Đặc điểm cái tối trữ tình của các nhà thơ chiến sĩ thời chống Mỹ cứu nước (Qua Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Vương Trọng - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN TƯỜNG ANH
ĐẶC ĐIỂM CÁI TÔI TRỮ TÌNH CỦA CÁC NHÀ THƠ
CHIẾN SĨ THỜI CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(QUA NGUYỄN ĐỨC MẬU, ANH NGỌC, VƯƠNG TRỌNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32 Người hướng dẫn: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Hà Nội – 11/2010 1
MỤC LỤC!

Lời cảm ơn 3
Mở đầu 4
Chương 1: Bối cảnh thời đại và sự xuất hiện của các nhà thơ chiến
sĩ 8
1.1. Bối cảnh thời đại 8

Chương 3: Cái tôi thế sự - đời tư của ba nhà thơ Anh Ngọc, Vương Trọng,
Nguyễn Đức Mậu 86
3.1. Anh Ngọc – cái tôi sâu lắng nhiều trăn trở 87
3.2. Vương Trọng – cái tôi đằm thắm ân tình 102
3.3. Nguyễn Đức Mậu-cái tôi nồng hậu, khỏe
khoắn 112
Kết luận 124
Tài liệu tham khảo 127 4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thơ là “vương quốc của chủ quan”, là “biểu hiện và cảm thụ của chủ thể”
(Heghen). Sáng tạo thơ là một hành động chủ quan, cái chủ quan tồn tại và trở
thành trung tâm quy tụ mọi yếu tố khác. Cả ba nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, Anh
Ngọc, Vương Trọng trong cuộc đời cầm bút của mình đã thể hiện được những cá
tính sáng tạo nghệ thuật riêng.
Lớn lên và trưởng thành trong giai đoạn đất nước đang diễn ra cuộc chiến
tranh chống đế quốc Mỹ, cả ba nhà thơ đều lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi
của quê hương, đất nước, cùng lăn lộn nhiều năm ở các chiến trường, các mặt
trận nóng bỏng, “đôi tay cầm súng, bản thảo trên lưng”. Thơ ca của họ phản ánh
chân thực và sâu sắc hiện thực cuộc chiến tranh, đồng thời góp một “nốt cao”
trong một dàn đồng ca cổ vũ tinh thần của toàn thể dân tộc chiến đấu và chiến

- những bài thơ về Nguyễn Văn Trỗi đã xuất hiện trên mặt báo ngay sau hôm anh
bị hành hình (15- 10 – 1964), những bài thơ như Cuộc chia ly màu đỏ (Nguyễn
Mỹ), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Nấm mộ và cây trầm (Nguyễn Đức
Mậu) đã tái hiện những chi tiết sống của thực tại, đã khắc sâu trong tâm hồn
những con Việt Nam một sức mạnh, một ý chí kiên cường cổ vũ con người chiến
đấu cho quê hương, đất nước, cho những người đã ngã xuống vì độc lập tự do.
Thơ không chỉ phản ánh hiện thực chiến tranh đầy gian khổ hi sinh mà còn phản
ánh những suy nghĩ và tình cảm con người trong cuộc sống. Thơ trữ tình là tiếng
nói trực tiếp của công chúng - là chất men để con người gửi gắm mọi niềm vui,

6
nỗi buồn. Khác với thơ chống Pháp, thơ giai đoạn chống Mỹ là một nền thơ xã
hội chủ nghĩa đã trưởng thành sau hai mươi năm Dân chủ Cộng hòa. Đội ngũ
sáng tác thơ giờ đây ngoài những nhà cách mạng làm thơ và những nhà thơ đi
theo cách mạng, còn có thêm các nhà thơ lớn lên trong kháng chiến chống Pháp
và những nhà thơ sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Có thể
thấy rằng, trong giai đoạn này đội ngũ sáng tác ngày càng đông, số lượng thơ
xuất bản ngày càng nhiều và tầm hoạt động cũng ngày càng mở rộng. Kháng
chiến chống Mỹ là giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Tất cả
những người con của Tổ Quốc đều cầm súng và ra trận theo tiếng gọi của con
tim. Trong những con người ấy, có những nhà thơ mà cuộc đời của họ, sự nghiệp
của họ là cuộc đời và sự nghiệp của một thi nhân, nhưng khi đất nước cần, họ
vẫn sẵn sàng lên đường chiến đấu. Chất lính trong những năm tháng chiến tranh
cùng với một tâm hồn nghệ sĩ đã tạo nên diện mạo của các nhà thơ chiến sĩ.
Trong số vô vàn những nhà thơ ấy, có những người đã để lại dấu ấn sâu sắc
trong lòng người đọc như Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng Việc
nghiên cứu thơ của ba nhà thơ ở “nhà số 4, phố nhà binh” là việc làm cần thiết để
từ đó hình dung ra phần nào diện mạo, tâm hồn của người lính cụ Hồ và những
đặc trưng thẩm mỹ thơ ca giai đoạn này.
3. Mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu. 8

CHƯƠNG 1
BỐI CẢNH THỜI ĐẠI VÀ
SỰ XUẤT HIỆN CỦA BA NHÀ THƠ CHIẾN SĨ
Đất nước ta có truyền thống yêu nước tự ngàn đời. Khí thế hào hùng, ý chí
và lòng căm thù quân xâm lược là dòng chảy bất tận của những người “con Lạc
cháu Rồng”. Khi Tổ Quốc bị ngoại xâm, tất cả con dân đất Việt đều lên đường
đánh giặc, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã tạo nên những chiến công lừng lẫy
khắp địa cầu. Dân tộc Việt Nam bé nhỏ nhưng kiên cường, anh dũng chiến đấu
trong suốt ba mươi năm để giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Cuộc chiến
đấu chống thực dân Pháp vừa giành được thắng lợi thì dân tộc ta lại tiếp tục
đương đầu trong cuộc chiến đấu với đế quốc Mỹ. Và từ đó một chương mới
trong lịch sử hào hùng của dân tộc lại mở ra.
1.1.Bối cảnh thời đại
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội
Ngày 5-8-1964, những quả bom đầu tiên của không quân Mỹ đã dội xuống
miền Bắc Việt Nam. Một thời kỳ lịch sử khốc liệt, dữ dội và oai hùng nhất của
dân tộc Việt Nam bắt đầu. Trên khắp dải đất hình chữ S này, cuộc chiến tranh vệ
quốc vĩ đại của đất nước ta lại diễn ra. Trong suốt hai mươi năm trời ròng rã,
mấy chục triệu người Việt Nam đã sống dưới mưa bom bão đạn. Từ Bắc chí
Nam, từ bầu trời đến mặt đất, từ biển khơi đến núi cao, không nơi nào không có


Nam đã ở vào thế tiến công. Những con số thắng lợi cứ tăng dần lên nhanh
chóng. Xuân Mậu Thân 1968, cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân ta làm
lung lay toàn bộ hệ thống quân đội và chính quyền Mỹ - Ngụy. Chiến thắng
đường 9 Nam Lào đập tan âm mưu chiến lược của Mỹ đối với toàn bộ chiến
trường Đông Dương. Hơn hai năm sau Hiệp định Paris, chiến thắng tuyệt vời ở
Buôn Ma Thuột báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Mỹ - Ngụy ở
miền Nam Việt Nam. Sau đó là sự giải phóng ồ ạt các thành phố và thị xã từ Huế
đến Nha Trang Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã nổi lên như một khúc khải
hoàn ca tuyệt mỹ, kết thúc bản hùng ca giải phóng vĩ đại của nhân dân trong suốt
ba mươi năm chiến đấu kiên cường của dân tộc Việt Nam vào ngày 30 tháng 4
năm 1975 lịch sử. Chiến thắng vang dội đó là kết quả của sức mạnh đoàn kết
một lòng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của Đảng. Dưới
sự chỉ đạo toàn diện về mọi mặt – kinh tế, chính trị, văn hóa theo con đường Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chọn, toàn thể dân tộc ta đã tạo thành một khối thống
nhất, hỗ trợ bổ sung, “cộng hưởng” giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành xuất sắc sứ
mệnh lịch sử của đất nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất
nước.
Trong chiến thắng vĩ đại đó, chúng ta không thể không nhắc đến sự đóng
góp của mặt trận văn hóa, văn nghệ mà thơ kháng chiến chống Mỹ nói chung và
thơ của các nhà thơ chiến sĩ nói riêng chiếm vai trò quan trọng góp phần cổ vũ,
khẳng định niềm tin tất thắng vào cuộc chiến đấu, đồng thời phản ánh một giai
đoạn hào hùng oanh liệt, đáng tự hào của dân tộc.
1.1.2. Đặc điểm thơ ca giai đoạn chống Mỹ

11
Như một điều tất yếu, dòng văn học của bất cứ nước nào nói chung và văn
học Việt Nam nói riêng chịu sự tác động trực tiếp của đời sống xã hội và lịch sử
mà nó đang tồn tại. Mỗi một thời đại, một giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ chi phối
toàn bộ nền văn học thời kỳ đó.Văn học Việt Nam cũng trải qua những bước
thăng trầm theo dòng lịch sử của đất nước. Khi đất nước đang trong tình trạng

ca. Tương lai tươi sáng ấy đã thôi thúc, sưởi ấm cho các nhà thơ có một cái nhìn
mới về cuộc sống, về con người. Lớp nhà thơ trước Cách mạng, lớp nhà thơ mới
xuất hiện kề vai sát cánh tạo nên một diện mạo, phẩm chất mới trong thơ: mới về
nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện, mới về đề tài chất liệu, cảm xúc có
những tìm tòi sáng tạo mà thơ ca trước kia chưa thể nào có được.
Cách mạng tháng Tám là một cuộc đổi đời của dân tộc. Cuộc đổi đời này
đưa đất nước sang một giai đoạn mới. Trên cơ sở độc lập, tự do, những tiền đề
chính trị và mỹ học của văn học mới hình thành. Cách mạng xác định mối quan
hệ giữa văn học và công chúng. Văn học hướng tới những tầng lớp nhân dân
rộng rãi. Tổ quốc độc lập, đất nước giải phóng, nhân dân hạnh phúc là ước mơ,
mục đích, phương hướng mà dân tộc ta tiến hành cách mạng và kháng chiến
chống thực dân Pháp. Lý tưởng ấy được biểu hiện trước hết ở những con người
trực tiếp lao động, chiến đấu, dựng xây đất nước, giải phóng quê hương đất
nước, đi theo lý tưởng của Đảng, của hiện thực cách mạng. Không còn những
phiêu lưu mơ hồ, những lý tưởng viển vông, những dáng dấp hiệp sĩ trên con
đường mênh mang mờ mịt. Trong thơ ca giai đoạn này, chúng ta bắt gặp những
con người mới - con người có lý tưởng, có mục đích. Đó là hình ảnh những anh

13
bộ đội, bà mẹ chiến sĩ, người phụ nữ, những em thiếu niên yêu nước có ý thức
đóng góp sức mình vì nhiệm vụ chung của dân tộc. Âm hưởng chủ đạo trong thơ
tràn đầy lạc quan, tin tưởng, phấn khởi trong lao động sáng tạo và ý thức về cuộc
sống của mình. Thơ đã đi vào cuộc sống thực, đầy khát vọng và niềm tin mà
không lý tưởng hóa cuộc sống. Thơ miêu tả những con người chân đất, nhìn thấy
ở họ những nét đẹp chân sơ, giản dị đáng trân trọng tự hào.
Khắc họa những hình ảnh mộc mạc, đơn sơ từ hiện thực, hình tượng thơ
vận động ngày càng gần với cuộc sống, bám sát cuộc sống trong cái đa dạng,
phong phú và cụ thể: Gửi lại quê hương/ Mái lều gianh/ Tiếng mõ đêm trường/
Luống cày đất đỏ/ Ít nhiều người vợ trẻ/Mòn chân bên cối gạo canh khuya (Nhớ
–Hồng Nguyên). Những tình cảm chân thật khó quên trên đường hành quân gian

cách mạng là một nền văn học của Đảng, của giai cấp công nhân. Do đó, nhiệm
vụ của văn học và thơ ca kháng chiến chống Mỹ phải phục vụ trực tiếp cho
nhiệm vụ cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội, giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ đã tạo ra một nền văn học
cách mạng thống nhất về nhiều phương diện có sự tập trung cao độ về đề tài, chủ
đề tư tưởng, về nhiệm vụ và cả về phương pháp sáng tác, sự thống nhất về cảm
hứng chủ đạo và âm hưởng chung. Văn học chống Mỹ cứu nước là một nền văn
học tự giác, phát triển theo những định hướng có tính chiến đấu, mang âm hưởng
lạc quan cách mạng, mang nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Có thể
nói rằng, văn học thời kỳ này đã đạt được nhiều thành tựu lớn, trong đó thơ
chống Mỹ là một nền thơ phát triển ở trình độ cao – phản ánh được tương đối

15
đầy đủ bức tranh toàn cảnh của một thời kỳ vẻ vang của dân tộc, nó vừa là
“người thư ký trung thành của thời đại” vừa để lại những ấn tượng sâu lắng,
những cảm xúc chan chứa mang tầm cao tư tưởng, có giá trị và sức sống lâu bền
với thời gian.
Tiếp nối văn học kháng chiến chống Pháp, văn học chống Mỹ hướng vào
sự ngợi ca các chiến công, kỳ tích anh hùng của người dân lao động. Chủ nghĩa
anh hùng cách mạng Việt Nam trong văn học giai đoạn này nói chung và thơ ca
nói riêng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các tác phẩm. Chủ nghĩa anh hùng
được phản ánh ngay ở chính những con người đang sống, chiến đấu cho một lý
tưởng xã hội cao cả, họ là những con người xuất phát từ quần chúng bình
thường, được quần chúng tin yêu, có tinh thần cách mạng tiến công, sẵn sàng hi
sinh cho đất nước - nó đã trở thành một điểm tựa, một niềm tin thiêng liêng đem
lại sức mạnh cho con người. Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ và thống nhất của Đảng,
thơ ca kháng chiến chống Mỹ có những bước chuyển mình phát triển tạo nên
một diện mạo mới trong văn học nước nhà.
Một đặc điểm đáng chú ý nhất của thơ ca thời chống Mỹ là sự mở rộng
của hình ảnh cái Ta, thu nhỏ cái Tôi trữ tình. Hình ảnh dân tộc, nhân dân, hình

không cố ý. Sự hòa quyện giữa nét chung và những nét riêng tạo được sự cân
xứng hài hòa, không xa lạ mà vô cùng gần gũi với cuộc sống, tình cảm con
người. Cái riêng ở trong cái chung, cái tôi ở trong cái ta, bởi tất cả những tâm tư,
tình cảm của con người đều hướng về lý tưởng chung. Cái chung, cái riêng, cái
bình thường, cái vĩ đại đều được thể hiện theo nguyên tắc điển hình hóa. Tư

17
tưởng, hành động của con người Việt Nam đang chiến đấu và sản xuất đều được
chọn lọc khát quát để mang tính chất tiêu biểu cho dân tộc, thời đại đồng thời
mang được tính riêng biệt, sinh động: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước chủ
nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ thể hiện ở một số người ưu tú nhất mà
đang trở thành nếp sống trong chiến đấu và lao động của hàng triệu quần chúng,
không chỉ nảy nở ở những mặt trận đấu tranh quyết liệt với quân thù mà đang mở
rộng toàn diện khắp mọi nơi Không chỉ bùng lên đột xuất trong những giờ phút
thử thách gay go nhất mà đang diễn ra thường xuyên, hàng ngày hằng giờ trong
quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, bền bỉ” (Phạm Văn Đồng - Nhân Dân 9/1/
1967). Như một xu thế tất yếu, sự vận động của hình tượng thơ từ cái tôi sang cái
ta có nghĩa là tư duy thơ chuyển từ hướng nội sang hướng ngoại - tạo nên một
nền thơ mang tính sử thi, đậm chất anh hùng ca, đây là một đặc điểm quan trọng
của thơ ca kháng chiến chống Mỹ.
Để phản ánh không khí hào hùng, kịp thời nắm bắt mọi sự kiện của đời
sống, thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình - là một vũ khí sắc bén trên mặt trận
văn hóa, hướng về hiện thực khách quan, các nhà thơ luôn hướng tới
hiện thực một cách chân thực, lịch sử và cụ thể. Mọi sự việc, hiện tượng, mọi
tâm sự, trăn trở của con người trong thơ đều xuất phát từ hiện thực cách mạnh.
Cái ta trong giai đoạn này không còn trừu tượng, siêu hình, xã hội là xã hội lịch
sử chứ không còn là cõi xa xăm, vô định. Những lời thơ cất lên đều xuất phát từ
hoạt động thực tiễn của quần chúng cách mạng, phản ánh mau lẹ mọi tình hình
của cuộc kháng chiến. Chính vì vậy, thơ Việt Nam giai đoạn này mở rộng đề tài,
bao quát mọi mặt chiến đấu, sản xuất của quân và dân ta. Tổ quốc, đất nước

19
phóng dân tộc – hình ảnh những cô giao liên, những người mẹ, người chị, người
vợ đang ngày đêm lao động, trở thành hậu phương vô cùng vững chắc cho những
người lính ở chiến trường chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược. Có thể nói
rằng dù phản ánh ở hoàn cảnh nào, đối tượng nào thì thơ ca chống Mỹ vẫn đạt
đến cái lạc quan, tin tưởng trong cái giọng điệu bình thản, vô tư:
Dù đạn bom man rợ thét gào
Dù thân thể mang nhiều thương tích
Dù cách xa hai ngả đường chiến dịch
Ta vẫn thường hái hoa tặng nhau.
(Cuộc đời vẫn đẹp sao - Dương Hương Ly).
Dù có khó khăn, gian khổ, có hi sinh mất mát, hình ảnh của những con
người ra đi và ở lại đều tràn ngập trong lòng niềm tin tất thắng vào sự nghiệp
giải phóng đất nước. Niềm lạc quan, âm hưởng khẳng định và ngợi ca, đồng thời
tố cáo tội ác của giặc là dòng chảy xuyên suốt trong thơ ca giai đoạn này.
Chất sống thực tế được đưa vào trong thơ cũng là một nét đặc trưng tiêu
biểu của thơ ca giai đoạn này. Cuộc sống ùa vào trong thơ, tăng thêm những chi
tiết thực tế cho thơ để thơ gần với cuộc sống hàng ngày, có sức phản ánh, ôm
chứa những điều thiết cốt của đời sống. Tuy nhiên không có nghĩa là thơ ca chỉ
mô tả, kể lể khô cứng. Mọi chi tiết sống đều được chọn lọc, bình giá, phải tạo
được rung động cho người đọc và phải được viết thông qua một trái tim nhiều
xúc cảm và xuất phát tự đáy lòng. Chính vì vậy, mà thơ ca giai đoạn này đã thể
hiện được năng lực khái quát hóa đưa đến tầm cao tư tưởng và chiều sâu ý nghĩa
triết học của vấn đề cần nói tới như: Qủa sấu non trên cao (Xuân Diệu), Ngọn
đèn đứng gác (Chính Hữu), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Nấm mộ và
cây trầm (Nguyễn Đức Mậu) Hiện thực hòa lẫn xúc cảm, thơ ca giai đoạn

20
chống Mỹ là sự kết hợp hài hòa giữa trữ tình và hùng tráng, vừa mô tả vừa biểu
hiện, vừa tự sự vừa trữ tình để lại nhiều dấu ấn trong lòng người đọc.

phải ghi nhanh, phải mô tả, ghi nhiều hình ảnh, sự việc, bao quát một hiện thực
rộng lớn phong phú, bộn bề, sôi động. Chính vì vậy mà xu hướng mở rộng dung
lượng phản ánh trong thơ là một yêu cầu tất yếu- số lượng thơ dài và trường ca
bắt đầu phát triển mạnh mẽ: Ba mươi năm đời ta có Đảng, Nước non ngàn dặm
(Tố Hữu), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm)
Thơ chống Mỹ là một giai đoạn phát triển khá rực rỡ của nền thơ cách
mạng hiện đại. Bên cạnh những hạn chế, thơ ca đã đạt được những thành công
nhất định, đánh dấu bước trưởng thành của văn học nói chung và của thơ kháng
chiến chống Mỹ nói riêng. Đó là một nền thơ có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng,
đồng thời là một nền thơ mang tính nhân dân, tính quần chúng, rộng rãi sâu sắc
nhất từ trước cho tới nay. Phản ánh được hiện thực chiến đấu, ca ngợi chủ nghĩa
anh hùng cách mạng Việt Nam.Thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử mà Đảng
và Nhà nước giao phó kêu gọi nhân dân hành động, đánh giặc, là tiếng nói tự
hào, kiêu hãnh của người Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Với
những thành tựu đã đạt được, thơ ca giai đoạn chống Mỹ có thể sánh với bất kỳ
một nền thơ phát triển nào của nhân loại, xứng đáng đứng ở vị trí tiên phong của
nền văn học chống đế quốc.
1.2.Cuộc đời và sự nghiệp của ba nhà thơ- chiến sĩ
1.2.1. Sự hình thành và phát triển đội ngũ sáng tác

22
Để văn học kháng chiến chống Mỹ trở thành một nền văn học cách mạng
toàn diện và thống nhất, trở thành một mặt trận văn hóa, là vũ khí sắc bén trong
cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta
trước những năm tháng chiến tranh nhiều khó khăn và thách thức này, đòi hỏi
bức thiết cần một đội ngũ văn nghệ sĩ có lập trường tư tưởng vững vàng, nắm bắt
kịp thời nhiệm vụ mà cách mạng và Đảng giao phó. Làm được điều này không
phải là điều dễ dàng, bởi văn học nói chung và thơ ca nói riêng là một mặt trận,
mặt trận chính trị, đấu tranh tư tưởng hết sức tinh vi trong điều kiện thời chiến.
Trong mặt trận ấy, người cầm bút là những chiến sĩ đấu tranh cho lý tưởng cộng

tộc, tiếng thơ nhân danh thời đại, nhân danh giai cấp, nhân danh cộng đồng để
nói lên khát vọng, tình cảm chung. Nhóm thứ hai này tạm gọi là những nhà cách
mạng làm thơ. Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể phận định rạch ròi hai bộ phận tác
giả này cũng như hai loại sáng tác trên nhưng có thể thấy rõ ràng phương thức
hoạt động là khác nhau. Một đằng nghệ thuật là toàn bộ cuộc đời. Một đằng thì
nghệ thuật là một công cụ tạm thời khi cần thiết thì dùng đến. Có thể thấy rằng,
nhóm thứ hai đóng vai trò quan trọng vì tiếng thơ của họ có tính chất lĩnh xướng,
tính chất hướng đạo cho cả một nền thơ cách mạng.
Sang giai đoạn chống Mỹ cứu nước, dòng văn học hiện đại Việt Nam ngày
càng phát triển rực rỡ hơn, trong đó có thơ ca. Chưa bao giờ trong lịch sử dân
tộc, chúng ta lại có một nền thơ mang tính chất quần chúng sâu sắc và toàn diện
như thơ ca chống Mỹ. Tất cả mọi người dân trên đất nước đều có thể làm thơ,
viết thơ miễn sao những tác phẩm đó có ích góp tiếng nói chung phục vụ cho

24
cách mạng, cho công cuộc giải phóng quê hương. Nếu chúng ta tạm thời chia
đội ngũ sáng tác thành những người chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp như
ở giai đoạn trước, thì ở giai đoạn này, hai nhóm tác giả này đã được mở rộng hơn
về lực lượng sáng tác. Trong đội ngũ chuyên nghiệp sáng tạo nghệ thuật, vẫn có
những nhà thơ mà cuộc đời và sự nghiệp của họ là cuộc đời của một thi nhân.
Cuộc sống của họ gắn với thơ ca, làm việc, kiếm sống và được trả lương để làm
công việc này.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ các nhà thơ đi theo
cách mạng, làm thơ phục vụ cho mục đích kháng chiến ngày một đông đảo,
ngoài thơ ca họ còn là những người chỉ đạo, lãnh đạo trên mặt trận văn nghệ và ở
cả mặt trận khác. Một số các nhà thơ này giữ vị trí cốt cán trong hàng ngũ của
Đảng và nhà nước ta lúc bấy giờ như Huy Cận đã từng giữ chức Bộ trưởng trong
chính phủ mới, số còn lại có người lên đường nhập ngũ, một số theo bộ đội trên
khắp các tiền tuyến để có thể cảm nhận được cuộc sống khốc liệt của chiến
tranh. Ta có thể thấy trong số những nhà thơ chuyên nghiệp này, khi đất nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status