối quan hệ hữu cơ hoặc chịu ảnh hưởng bởi các chính
sách xã hội khác như chính sách dân số; chính sách lao động - việc làm; chính
sách chăm sóc sức khỏe dân cư…Mỗi sự thay đổi của chính sách xã hội đều
có những ảnh hưởng nhất định hoặc tích cực, hoặc tiêu cực đến chính sách về
chế độ tử tuất.
1.1.4. Nguyên tắc chế độ tử tuất
Thứ nhất, nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội và đảm bảo
thực hiện chế độ tử tuất
Sự quản lý của nhà nước trước hết phải xuất phát từ chức năng của Nhà
nước. Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu cao nhất, người đại diện cho toàn
Nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia chế độ tử tuất được thể hiện rõ
nhất ở việc quy định phạm vi đối tượng áp dụng chế độ tử tuất. Nguyên tắc
này được thể hiện trong các quy định cả BHXH bắt buộc và BHXH tự
nguyện, theo đó những đối tượng chưa thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc
sẽ thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện và cả hai loại hình BHXH này đều
có chế độ tử tuất. [4]
Đối với người có quan hệ lao động, quyền tham gia chế độ tử tuất của
NLĐ được quy định cho chủ sử dụng lao động. NSDLĐ có NLĐ thuộc diện
15
tham gia bảo hiểm thì có nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho NLĐ, đối với những
trường hợp không tuân thủ theo quy định thì sẽ bị xử phạt theo quy định của
pháp luật. Đối với những người không tham gia quan hệ lao động mà vẫn
trong độ tuổi lao động thì sẽ thuộc diện tham gia bảo hiểm tự nguyện. Đối với
những người đã từng tham gia quan hệ lao động nay đang được hưởng các trợ
cấp do mất sức lao động hoặc tuổi già cũng xem xét là người tham gia chế độ
tử tuất và thu nhập của họ cũng là đối tượng được bảo hiểm khi họ chết.
Thứ ba, chế độ tử tuất được chi trả trong mọi trường hợp người lao
động chết.
Là một chế độ quan trọng trong hệ thống các chế độ nhằm đảm bảo an
sinh xã hội, chế độ tử tuất không phân biệt nam, nữ, không phân biệt dân tộc,
tôn giáo, không phân biệt khu vực làm việc khi tham gia đóng góp BHXH nếu
đủ điều kiện theo những quy định đã đề ra thì người thân của họ đều được
hưởng quyền lợi về chế độ trên cơ sở mức đóng góp của người tham gia khi
còn sống. Nguyên tắc này tạo cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi cho mọi người
lao động đồng thời khuyến khích mọi người lao động tham gia vào quỹ
BHXH.
Thứ tư, mức hưởng chế độ tử tuất dựa trên cơ sở thời gian đóng bảo
hiểm xã hội và chia sẻ giữa những người tham gia chế độ tử tuất
cơ sở mức đóng, thời gian đóng và có chia sẻ cộng đồng, phải đảm bảo ý
nghĩa bù đắp thu nhập, cân đối tài chính giữa thu và chi đồng thời phải căn cứ
vào tình hình thực tế nền kinh tế - xã hội và các quy định chung của luật pháp
quốc tế.
Thứ năm, chế độ tử tuất được thực hiện trên cơ sở lấy số đông bù số ít
Quỹ tử tuất là một quỹ thành phần nằm trong quỹ BHXH, là một quỹ
tài chính tập trung được tồn tích dần bởi sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và
có sự hỗ trợ một phần của Nhà nước. Tuy nhiên, NSDLĐ đóng vào quỹ
17
BHXH không phải trực tiếp cho bản thân họ mà cho NLĐ do mình sử dụng.
NLĐ đóng vào quỹ tử tuất để bảo hiểm cho người thân của mình. Tuy thế,
không phải bất kì ai tham gia đóng vào quỹ tử tuất đều được chi trả mức tiền
trợ cấp tuất giống nhau mà chỉ khi họ gặp rủi ro và người thân của họ đáp ứng
đầy đủ các điều kiện cụ thể do pháp luật quy định mới được hưởng. Thông
thường, mức chi cho trợ cấp tuất thường chiếm tỉ lệ nhỏ hơn tổng số mức
đóng mà người tham gia đóng góp, và trong số đông những người tham gia
đóng góp thì chỉ những người tham gia gặp rủi ro mới được hưởng chế độ.
Nhở đảm bảo nguyên tắc số đông bù số ít trên cơ sở hình thành quỹ
BHXH tập trung độc lập mà BHXH thực hiện được phương thức vốn có của
mình là chia sẻ rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện phân phối lại thu nhập,
trên cơ sở đó, mục đích BHXH được thể hiện. Nguyên tắc số đông bù số ít là
nguyên tắc thể hiện tính nhân đạo và cộng đồng của hoạt động BHXH, trong
đó có chế độ tử tuất, có tác dụng điều hòa thu nhập, tạo ra sự ổn định chung
cho xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách toàn diện và bền vững.
Thứ sáu, quỹ tử tuất là một bộ phận của quỹ BHXH được quản lý
thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độc lập.
Chế độ tử tuất là một chính sách ảnh hưởng đến đời sống xã hội, chứa
đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý. Để đảm bảo
Về thực chất thì chế độ này nhằm mục đích trợ giúp một phần cho
những phí tổn mà người thân của người lao động phải chi trả cho việc tang lễ,
chôn cất người lao động chết. Mặc dù hình thức, cách thức cũng như phương
thức tổ chức ma chay ở mỗi nước, mỗi địa phương là khác nhau, phụ thuộc
vào phong tục, tập quán nhưng cho dù ở bất cứ đâu khi người lao động qua
đời, người thân của họ dù ít hay nhiều đều phải bỏ ra một khoản chi phí nhất
định để tổ chức tang lễ. Do đó, khoản trợ cấp mai táng phí sẽ chia sẻ phần nào
gánh nặng về tài chính này. Ở bất kể xã hội nào không phải mọi người lao
19