Giới thiệu nhà thơ chiến sĩ Thủ Khoa Huân. - Pdf 47

Giới thiệu nhà thơ chiến sĩ Thủ Khoa Huân.
Thủ Khoa Huân (1830 - 1875), tên thật Nguyễn Hữu Huân, là một sĩ phu yêu
nước, là một lãnh tụ khởi nghĩa chống thực dân Pháp ở các tỉnh Miền Đông
Nam Kỳ (Việt Nam).
Thủ Khoa Huân, người làng Mỹ Tịnh An, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định
Tường; nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Thưở nhỏ ông thông minh và học giỏi. Năm 1852 (triều Tự Đức), ông dự thi
Hương và đỗ đầu, nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Sau đó, ông được bổ
nhiệm làm Giáo thụ huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường.
Khi Pháp xâm lược ba tinh miền Đông Nam kỳ (trong đó có tỉnh Định
Tường, quê ông), cũng giống như nhiều nhà nho yêu nước ở Nam kỳ, ông đã
từ bỏ dạy học, cầm vũ khí đứng lên chống Pháp năm 1860.
Năm 1861, ông cùng nghĩa quân hoạt động trên địa bàn từ Tân An đến Mỹ
Tho. Đầu năm 1862, bị Pháp đánh úp, bắt và giải ông về Sài Gòn. Lựa lúc
đối phương sơ hở, ông trốn thoát được. Đầu năm sau, ông cùng Võ Duy
Dương (Thiên Hộ Dương) chiêu mộ nghĩa binh để khởi nghĩa lần thứ hai.
Tháng 6 năm 1863, lúc ban đêm Pháp bất ngờ đem quân càn quét căn cứ
Thuộc Nhiêu (Cai Lậy, Định Tường), ông chuyển về vùng Thất Sơn (tức
vùng Bảy Núi, An Giang) tiếp tục đấu tranh. Pháp rất lo ngại nên gửi tối hậu
thư, buộc Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thân phải giao nộp Thủ Khoa
Huân cho họ làm tội, viện lẽ ông Huân không tuân theo hòa ước 1862. Án
sát Phạm Hoàng Đạo hay tin tâu lên vua Tự Đức, xin đưa ngay Nguyễn Hữu
Huân về Huế. Thế nhưng do áp lực của người Pháp, tháng 7 năm 1864,
Tổng đốc Thân đã phớt lờ lệnh vua, bắt ông giao nộp cho thực dân.
Sách Nửa tháng trong miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu có đoạn: “Sau
khi De la Grandière biết tin Thủ Khoa Huân lẫn trốn ở Thất Sơn, viên sĩ
quan Pháp này buộc Tổng đốc An Giang phải bắt ông Huân, giao cho họ làm
tội. Tổng đốc An Giang không thuận. Tức thời, Doudart de Lagrée được
lệnh đem 500 quân cùng đại bác từ Oudong xuống huy hiếp Thành An
Giang. Trước áp lự đó, Tổng đốc An Giang đành nhượng bộ.” (NXB Trẻ,
2006, tr. 155).

Nhưng đốc binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc, đã dẫn quân bắt Nguyễn
Hữu Huân ở Chợ Gạo ngày 15 tháng 05 năm 1875, rồi đem giam ông tại Mỹ
Tho.

Sau bốn ngày dùng mọi mưu chước chiêu hàng không thành, Pháp kết án tử
hình Nguyễn Hữu Huân. Trước khi thụ hình, ông nhắn vợ con tế sống mình
trong một tuần và xin vải viết bài thơ tuyệt mệnh và hai câu đối để thờ.
Ngày 19 tháng 5 năm 1875 (14 tháng 4 âm lịch năm Ất Hợi), Pháp cho tàu
chở ông xuôi theo dòng Bảo Định về Mỹ Tịnh An, để hành quyết tại Bến
Tranh lúc 12 giờ trưa. Năm ấy ông 45 tuổi.
***
Không rõ Thủ Khoa Huân có làm nhiều thơ không (1), nhưng chỉ bấy nhiêu
bài còn lại sau đây, bài nào cũng bộc lộ được tinh thần bất khuất, kiên
cường, dám xả thân vì nước Việt của ông.
Cho nên, Nguyễn Hữu Huân được ghi nhận là “một hiện tượng đặc sắc của
văn học yêu nước thế kỷ 19 của Việt Nam: hiện tượng nhà thơ - chiến sĩ.
Bài thơ chữ Hán dưới đây, ông làm trước khi bị chém, nay được tạc nơi bia
mộ ông.
Sau đây là bản dịch của Phan Bội Châu:

Ruổi dong vó ngựa trả thù chung
Binh bại cho nên mạng phải cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,
Hơn thua xá kể với anh hùng.
Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ.
Quyết thác không hàng, rạng núi sông.
Tho thuỷ ngày rày pha máu đỏ,
Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong.

(Quân Hồ lỗ ý nói quân mọi rợ, ám chỉ giặc ngoại xâm. Tho thủy: Sông Mỹ

Vần thơ cố quốc chẳng ra lời.
Cương thường bởi biết mang nên nặng,
Hễ đứng làm trai trả nợ đời.
Nhân nhà Tổng đốc Phương có tiệc, ông làm bài này để đọc cho mọi người
nghe:
Nghĩ thẹn râu mày với nước non
Nhìn nay tùng, cúc bạn xưa còn.
Miếu đường cách trở niềm tôi chúa,
Gia thất riêng buồn nỗi vợ con.
Áo Hán nhiều phen thay vẻ lạ,
Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon
Giang Đông nổi tiếng nhiều tay giỏi,
Cuốn đất kìa ai, dám hỏi đon!
Qua hình ảnh “cây bắp”, để tỏ bày tấm lòng cùng khát vọng của ông:
Luống chịu ba trăng trấn cõi bờ,
Hiềm vì thương chút chúng dân thơ.
Nương oai tích lịch ôm con đỏ,
Vâng lịnh nam phong phất ngọn cờ.
Miễn đặng an nhà cùng lợi nước
Chỉ nài dãi gió với dầm mưa.
Biển hồ dầu lặng, tằm kình bặt
Giải giáp một phen chúng thảy nhờ.
(Oai tích lịch: oai sấm sét)
Hai câu đối do Nguyễn Hữu Huân làm trước khi bị thụ hình, hiện được treo
trang trọng tại bàn thờ của ông.
Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị,
Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân.
Tạm dịch:
Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng
Tuy công chưa thành, cũng đành một thác báo ơn vua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status